Xu Hướng 2/2024 # Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Chiếc Nồi Cơm Điện Dàn Ý & 10 Bài Văn Hay Lớp 8 # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Chiếc Nồi Cơm Điện Dàn Ý & 10 Bài Văn Hay Lớp 8 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Krxx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Chiếc nồi cơm điện ra đời giúp chúng ta nấu những bữa cơm nóng hổi, thơm ngon nhanh chóng. Nồi cơm điện gồm thân nồi, mâm nhiệt và xoong. Vậy mời các em cùng theo dõi bài viết để hiểu rõ hơn về nguyên lý hoạt động, cách sử dụng của nồi cơm điện.

TOP 10 bài thuyết minh về chiếc nồi cơm điện

Dàn ý thuyết minh về chiếc nồi cơm điện

Thuyết minh nồi cơm điện ngắn gọn

Thuyết minh nồi cơm điện chi tiết (9 mẫu)

Dàn ý thuyết minh về chiếc nồi cơm điện

1. Mở bài

Giới thiệu chiếc nồi cơm điện: Một vật dụng không thể thiếu trong gia đình người Việt.

2. Thân bài

– Giới thiệu khái quát: Nồi cơm điện là một thiết bị gia dụng dùng để làm chín cơm, gồm một nguồn nhiệt, một nồi nấu, một thiết bị cảm ứng nhiệt và vỏ ngoài.

– Nguồn gốc xuất xứ của chiếc nồi cơm điện: Thời gian, địa điểm, ai sáng chế, ra mắt công chúng vào thời điểm nào, trải qua thời gian có những cải tiến gì so với chiếc nồi cơm điện ban đầu.

– Cấu tạo: Gồm phần vỏ, phần nhiệt, dây cắm điện và hệ thống điều khiển điện tử:

Dây dẫn được thiết kế nhỏ gọn, có thể rút gọn, vỏ làm bằng nhựa chuyên dụng, chịu được nhiệt độ cao.

Ruột nồi làm bằng gang hoặc kim loại bền, có những vạch đều nhau phân chia lượng nước.

Phía ngoài vỏ là bảng cảm ứng điện tử có các nút phù hợp với nhu cầu của người sử dụng như nấu, hấp… Có nồi cơm điện cơ thì chỉ có chức năng nấu cơm.

– Cách thức hoạt động:

Sau khi vo gạo và đổ lượng nước phù hợp, đặt phần lõi vào khoảng trống trong nồi, cắm dây điện và bấm nút nấu.

Cơm chín, nồi cơm sẽ có báo hiệu như tiếng kêu, bảng cảm ứng điện tử hiện màu báo hiệu đặc trưng và chuyển về chế độ ủ ấm.

– Vai trò:

Việt Nam là một nước nông nghiệp với lúa gạo là thành phần chính trong bữa cơm nên nồi cơm điện là vật dụng không thể thiếu trong mỗi gia đình.

Tùy thuộc vào nhu cầu và giá thành, nồi cơm điện có nhiều loại nhưng sẽ đáp ứng nhu cầu tối thiểu nhất. Ngoài ra, nồi cơm điện hiện đại được trang bị thêm chức năng làm bánh, hấp cách thủy…

– Bảo quản:

Lựa chọn nồi cơm điện vừa phải đúng nhu cầu sử dụng.

Lau vỏ nồi và ruột nồi thường xuyên, đặc biệt chú ý khu vực thoát hơi nước do dễ dính cặn bẩn.

Sau mỗi ngày đều rửa nồi gang sạch sẽ, hong khô. Trước khi cho nồi vào cắm điện phải lau sạch nước xung quanh để tránh cháy vỏ nồi.

3. Kết bài

Nồi cơm điện là một phần không thể thiếu trong căn bếp Việt.

Thuyết minh nồi cơm điện ngắn gọn

Trên thế giới, để phục vụ nhu cầu cho cuộc sống hằng ngày thì con người ta đã phát minh ra rất nhiều thứ từ bóng đèn, phích nước, bàn ủi hay các vật dụng, máy móc khác. Và một trong số đó phải kể đến là chiếc nồi cơm điện của chúng ta.

Nồi cơm điện là thuật ngữ nhen nhóm từ đầu thế kỷ 20. Khi ấy con người ta đã có ý định dùng điện để nấu chín thành cơm. Nhưng phải đến những năm 1940 thì mới có những nghiên cứu ban đầu để chế tạo ra nồi cơm điện. Đặc biệt là nghiên cứu từ công ty Mitsubishi đã sản xuất ra chiếc nồi cơm điện sơ khai đầu tiên. Khi đó, chiếc nồi được gắn thêm dây điện truyền nhiệt để tạo nhiệt làm chín gạo thành cơm. Nhưng thời này, chiếc nồi cơm điện có một hạn chế là phải theo dõi thường xuyên, nên lượng tiêu thụ cũng rất ít. Tiếp đến là công cuộc nghiên cứu và phát triển vào năm 1970 để cho ra được chiếc nồi cơm điện hoàn chỉnh như ngày nay.

Về cấu tạo cơ bản của một chiếc nồi cơm điện bao gồm thân nồi, mâm nhiệt và xoong. Thân nồi gồm ba lớp: lớp ngoài được gọi là vỏ nồi để bao bọc và bảo quản. Ngoài ra còn mang tính thẩm mĩ cho chiếc nồi. Màu sắc thì tùy vào từng thiết kế của nhà sản xuất, nhưng nhìn chung luôn có màu sắc đa dạng và bắt mắt. Lớp trong cùng là lớp tiếp xúc với xoong, cũng để tỏa nhiệt. Lớp thứ hai là lớp sứ cách nhiệt giúp nồi giữ nhiệt được lâu. Mâm nhiệt chính là bộ phận quan trọng nhất. Bởi nó sẽ giúp tạo nhiệt làm gạo chín thành cơm. Cách thiết kế là cứ một mâm sẽ có một rãnh truyền nhiệt để tạo nhiệt dưới đáy xoong. Đối với xoong thường được làm từ chất liệu nhẹ và chống dính. Hiện nay các nhà sản xuất rất lưu ý điểm này để cơm nấu lên chín đều và không bị cháy. Ngoài các bộ phận quan trọng như trên thì chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy nồi cơm điện còn có các bộ phận khác như điều khiển thông minh, nút ấn tự động… Đây là một số tính năng mà hiện nay các nhà sản xuất lưu ý và thiết kế thêm cho chiếc nồi thêm đa năng hơn.

Sau những cải tiến để có được chiếc nồi như bây giờ thì cách sử dụng của nó cũng khá đơn giản. Khi mua về, trước tiên hãy kiểm tra thật kĩ các bộ phận của nồi và hướng dẫn sử dụng kèm theo. Một số loại nồi cao cấp sẽ có thêm nhiều tính năng kèm theo như có thể làm bánh, nấu cháo, hầm xương ngoài chỉ nấu cơm như các nồi cơm điện thông thường khác. Vì vậy, các bạn phải đọc kĩ hướng dẫn để biết cách sử dụng chuẩn xác nhất. Trong suốt quá trình sử dụng, cần phải vệ sinh và lau chùi cẩn thận giúp nồi luôn sạch sẽ và không nhanh hỏng. Khi cho gạo vào nồi phải dàn đều và cho lượng nước phù hợp, thường thì các xoong đều có cốc nước để đong và có vạch chia. Khi cơm chín, nên mở nồi và xới đều tay để cơm chín đều và không bị nhão hay quá khô.

Như vậy chỉ với vài bước hết sức đơn giản, không tốn nhiều thời gian, chúng ta đã có một bữa cơm ngon. Thật không thể phủ nhận được tầm quan trọng cũng như sự hữu ích của chiếc nồi cơm điện phải không nào? Cho đến tận ngày nay, chiếc nồi cơm điện đã trở thành vật dụng không thể thiếu trong bếp của những bà nội trợ.

Thuyết minh nồi cơm điện chi tiết Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 1

Ý tưởng về việc dùng điện để nấu cơm lần đầu xuất hiện vào giai đoạn Âu hóa của thời kỳ Meiji. Cuối thời Taisho (giữa thập niên 1920), người ta đã bắt đầu sản xuất thử nghiệm bếp lò điện và nồi cơm điện. Cuối thập niên 1940, công ty điện tử Mitsubishi đã sản xuất ra một loại nồi cơm điện.

Thực chất, đó chỉ là một chiếc nồi có gắn thêm dây điện truyền nhiệt không có chức năng tự động. Nó chỉ đơn giản là một chiếc nồi nấu cơm nhờ sức nóng truyền từ dây điện thay vì nấu trên bếp củi hay bếp gas. Thiết bị này rất bất tiện, đòi hỏi người sử dụng phải chú ý theo dõi nó từ khi bật công tắc nấu cho đến khi cơm được nấu xong. Vậy nên, số lượng sản phẩm bán ra rất chậm.

Thay vì được xem là bước đi tiên phong cho chiếc nồi cơm điện hiện đại, nó lại bị xem như là dấu chấm hết cho lịch sử các thiết bị điện. Năm 1952, công ty điện tử Matsushita cũng đưa ra một sản phẩm cùng loại với Mitsubishi với kết quả tương tự. Sony cũng chẳng khá hơn.

Vào khoảng tháng 7/1951 với niềm tin rằng các thiết bị điện tử rồi sẽ trở thành một phần trong cuộc sống thường nhật ở Nhật Bản, công ty Toshiba quyết định tiếp tục với thử thách mà các nhà sản xuất hàng đầu như Mitsubishi và Matsush*ta đã thất bại: tạo ra một chiếc nồi cơm điện hoàn chỉnh. Dự án do Shogo Yamada, trưởng phòng phát triển thiết bị điện tử, điều hành.

Toshiba đã tiến hành những cuộc thử nghiệm với gạo và phát hiện ra rằng chỉ cần đun gạo trong 20 phút sau khi nó bắt đầu sôi thì sẽ có nồi cơm chín. Họ cũng nhận thấy rằng gạo bắt đầu chuyển sang dạng tinh bột ở nhiệt độ 57,80C. Ở nhiệt độ này, cần phải mất 15 đến 16 giờ để chuyển 1,5 kg gạo sang dạng tinh bột (cơm). Tiếp tục với các thí nghiệm tăng dần nhiệt độ, nhóm nghiên cứu nhận thấy nếu gạo chuyển sang dạng tinh bột ở 730C. Nó sẽ tiếp tục biến đổi ở nhiệt độ đó. Đây chính là nguyên tắc của chiếc nồi cơm điện cách nhiệt.

Họ tiếp tục đun gạo ở nhiệt độ 900C trong 20 phút, với nhiệt độ này gạo sẽ được chuyển hoàn toàn sang dạng tinh bột. Theo đó, thì trên lý thuyết chỉ cần nấu gạo ở nhiệt độ đó trong 20 phút hẹn giờ là có thể có cơm chín ngon.Vấn đề là làm thế nào để biết khi nào gạo thực sự bắt đầu sôi, và làm thế nào để có thể tắt nút sau đó đúng 20 phút. Giải pháp là một chiếc nồi hai lớp.

Với một cốc nước, nồi sẽ làm lượng nước này bốc hơi trong 20 phút. Khi nước bốc hơi, nhiệt độ nồi sẽ vượt 1000C. Một bộ ổn nhiệt lưỡng kim sẽ nhận biết và tự động tắt công tắc. Hơi nước đã được sử dụng như một bộ phận hẹn giờ, một ý tưởng hết sức đơn giản và độc đáo theo phong cách Nhật Bản.Tháng 10/1956, khoảng năm năm rưỡi sau khi dự án bắt đầu, 700 chiếc nồi cơm điện được đưa ra thị trường.

Các nhà phân phối đã từng biết đến thất bại trước đây của loại sản phẩm này nên họ tỏ ra hết sức e ngại.Trước tình hình đó, Toshiba đã tự tạo một hệ thống phân phối mới. Lúc đó, tình trạng sản xuất điện dư thừa đang đặt các công ty điện lực vào một tình thế khó khăn. Toshiba đã đề nghị Vonfram giúp làm nhà phân phối cho sản phẩm nồi cơm điện tự động và họ đã vui vẻ hợp tác.

Các nhân viên cùng với chiếc nồi cơm điện đã đi đến tận các hộ gia đình để giới thiệu và bán sản phẩm. Nhờ những nỗ lực như vậy, sản phẩm đã bắt đầu bán chạy. Một thời gian ngắn sau đó, công ty đã phải tăng sản lượng lên 200.000 chiếc một tháng. Bốn năm sau, nồi cơm điện đã có mặt ở 50% các gia đình Nhật Bản. Năm 1970, chiếc nồi cơm điện tiện dụng này đã có mặt trong nhà bếp của các bà nội trợ trên toàn thế giới.

Nồi cơm điện được cấu tạo bởi một bếp điện và các linh kiện điện tử tắt tự động. Cơm chín do sức nóng của mâm lửa đặt trong nồi. Vì vậy, nếu không chú ý bảo quản đúng cách, nồi dễ bị hỏng. Chọn mua nồi Khi mua, bạn yêu cầu nơi bán cắm điện để thử các bóng đèn (nấc đun, cạn cơm) để xem xét nồi hoạt động tốt hay không.

Yêu cầu mở vít đáy nồi, xem có chỗ nào rỉ sét không. Nhìn đáy nồi nếu thấy không còn bằng phẳng là đồ cũ. Nếu ưng bên trong thì tiếp tục xem bên ngoài có bị trầy xước không. Theo kinh nghiệm của nhiều bà nội trợ, nồi cơm điện Trung Quốc giá rẻ nhưng men chống dính kém bền, chỉ dùng vài ba lần đã bị tróc.

Sử dụng Phải lau khô mặt ngoài của nồi trước khi đặt vào vỏ để giữ sạch đĩa nhiệt và bộ cảm ứng nhiệt, đồng thời tránh tiếng kêu khi cấp nhiệt. Nồi có một lỗ thoát hơi ở trên vùng nên phải giữ cho lỗ thông thoáng, không bịt kín. Khi nấu, bạn không mở nắp. Khi cho gạo đã vo sạch vào nồi, nhớ dàn đều mặt gạo để cơm chín đều. Muốn cơm tơi khi nồi chuyển chế độ giữ ấm, hãy mở nắp nồi và xới nhanh, sau đó đậy lại.

Không nên để chế độ hâm cơm quá 12 giờ. Để lâu, cơm biến màu và kém thơm ngon. Khi vệ sinh nồi phải làm cả vỏ, lưu ý không dùng vật nháp cứng, dùng giẻ mềm. Ngâm nồi một chút trong chậu nước ấm rồi rửa, tránh cọ xát làm trầy xước lớp men chống dính. Dùng muỗng nhựa hoặc gỗ xúc cơm. Có thể dùng nồi cơm điện luộc rau, nấu canh nhưng không hầm thức ăn vì nồi sẽ mau hỏng. Không xào thức ăn bằng nồi cơm điện vì bộ phận kiểm soát sẽ ngắt mạch.

Nếu cơm sống, có thể mở đáy nồi, chỉnh ốc nhiệt độ cho 2 mặt công tắc điện sát nhau hơn. Nhưng nếu chỉnh quá sát 2 mặt công tắc điện, cơm sẽ bị khét. Có thể thử bằng cách cho một ít nước vào nồi, đun lên rồi điều chỉnh. Khi nước vừa cạn, hai mặt công tắc điện cũng vừa rời xa nhau.

Sửa chữa với loại nồi có dây điện trở quấn trên lõi mica (hình vành khăn tròn), khi dây điện đứt có thể nối, thay mới khá dễ. Loại nồi có dạng thanh điện trở, trong ống hợp kim và magie hỏng, đứt thì phải thay đáy mới. Nồi bị chạm điện, mát vỏ cần ngưng dùng. Nếu dây cháy hay vỡ công tắc nguồn thì phải thay mới. Nếu do ướt bị chạm thì có thể dùng máy sấy tóc làm khô dây hay chỗ bị ướt. Cầu chì bảo vệ nồi có thể bị cháy do phích cắm lỏng hoặc dây dẫn bị chập bên trong, cần kiểm tra kỹ để thay cái mới.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 2

Trong những đồ vật được con người phát minh mang lại tình hữu ích cho con người phải nhắc đến nồi cơm điện, chiếc nồi sử dụng điện giúp nấu cơm chín nhanh hơn, cơm ngon và không cần phải tốn thời gian theo dõi.

Từ thế kỷ XX con người đã có ý định dùng điện để nấu chín gạo. Vào những năm 1940, công ty Mitsubishi nghiên cứu và sản xuất ra nồi cơm điện sơ khai, chiếc nồi gắn thêm dây điện truyền nhiệt nhưng chưa có chức năng tự động như ngày nay. Chiếc nồi nhờ sức nóng truyền từ dây điện để nấu chín gạo trong nồi. Với thời kì sơ khai này chiếc nồi cơm điện phải tốn thời gian theo dõi vì vậy việc tiêu thụ rất chậm chạp.

Sau thời gian nghiên cứu và phát triển thêm chiếc nồi cơm điện hoàn chỉnh vào năm 1970 và đến tận tay những bà nội trợ trên toàn thế giới. Đây chính là sự nghiên cứu và thành quả của người Nhật Bản, có thể khẳng định nguồn gốc nồi cơm điện từ đất nước Nhật Bản.

Cấu tạo của nồi cơm điện ngày nay chủ yếu gồm các bộ phận: Thân nồi nằm bên ngoài cùng có tác dụng bảo vệ xong tránh bị va đập và giúp giữ nhiệt. Thân nồi được làm từ ba lớp, lớp trong cùng tiếp xúc với xoong tỏa nhiệt, lớp thứ hai là lớp sứ cách nhiệt giữ nhiệt cho nồi giúp nhiệt độ được duy trì ổn định. Lớp ngoài cùng vỏ nồi tạo tính thẩm mỹ cho chiếc nồi cơm điện. Mâm nhiệt là bộ phận rất quan trọng giúp tạo nhiệt độ khi nấu. Một mâm có các rãnh truyền nhiệt tạo nhiệt cho đáy xoong khi nấu. Xoong thường làm từ chất liệu nhẹ, chống dính giúp nấu cơm ngon hơn. Nồi cơm điện ngoài ba bộ phận chính trên còn có các bộ phận tinh vi khác như bộ điều khiển thông minh, điều khiển đồng bộ hệ thống…đều là các chức năng tự động khi cơm chín.

Khi mua nồi cơm điện chọn lựa rất quan trọng, trước tiên thu các công tắc bật mở, kiểm tra bên ngoài có rỉ sét hoặc bị trầy xước. Tốt nhất người dùng nên dùng những chiếc nồi cơm xuất xứ từ Nhật Bản sẽ đảm bảo độ an toàn và bền khi sử dụng trong nhiều năm. Với các chiếc nồi cơm điện Trung Quốc giá thành rẻ nhưng nhanh hỏng và tốn kém khi mua mới. Người tiêu dùng cũng có thể mua những chiếc nồi cơm điện xuất xứ từ Việt Nam giá thành rẻ và bền.

Một trong các yếu tố giúp sử dụng nồi cơm điện dài lâu đó là sử dụng đúng cách. Sau khi vo gạo xong nên lau sạch nước bám trên thành xoong và cả dưới đáy xoong, khi nấu chú ý lỗ thông khí trên cùng phải giữ cho thoáng khí. Lúc vo gạo phải dàn trải đều khi nấu cơm chín mới ngon, trong khi nấu không nên mở nắp nhiều. Khi cơm chín nhớ mở nắp và xới đều rồi đậy nắp lại. Sau một đến hai tháng sử dụng, người dùng nên vệ sinh định kỳ để đảm bảo nồi cơm điện hoạt động hiệu quả và sử dụng lâu dài. Cần vệ sinh ngâm vào nước ấm, chà rửa xoong nên dùng giẻ mềm lau nhẹ nhàng, không dùng vật cứng làm trầy lớp men bên trong.

Nồi cơm điện là một phát minh hữu ích của người Nhật Bản đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều gia đình giúp tiết kiệm thời gian và công sức rất lớn cho những người nội trợ.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 3

Trong thời đại hiện nay thì với cuộc sống bận rộn dường như mọi phụ nữ hay cả khi đàn ông ông vào bếp thì họ phần lớn đều không thích cảnh nấu cơm bằng củi hay ga nữa vì sẽ rất lâu và khó mà có nồi cơm ngon được. Cơm điện được dùng qua hiện tượng tỏa nhiệt của lò xo gắn ở trong nó nhờ làm nóng bởi nguồn điện nhờ vậy mà cơm có thể chín đều và ngon.

Nồi cơm điện thường được làm bằng gang, thiếp, inox… Nó gồm có hai phần chính là vỏ nồi và ruột nồi. Vỏ nồi thường được phủ nhựa để cách nhiệt, gồm có bộ phận điều khiển, ổ cắm điện, nắp nồi. Ruột nồi bên trong có một lò xo được cấu tạo rất đặc biệt, được làm để chịu lực và truyền nhiệt tốt, thành nồi được mạ kim loại để làm ấm đều xoong.

Khi sử dụng, ta chỉ cần đặt nhẹ xoong vào nồi, đậy nắp lại, găm phích điện rồi nhấn nút Cook trên bộ phận điều khiển là đã có thể sử dụng được. Một chiếc nồi cơm điện vừa nhỏ gọn, rất dễ đem theo đi xa cho những bữa picnic. Ngoài công dụng nấu cơm, nồi cơm điện còn có thể nấu cháo, luộc khoai… Thao tác sử dụng đơn giản, vừa tiết kiệm thời gian công sức. Muốn giữ nồi cơm điện bền thì không được tác dụng lực mạnh lên nồi cơm điện vì sẽ dễ làm móp méo, nên biết sử dụng đúng cách để đảm bảo độ bền của nồi cơm…

Hiện nay nồi cơm điện hiện đang là một vận dụng không thể thiếu, đối với hầu hết người tiêu dùng Việt từ nông thôn đến thành thị. Chính vì vậy mà nhu cầu tìm được một sản phẩm vừa túi tiền và có chất lượng luôn được đặt ra.

Theo tìm hiểu trên thị trường, nồi cơm điện có rất nhiều loại, những loại nồi thông dụng dùng trong gia đình thường có dung tích từ 0,6 đến 1,8 lít và được phân làm hai loại là nồi cơm điện cơ và nồi cơm điện tử, với giá khoảng từ bốn trăm nghìn đến một triệu đồng. Vì vậy, khi mua nồi cơm điện người tiêu dùng nên chú ý dung tích của nồi, để phụ thuộc vào số người trong gia đình. Ví dụ như một người ăn thì nên chọn 0,6 lít, 2 – 4 người nên chọn dung lượng nồi là 1,2 lít…

Đặc biệt đối với nồi cơm điện cơ loại nồi có rơ le tự ngắt, xuất hiện trên thị trường từ khá lâu, hoạt động dựa trên nguyên lý cơ học, khi nhiệt độ đạt đến mức nhiệt nhất định khoảng 102 độ C thì rơ le này sẽ tự ngắt và chuyển sang chức năng giữ ấm. Loại nồi này chỉ có hai chức năng: nấu chín và giữ ấm thông thường. Các loại nồi cơm điện cơ phổ biến và được nhiều người tiêu dùng lựa chọn, là các loại Panasonic, Sharp, Cuckoo….

Còn đối với nồi điện tử là loại nồi dành cho những gia đình thích hình thức đẹp và có nhiều tính năng. Bởi vì nồi cơm điện này được thiết kế với kỹ thuật khá cao, có khả năng tự điều chỉnh các chức năng nấu khác nhau, nhờ một chip điện tử đã được cài đặt sẵn các chương trình nấu nướng, hầm canh…. Với đặc thù là một nồi có nhiều tính năng hiện đại, nên loại nồi này thường có giá đắt hơn khoảng trên một triệu đồng/cái. Những loại nồi cơm điện tử phổ biến hiện nay và được nhiều người lựa chọn dùng là Tiger, Panasonic, Fuji xuất xứ Nhật…

Với những tính năng và phân tích như trên, người tiêu dùng có thể lựa chọn những sản phẩm phù hợp với sở thích và nhu cầu của từng gia đình. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của các chủ kinh doanh thì loại nồi phổ biến mà người tiêu dùng hay lựa chọn đó là nồi cơm điện cơ. Bởi giá cả phải chăng, đơn giản, có thể dùng tự động và độ bền cao, phù hợp với những gia đình có kinh tế trung bình. Riêng đối với những gia đình khá giả hơn, thích nhiều tính năng và công dụng khác nhau thì có thể dùng nồi cơm điện tử. Mẫu mã khá đa dạng và bắt mắt, tuy nhiên độ bền không được cao như nồi cơm điện cơ. Ngoài ra, thì người tiêu dùng cần lưu ý không nên chọn những loại nồi cơm quá rẻ, nhãn hiệu và xuất xứ không rõ ràng. Nguyên nhân là do những loại nồi này thường có lớp cách nhiệt rất kém, tiếp xúc giữa mâm nhiệt và đáy xoong không đều, hay nắp nồi không kín sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cơm. Đặc biệt, thời gian sử dụng không được bền.

Nhắc tới nồi cơm điện thì hầu hết đã quá quen thuộc đối với chúng ta. Chính bởi công dụng tuyệt vời của nó cũng như sự tiện lợi cũng như hiệu quả trong đời sống của con người.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 4

Thật dễ có thể nhận thấy được rằng chính trong những đồ vật được con người phát minh mang lại tình hữu ích cho con người phải nhắc đến nồi cơm điện. Không thể phủ nhận được rằng, chiếc nồi sử dụng điện giúp nấu cơm chín nhanh hơn, cơm ngon và không cần phải tốn thời gian theo dõi như chúng ta nấu những các bếp khác.

Theo tài liệu ghi lại thì ta biết được từ thế kỷ XX con người đã có ý định dùng điện để nấu chín gạo, tức là vào giai đoạn Âu hóa. Và ta như thấy được chính vào những năm 1940, thì lúc này ta như thấy được công ty Mitsubishi nghiên cứu và sản xuất ra nồi cơm điện sơ khai.

Và lúc này đây thì ta như thấy được chính chiếc nồi gắn thêm dây điện truyền nhiệt nhưng chưa có chức năng tự động như ngày nay. Chiếc nồi lúc này cũng như đã nhờ sức nóng truyền từ dây điện để nấu chín gạo trong nồi. Đặc biệt ta như thấy được, chính với thời kì sơ khai này chiếc nồi cơm điện phải tốn thời gian theo dõi vì vậy việc tiêu thụ rất chậm chạp biết bao nhiêu.

Thế rồi, trải qua một thời gian nghiên cứu và phát triển thêm chiếc nồi cơm điện hoàn chỉnh vào năm 1970. Chiếc nồi đầu tiên được hoàn chỉnh nó dường như cũng đã đến tận tay những bà nội trợ trên toàn thế giới. Có thể công nhận được đây chính là một sự nghiên cứu và thành quả đáng tự hào của người Nhật Bản. Thông qua đây ta cũng như đã có thể khẳng định nguồn gốc nồi cơm điện từ đất nước Nhật Bản.

Cấu tạo của nồi cơm điện mà chúng ta ngày nay chủ yếu gồm các bộ phận đó chính là thân nồi. Thân nồi thì ở bên ngoài cùng có tác dụng bảo vệ xong tránh bị va đập và giúp giữ nhiệt. Và cũng dễ nhận thấy được thân nồi được làm từ ba lớp, lớp trong cùng tiếp xúc với xoong nó dường như cũng đã được tỏa nhiệt, thế rồi ta như thấy được chính với lớp thứ hai là lớp sứ cách nhiệt giữ nhiệt cho nồi giúp nhiệt độ được duy trì ổn định. Thêm một lớp nữa đó chính là ở lớp ngoài cùng vỏ nồi tạo tính thẩm mỹ cho chiếc nồi cơm điện như chúng ta dùng như hiện nay.

Mâm nhiệt cũng được đánh giá chính bộ phận rất quan trọng giúp tạo nhiệt độ khi nấu. Dễ nhận thấy được cứ một mâm có các rãnh truyền nhiệt tạo nhiệt cho đáy xoong khi nấu. Còn đối với bộ phận xoong thường làm từ chất liệu nhẹ, chống dính giúp nấu cơm ngon hơn không bị cháy.

Nhận thấy được một chiếc nồi cơm điện ngoài ba bộ phận chính trên còn có các bộ phận tinh vi khác như bộ điều khiển thông minh, và lại còn có bộ điều khiển đồng bộ hệ thống… đều là các chức năng tự động khi cơm chín giúp người dùng tiết kiệm thời gian và công sức.

Việc lựa chọn được một chiếc nồi cơm điện phù hợp vô cùng quan trọng. Bước đầu tiên đó chính là kiểm tra và thử các công tắc bật mở, kiểm tra bên ngoài có rỉ sét hoặc bị trầy xước. Lời khuyên tốt nhất cho người dùng nên dùng những chiếc nồi cơm xuất xứ từ Nhật Bản sẽ đảm bảo độ an toàn và bền khi sử dụng trong nhiều năm.

Khi muốn nồi cơm điện bền, cần sử dụng đúng cách. Sau khi vo gạo xong nên lau sạch nước bám trên thành xoong và cả dưới đáy xoong. Đồng thời cần phải chú ý mực nước khi nấu cơm. Đặc biệt hơn bạn cũng phải nhớ đó chính là khi vo gạo phải dàn trải đều khi nấu cơm chín mới ngon và dẻo được. Còn trong khi nấu không nên mở nắp nhiều. Khi cơm chín nhớ mở nắp và xới đều rồi đậy nắp lại.

Tóm lại, ta như thấy được chính chiếc nồi cơm điện là một phát minh hữu ích của người Nhật Bản. Và nó dường như cũng đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều gia đình giúp tiết kiệm thời gian và công sức rất lớn cho những người nội trợ chúng ta hiện nay.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 5

Với truyền thống là nghề nông nghiệp trồng lúa nước, từ lâu cơm đã trở thành một phần không thể thiếu trong bữa ăn chính của người Việt. Chính vì vậy, nồi cơm điện là một thiết bị gia dụng quan trọng trong gia đình, giúp cả nhà có một bữa cơm ngon, nhanh gọn và tiện lợi.

Nồi cơm điện ra đời cùng sự phát triển của công nghệ hiện đại nên vào những năm 1940 công ty Mitsubishi tại Nhật Bản đã nghiên cứu và sản xuất ra loại nồi cơm điện sơ khai. Sau đó, trải qua một thời gian nghiên cứu và phát triển, nồi cơm điện đã được hoàn thành vào năm 1970.

Có thể thấy nhờ có sự ra đời nồi cơm điện đã thay thế cho các loại nồi nấu bằng bếp than, bếp củi… vừa tốn nhiều thời gian lại dễ bị bụi bẩn trước kia. Cũng từ đây, khi đến được tay người tiêu dùng, những người nội trợ cũng đã tiết kiệm được rất nhiều thời gian, công sức cho việc nấu cơm.

Nồi cơm điện được thiết kế rất gọn gàng, phù hợp với không gian bếp của mỗi gia đình. Nó có một dây dẫn nguồn nhiệt, vỏ chứa, ruột nồi nấu và thiết bị cảm ứng. Phần vỏ được làm từ nhựa cứng chịu được sức nóng tốt, có nắp đậy phía trên, bên dưới có nút điều khiển và đèn báo hiệu cơm đang nấu hoặc đã chín. Xung quanh vỏ nồi còn được phủ một lớp sơn để trang trí cho nồi thêm đẹp mắt.

Vì vậy có rất nhiều loại nồi được trang trí khác nhau phù hợp với sở thích của người tiêu dùng. Ruột nồi là nơi chứa gạo, thường được làm từ kim loại. Ngày nay người ta đã cải tiến phần ruột có khả năng chống dính cao, dễ dàng tách rời phần ruột để tiện cho người dùng khi đổ gạo vào bên trong cũng như vệ sinh nồi. Ngoài ra, bên trong ruột nồi còn có khắc nổi những vạch chia đo gạo và nước để giúp chúng ta nấu cơm ngon hơn với lượng nước và gạo vừa đủ.

Là một thiết bị gia dụng phổ biến, nồi cơm điện rất dễ sử dụng. Chúng ta chỉ cần đổ nước sạch và gạo vào bên trong của ruột nồi sau đó đậy nắp, bấm nấc cảm nhiệt về vị trí ban đầu là có được một nồi cơm ngon chỉ sau khoảng 20 phút. Khi nồi cơm điện hoạt động, nhờ có dây dẫn nhiệt hỗn hợp gạo và nước sẽ được làm nóng dần, đến khi nhiệt độ đạt 100 độ C, nước sẽ chuyển sang dạng hơi nóng nên nồi cơm cũng chuyển theo sang chế độ hâm nóng để giữ nồi cơm chín ở nhiệt độ an toàn.

Để giữ cho nồi cơm được bền, người sử dụng cũng cần biết cách để bảo vệ nồi. Chúng ta nên thường xuyên vệ sinh nồi sau mỗi lần nấu cơm và trước khi nấu cơm cần lau khô đáy của ruột nồi rồi mới cho vào. Khi nấu chúng ta không nên mở nắp nồi quá nhiều cũng như để nồi ủ lâu quá mười hai tiếng đồng hồ. Đặc biệt không được để nồi gần các vị trí gần lửa dễ gây cháy nổ.

Hiện nay, có rất nhiều loại nồi cơm điện khác nhau không chỉ đa dạng về mẫu mã, hình dáng, kích thước mà còn đa dạng cả về chức năng. Ngoài chức năng nấu cơm nồi cơm điện còn tích hợp được cả chức năng hầm các món ăn, nấu cháo, nấu chè… rất tiện lợi, đáp ứng được nhu cầu hằng ngày của con người.

Có thể nói, nồi cơm điện đã trở thành người bạn thân thiết không thể thiếu trong mỗi căn bếp của gia đình Việt. Chúng ta không thể phủ nhận được những tiện ích mà nồi cơm điện đã đem đến. Chính vì vậy, chiếc nồi cơm điện đã và đang được sử dụng vô cùng rộng rãi không chỉ ở Việt Nam mà còn trên khắp cả thế giới.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 6

Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển, con người đã phát minh ra nhiều sản phẩm tiện ích. Một vật dụng không thể thiếu trong căn bếp của người Việt nói riêng và người châu Á nói chung là chiếc nồi cơm điện.

Nồi cơm điện là một thiết bị gia dụng tự động dùng để làm chín cơm, một chiếc nồi cơm điện bao gồm một nguồn nhiệt, một nồi nấu, một thiết bị cảm ứng nhiệt và vỏ ngoài. Ngoài ra nó còn được trang bị thêm các chức năng và công dụng khác như cảm biến nhiệt, hấp, nướng không dầu…

Chiếc nồi cơm điện đầu tiên trên thế giới có nguồn gốc từ Nhật Bản, một quốc gia nổi tiếng với ngành công nghiệp điện tử rất phát triển và chất lượng cuộc sống của người dân rất cao. Xuất hiện trước công chúng lần đầu vào năm 1925, hơn hai thập kỷ sau, nồi cơm điện được cải tiến thành loại nồi nấu chín bằng hơi, hoạt động giống chức năng của nồi áp suất. Đến năm 1956, công ty đồ điện tử Toshiba đã cho ra mắt loại nồi cơm điện có thể tự động ngắt nguồn điện khi cơm chín để chuyển sang chế độ hâm nóng, khắc phục toàn bộ các khuyết điểm. Kể từ đó đến nay, nồi cơm điện ngày càng được hoàn thiện về kiểu dáng, kích thước, màu sắc sao cho phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng.

Xét về mặt cấu tạo, một chiếc nồi cơm điện hoàn chỉnh gồm phần vỏ, phần nhiệt, dây cắm điện và hệ thống điều khiển điện tử. Dây dẫn được thiết kế nhỏ gọn, có thể rút gọn hoặc tháo rời. Vỏ được làm bằng nhựa chuyên dụng, chịu được nhiệt độ cao và va đập mạnh. Ruột nồi làm bằng gang hoặc kim loại bền, có những vạch đều nhau phân chia lượng nước tương ứng với số lượng gạo. Phía ngoài vỏ là bảng cảm ứng điện tử có các nút phù hợp với nhu cầu của người sử dụng như nấu, hấp… Nồi cơm điện cơ thì chỉ có chức năng nấu cơm với một nút bấm duy nhất.

Nguyên lý hoạt động của một chiếc nồi cơm điện phụ thuộc vào lượng nhiệt dùng năng lượng điện truyền dẫn. Sau khi vo gạo và đổ lượng nước phù hợp, ta đặt phần lõi vào khoảng trống trong nồi, cắm dây điện và bấm nút nấu. Gạo và nước được đun sôi nhờ nhiệt điện, nước sẽ sôi và làm mềm hạt gạo, đồng thời hơi nước được nồi cơm giữ lại, áp suất ngược lại khiến hạt gạo chín đều cả trên và dưới.

Việt Nam là một nước thuần nông nghiệp. Cơm là một “món ăn” chính không thể thiếu trong cuộc sống. Chính vì vậy, việc có một chiếc nồi cơm điện trong nhà là vô cùng cần thiết. Trên thị trường ngày nay, nồi cơm điện có rất nhiều loại. Mỗi loại đều có ưu nhược điểm riêng. Chính vì vậy khi lựa chọn, mỗi người cần dựa vào nhu cầu của gia đình mình. Ngoài ra, nồi cơm điện hiện đại được trang bị thêm chức năng làm bánh, hấp cách thủy…

Bảo quản nồi cơm điện đúng cách là phương pháp giữ nồi sử dụng được lâu, bền đẹp. Khi mua nồi cơm điện, cần lựa chọn những nhãn hiệu uy tín, có thâm niên trong ngành đồ gia dụng. Chọn loại nồi kín nắp, chắc chắn, chất liệu bên bỉ, bên ngoài không bị móp, méo, trầy xước, ruột nồi không bị tróc hay vỡ nứt. Lựa chọn nồi cơm điện vừa phải đúng nhu cầu sử dụng, không mua nồi quá to hay quá bé so với diện tích căn bếp. Lau vỏ nồi và ruột nồi thường xuyên, đặc biệt chú ý khu vực thoát hơi nước do dễ dính cặn bẩn. Sau mỗi ngày đều rửa nồi gang sạch sẽ, hong khô. Trước khi cho nồi vào cắm điện phải lau sạch nước xung quanh ruột để tránh cháy.

Chiếc nồi cơm điện ở hiện tại đã có thêm rất nhiều chức năng. Chất lượng của nồi cũng được nâng cao. Một chiếc nồi cơm điện tốt sẽ sử dụng được rất lâu, vì vậy, nên lựa chọn một chiếc nồi chất lượng với giá thành phù hợp, thay vì tiếc tiền mua một chiếc tạm bợ, kém an toàn.

Như vậy, nồi cơm điện đã trở thành vật dụng vô cùng quan trọng trong cuộc sống của con người, đặc biệt là ở Việt Nam.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 7

Khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, nhiều phát minh được con người tạo ra nhằm phục vụ các nhu cầu trong cuộc sống. Một trong số đó phải kể đến chiếc nồi cơm điện.

Nồi cơm điện được hiểu đơn giản là một thiết bị gia dụng tự động, được thiết kế để nấu cơm bằng cách hấp hơi gạo. Nồi cơm điện có nguồn gốc từ đất nước Nhật Bản. Ý tưởng ban đầu dùng điện để nấu cơm xuất hiện lần đầu tiên vào những năm giữa thập niên 1920. Khoảng 20 năm sau, một công ty điện tử cho ra đời thành công loại nồi cơm điện làm chín cơm nhờ chuyển năng lượng điện thành năng lượng hơi. Nhưng, vấn đề nằm ở chỗ, chiếc nồi này yêu cầu người dùng phải chú ý theo dõi từ khi bật công tắc nấu cho đến lúc cơm được nấu xong – đây chính là nhược điểm lớn nhất của chiếc nồi cơm điện này. Đến năm 1956, công ty Toshiba của Nhật Bản đã cải tiến và khắc phục nhược điểm rồi từ đó cho ra đời một sản phẩm hợp lý hơn.

Cấu tạo của một chiếc nồi cơm điện gồm có: gồm dây dẫn nguồn nhiệt, vỏ chứa, ruột nồi nấu và thiết bị cảm ứng nhiệt. Dây dẫn dùng để dẫn điện từ nguồn vào nồi. Vỏ nồi cơm điện thường làm bằng nhựa chịu sức nóng tốt, thường có nắp để đậy lại. Trên nắp nồi có một lỗ nhỏ để thoát hơi ra ngoài. Ruột nồi nằm bên trong, thường làm từ kim loại bền, chống dính cao. Trên ruột có các mức nước được kẻ thành vạch, dựa vào đó mà chọn lượng nước phù hợp với gạo để cơm ngon hơn. Thiết bị cảm ứng là thiết bị điện tử, đo nhiệt độ của nồi và kiểm soát nhiệt lượng, báo hiệu tình trạng nồi cơm. Ngoài ra, một chiếc nồi cơm điện hoàn chỉnh sẽ còn có nhiều phụ kiện khác. Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu sử dụng của con người cũng thay đổi. Nhiều chiếc nồi cơm điện được sản xuất không chỉ nấu cơm. Mà nó còn phục vụ với nhiều mục đích khác.

Nguyên lý họa động của một chiếc nồi cơm điện như sau: Để nấu cơm, cho gạo và nước sạch vào ruột nồi trước, chọn nấc cảm ứng nhiệt về vị trí nấu. Trong thời gian nấu, nước và gạo được làm nóng với toàn bộ công suất nhờ một dây dẫn điện tạo ra. Khi đạt đến nhiệt độ 100 °C, nước sẽ chuyển từ lỏng sang dạng hơi, thoát ra theo lỗ thông của vỏ nồi. Nhiệt độ cao tạo ra sẽ nấu chín gạo, đèn báo chuyển chế độ thì kết thúc nấu. Thông thường, sau đó nồi cơm điện sẽ chuyển sang chế độ “hâm nóng” để tiết kiệm năng lượng, giữ cơm đã chín ở nhiệt độ an toàn, tự động ngắt nguồn điện.

Advertisement

Cuộc sống hằng ngày của con người cần bổ sung một lượng tinh bột cần thiết có từ cơm. Vậy nên, trong bất cứ một gia đình nào, chiếc nồi cơm điện đã trở thành một vật dụng không thể thiếu. Nhờ có chiếc nồi cơm điện mà con người đã tiết kiệm thời gian, công sức hơn rất nhiều trong công việc nội trợ so với trước đây.

Trên thị trường hiện nay, nồi cơm điểm có rất nhiều mẫu mã. Một số hãng nồi cơm điện phổ biến ở Việt Nam như: Sunhouse, Sharp, Happycook, Hitachi, Toshiba, Kangaroo… Khi sử dụng nồi cơm điện, chúng ta cần lưu ý thường xuyên lau chùi, giữ cho lỗ thông hơi trên vỏ sạch sẽ, thoáng. Không mở nắp quá nhiều khi nồi đang nấu để tiết kiệm điện. Cũng không nên để cơm chín quá 12 giờ mà không dùng, không rút điện gây hại cho nguồn điện…

Nồi cơm điện có một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của con người. Trong tương lai, dù cuộc sống có ngày càng trở nên hiện đại, nhưng nó vẫn là một vật dụng quan trọng của con người.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 8

Khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, cuộc sống của con người cũng ngày càng hiện đại hơn. Với sự bao phủ của các thiết bị điện tử thông minh, đời sống được cải thiện bởi những phát minh mới. Một trong những phát minh hữu ích cho đời sống sinh hoạt là chiếc nồi cơm điện.

Nồi cơm điện đến với loài người từ đất nước công nghệ phát triển vượt bậc – Nhật Bản. Ý tưởng về việc dùng điện để nấu cơm xuất hiện lần đầu tiên vào những năm giữa thập niên 1920. Khoảng 20 năm sau, một công ty điện tử cho ra đời thành công loại nồi cơm điện làm chín cơm nhờ chuyển năng lượng điện thành năng lượng hơi. Tuy nhiên, chiếc nồi này yêu cầu người dùng phải chú ý theo dõi từ khi bật công tắc nấu cho đến lúc cơm được nấu xong, khá bất tiện. Năm 1956, công ty Toshiba (Nhật Bản) cải tiến và khắc phục nhược điểm đó, cho ra đời một chiếc nồi thuận tiện sử dụng hơn. Theo đó, hơn bảy trăm chiếc nồi cơm điện được đưa ra thị trường và có mặt trong nhà bếp của các bà nội trợ trên toàn thế giới.

Nồi cơm điện bao gồm dây dẫn nguồn nhiệt, vỏ chứa, ruột nồi nấu và thiết bị cảm ứng nhiệt. Dây dẫn dùng để dẫn điện từ nguồn vào nồi. Vỏ nồi cơm điện thường làm bằng nhựa chịu sức nóng tốt, thường có nắp để đậy lại. Trên nắp nồi có một lỗ nhỏ để thoát hơi ra ngoài. Ruột nồi nằm bên trong, thường làm từ kim loại bền, chống dính cao. Trên ruột có các mức nước được kẻ thành vạch, dựa vào đó mà chọn lượng nước phù hợp với gạo để cơm ngon hơn. Thiết bị cảm ứng là thiết bị điện tử, đo nhiệt độ của nồi và kiểm soát nhiệt lượng, báo hiệu tình trạng nồi cơm. Một chiếc nồi hoàn chỉnh sẽ có thêm nhiều phụ kiện khác.

Theo sự phát triển và nhu cầu của từng thời đại mà nồi cơm điện lại được thiết kế theo kiểu mã, chức năng khác nhau. Hiện nay, nhiều loại nồi cơm điện phức tạp được phát minh có nhiều cảm biến hơn và đa chức năng hơn. Những chiếc nồi đơn giản thì có nút bật, chỉ để nấu cơm. Hiện đại hơn, sẽ có cả bảng chức năng cảm ứng, muốn dùng chức năng nào thì chọn nút đó.

Nguyên lý hoạt động của nồi cơm điện khá đơn giản. Để nấu cơm, cho gạo và nước sạch vào ruột nồi trước, chọn nấc cảm ứng nhiệt về vị trí nấu. Trong thời gian nấu, nước và gạo được làm nóng với toàn bộ công suất nhờ một dây dẫn điện tạo ra. Khi đạt đến nhiệt độ 100 °C, nước sẽ chuyển từ lỏng sang dạng hơi, thoát ra theo lỗ thông của vỏ nồi. Nhiệt độ cao tạo ra sẽ nấu chín gạo, đèn báo chuyển chế độ thì kết thúc nấu. Thông thường, sau đó nồi cơm điện sẽ chuyển sang chế độ “hâm nóng” để tiết kiệm năng lượng, giữ cơm đã chín ở nhiệt độ an toàn, tự động ngắt nguồn điện.

Nồi cơm điện đã trở thành vật dụng quen thuộc không thế thiếu trong mỗi gia đình. Nó giúp chúng ta tiết kiệm thời gian đun nấu mà lại có những bát cơm dẻo ngon. Không những thế, nồi cơm điện còn có nhiều chức năng như hấp, nấu cháo, làm bánh, hầm… Chỉ với một chiếc nồi, chúng ta có thể làm bất cứ món gì mình muốn. Nó giống như cầu nối gắn kết cả gia đình với những bữa cơm đầm ấm sum họp.

Trong quá trình sử dụng, cần biết cách để giữ cho nồi bền. Ngay khi đi chọn mua, bạn nên cắm điện thử ngay tại nơi bán, kiểm tra các nút nấu có hoạt động chính xác hay không. Kiểm tra cả trong lẫn ngoài đảm báo nồi không bị trầy xước bên ngoài và ruột men bên trong tráng chống dính không bị bong tróc. Trước khi cho ruột vào nấu, nên lau khô mặt ngoài của ruột nồi. Thường xuyên lau chùi, giữ cho lỗ thông hơi trên vỏ sạch sẽ, thoáng. Không mở nắp quá nhiều khi nồi đang nấu để tiết kiệm điện. Ngoài ra, không nên để cơm chín quá 12 giờ mà không dùng, không rút điện gây hại cho nguồn điện. Thường xuyên lau chùi vỏ nồi và vệ sinh ruột nồi đúng cách để bảo vệ lớp men chống dính. Sử dụng đúng chức năng có ở nồi. Nếu nồi chỉ dùng để nấu cơm, không xào nấu để giữ tuổi thọ của nồi. Chiếc nồi cơm điện có sử dụng tốt được lâu hay không là nhờ vào cách bảo quản của người dùng.

Với sự phát triển tốc độ của kỹ thuật số, giống như nhiều thiết bị, vật dụng khác, nồi cơm điện cũng được cải tiến từng ngày. Nồi cơm điện đi vào đời sống sinh hoạt, có mặt ở khắp thế giới và trở thành một phần trong cuộc sống của con người.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 9

Ngày nay, cuộc sống ngày càng trở nên công nghiệp, nồi cơm điện đã trở thành đồ dùng không thể thiếu trong gia đình Việt. Bà nội trợ không còn nhiều thời gian để dành cho việc vào bếp, nấu ăn cho gia đình. Công nghệ đang dần hiện đại hơn, đáp ứng được nhu cầu nấu ăn nhanh chóng và ngon miệng của chúng ta ngày nay. Cấu tạo nồi cơm điện cũng dần phức tạp hơn, đa tính năng hơn – phụ giúp hơn nữa bà nội trợ gia đình trong công việc nấu nướng.

Trong lịch sử phát triển của, nồi cơm điện chỉ đơn giản là nấu, bạn sẽ phải tự tắt bếp khi cơm chín, đảo hâm cơm. Nhưng ngày nay nồi cơm điện dần phức tạp hơn, nhiều chức năng hơn. Bạn chỉ cần vo gạo sẵn và để vào nồi, nồi sẽ tự động nấu và chuyển chế độ khi cần thiết, ngoài ra những nồi cơm điện thông minh ngày nay còn có chức năng hẹn giờ, điều khiển tự động có khả năng kết nối thiết bị từ xa. Bạn sẽ chỉ cần từ văn phòng hoặc từ bất cứ nơi đâu có internet bạn đã có thể điều khiển chiếc nồi nấu cơm theo ý muốn.

Về cơ bản, nồi vẫn hoạt động theo nguyên lý đun gạo để gạo chín thành cơm. Cấu tạo nồi cơm điện gồm các bộ phận chính:

Thân nồi: có tác dụng bảo vệ xong tránh bị va đập đồng thời cũng là bộ phận giữ nhiệt giúp câm được ấm. Với những nồi ngày nay, thân nồi thường có 3 lớp lớp trong cùng tiếp xúc với xong có tác dụng tỏa nhiệt tạo sức ấm đều cho xong. Lớp thứ 2 là lớp sứ cách nhiệt, sẽ là bộ phận quan trọng giữ nhiệt cho nồi. Lớp ngoài cùng là lớp vỏ nồi, mang lại vẻ đẹp cho chiếc nồi, thường được làm từ thép chống gỉ, chịu nhiệt.

Mâm nhiệt: Đây là bộ phận chính tạo nhiệt độ nấu ăn cho nồi cơm. Một mâm điện đạt tiêu chuẩn cần phải có các rãnh truyền nhiệt, giúp truyền đều nhiệt dưới đáy xong. Giúp cơm được chín đều. Mâm nhiệt được thiết kế bám sát xoong tạo nên hiệu suất nấu cơm cao hơn.

Cuối cùng là xoong, xoong là bộ phận nấu cơm trực tiếp, thiết kế xoong ngày nay có nhiều thay đổi. Xoong nhẹ hơn, được làm từ hợp kim nhôm, nhẹ hơn, chịu nhiệt tốt hơn.

Ngoài ra, xoong còn được phủ lớp chống dính giúp cơm nấu không bị dính nồi, hạt cơm sẽ đều hơn và bạn dễ dàng cọ rửa, lau chùi.

Nồi cơm điện ngày nay còn được trang bị thêm những thiết bị hiện đại như: kết nối thiết bị ngoại vi, bộ điều khiển thông minh, điều khiển đồng bộ cùng hệ thống. Những nồi cơm điện này sẽ tự động báo khi cơm chín, tự động bật tắt theo thiết đặt của người dùng.

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Cây Hoa Hồng Dàn Ý & 14 Bài Văn Thuyết Minh Lớp 8

Mỗi loài hoa đều mang trong mình vẻ đẹp, hương sắc và ý nghĩa riêng. Hoa hồng có rất nhiều loại, màu sắc khác nhau như hoa hồng nhung, hoa hồng trắng, hoa hồng vàng… Mời các em cùng theo dõi bài viết để rèn kỹ năng thuyết minh về loài hoa thật tốt.

I. Mở bài: giới thiệu về hoa hồng:

Ví dụ: Em rất thích hoa, trong tất cả các loài hoa em thích nhất là hoa hồng. hoa hồng rất đẹp và mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt.

II. Thân bài: thuyết minh về hoa hồng

1. Khái quát về hoa hồng: Là một loài hoa leo hoặc là loài hoa trồng chậu

Hoa của hồng rất thơm

Hoa hồng là loài hoa rất có ý nghĩa trong đời sống

2. Chi tiết về hoa hồng:

– Cấu tạo của hoa hồng:Thân cây hoa hồng nhỏ, có nhiều gai

Lá hoa hồng màu xanh đậm, có nhiều gân

Hoa hồng màu hồng, màu đỏ, màu trắng,…

Hoa hồng có nhiều cánh, mỗi cánh hoa hồng nhỏ và đẹp

Đài hoa hồng màu xanh

– Đặc điểm của hoa hồng:Hoa hồng thường mọc thành bụi hoặc leo

Hoa hồng có ý nghĩa vô cùng đặc biệt

Hoa hồng rất đẹp

– Ý nghĩa của hoa hồng: Là biểu hiện cho tình yêu

Là biểu hiện cho những tình cảm thiêng liêng : tình mẹ con, tình cha con, tình yêu trai gái,…

Là ý nghĩa, biểu tượng cho những vật có giá trị

– Hoa hồng trong nghệ thuật.

III. Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về hoa hồng

Ví dụ: Hoa hồng là một loài hoa rất có ý nghĩa và xinh đẹp. chúng ta nên phát huy loài hoa xinh đẹp này.

Hoa hồng vẫn thường được gọi là nữ hoàng của các loài hoa bởi vẻ đẹp kiêu sa của nó. Mỗi một loài hoa có một vẻ đẹp riêng nhưng với hoa hồng người ta thấy ở đó sự đằm thắm và có chút gì đó bí ẩn. Hoa hồng đã khiến cho biết bao nhiêu người say mê.

Xuất xứ của hoa hồng là từ xứ sở Ba Tư từ cách đây khoảng 35 triệu năm. Như vậy hoa hồng đã có một lịch sử vô cùng lâu đời. Cho đến nay hoa hồng vẫn là biểu tượng của tình yêu, sắc đẹp, chiến tranh và chính trị. Cách đây khoảng 3000 năm trước công nguyên, người Sumerian nay thuộc Iraq đã có những ghi nhận đầu tiên về hoa hồng. Đến khoảng 600 năm trước công nguyên, những bài thơ sáng tác về hoa hồng bắt đầu ra đời. Chúng chủ yếu ngợi ca vẻ đẹp của hoa hồng và kể từ ngày ấy người ta đã xem hoa hồng như là nữ hoàng của các loài hoa rồi. Sự phân bố của hoa hồng khá lớn từ Alaska cho đến Mexico và thậm chí là cả ở Bắc Phi. Vì khí hậu của những nơi này không giống nhau nên mỗi nơi lại có những loài hoa hồng khác nhau.

Cây hoa hồng thuộc giống thân cỏ, nhỏ như chiếc đũa và có màu xanh sẫm. Bao phủ bên ngoài thân là những chiếc gai nhọn giúp cho hoa hồng chống lại kẻ thù như sâu bọ. Với những người chăm sóc hoa hồng cũng phải vô cùng cẩn thận nếu không sẽ bị những cái gai nhọn làm chảy máu. Từ thân cây những cành hoa mọc ra với rất nhiều lá. Lá của hoa hồng có hình bầu dục với rìa ngoài như mép răng cưa, trên mặt lá còn có những đường gân nổi rõ. Trên mỗi cành nở một bông hoa hồng tuyệt đẹp. Đầu tiên chúng là những nụ hoa chụm lại với nhau. Khi hoa hồng nở, ta nhìn thấy rõ nhụy hoa nằm ở giữa, xung quanh là cánh hoa rồi đài hoa phía dưới. Hoa hồng càng nở thì càng khoe sắc. Mỗi bông hoa được tạo nên bởi vô vàn các cánh hoa mềm mịn. Hương hoa hồng thoang thoảng, quyến rũ đến mê người.

Hiện tại các nhà khoa học đã nghiên cứu và chỉ ra rằng có hơn 150 loài hoa hồng khác nhau. Một phần cũng là do sự lai tạo giống của con người còn vốn dĩ ban đầu chỉ có hoa hồng nhung và hồng trắng. Hoa hồng nhung có nhiều màu, chủ yếu là màu đỏ và màu hồng phấn. Nhờ được nhân giống mà ngày nay có thêm những loại hoa hồng nhiều màu sắc như hồng đen, hồng tím, hồng vàng, hồng xanh, hồng bảy sắc,… Ở châu Âu có nhiều cánh đồng hoa hồng với những màu sắc vô cùng rực rỡ. Có những nơi người ta tổ chức ngày hội hoa hồng như một cách để tôn vinh vẻ đẹp của loài hoa này.

Đối với cuộc sống hàng ngày của người dân Việt Nam hoa hồng đã trở nên vô cùng quen thuộc. Đà Lạt có lẽ là nơi trồng nhiều hoa hồng nhất nước ta. Đặc biệt là hoa ở đây rất đẹp và thơm. Những người buôn hoa thường đến vườn hồng của Đà Lạt chọn mua những bó hoa mang về bán lại cho người dân. Người dân mua về cắm hoa trong lọ sứ, lọ thủy tinh hay dùng làm trang trí,… Chỉ cần đặt một lọ hoa hồng lên bàn thôi là không gian trở nên lãng mạn hơn hẳn. Cánh hoa hồng thường được dùng là siro chữa ho, chiết làm nước hoa, làm nước tẩy trang,… Xưa kia người trong hoàng cung, đặc biệt là các phi tần của nhà vua thường tắm với cánh hoa hồng.

Ở một vài nước phương Tây như nước Pháp, hoa hồng là loài hoa biểu trưng. Còn trong văn hóa Ấn Độ bông hồng lại được ví với vẻ đẹp của người Mẹ. Nó biểu thị cho sự hoàn mĩ, không thiếu sót. Còn trong Kito giáo, hoa hồng lại là sự hóa thân của những giọt máu chảy ra từ vết thương của Chúa. Đối với nhiều quốc gia trên thế giới hoa hồng là biểu tượng của tình yêu, của lòng chung thủy. Vào các ngày lễ như 8/3, 20/10 nam giới thường tặng hoa hồng cho nữ giới thay cho lời yêu, lời cảm ơn. Vào ngày 20/11 học sinh cũng thường mua hoa hồng tặng thầy cô để tỏ lòng kính trọng.

Cách trồng hoa hồng không khó nhưng cần có sự chăm sóc cẩn thận để hoa khoe sắc và nở đều. Với những người yêu hoa hồng, được ngắm nhìn những bông hoa nở chính là niềm vui mỗi ngày.

Nhắc tới hoa hồng người ta nhắc tới vẻ đẹp của sự thăng hoa. Có hơn 160 quốc gia trên thế giới đều thừa nhận rằng hoa hồng có thể chế biến thuốc. Ở Việt Nam, hoa hồng còn là biểu tượng của tình yêu đôi lứa!

Muôn vạn sắc hoa, muôn vạn màu sắc. Mỗi loài đều có một đặc trưng riêng. Tuy nhiên màu đỏ là màu của lửa màu của chiến thắng vì vậy mà vua của các loài hoa chính là hoa hồng. Một loài hoa tượng trưng cho tình yêu bất tử. Hoa hồng được coi là loài hoa đẹp nhất trong các loại hoa bởi nó tượng trưng cho tình yêu mãnh liệt. Hoa hồng như cái tên của nó rất đẹp, nhưng cũng rất “nhọn”. Từ gốc đến ngọn được bao trùm bởi gai nhọn.

Dĩ nhiên, hoa hồng còn đẹp bởi mùi hương quyến rũ,mê hoặc. Hương hoa hồng vô cùng dễ chịu, nồng nàn, lan tỏa… Hoa hồng đỏ được xem là hoa thánh dành riêng cho thần Vệ nữ.Truyền thuyết về hoa hồng gắn liền với truyền thuyết về tình yêu của thần thánh. Hoa hồng không chỉ là nữ hoàng các loài hoa bởi vẻ đẹp kiêu sa và hương thơm quyến rũ, mà còn là một dược phẩm quý của thiên nhiên với những công dụng làm đẹp. “Hoa hồng có gai”vinh dự được gán cho những người đẹp.

Phía sau mỗi loài hoa đều có mang một ý nghĩa và truyền thuyết riêng. Người ta nói rằng hoa có một ngôn ngữ của riêng mình và chuyển tải thông điệp qua vẻ ngoài xinh đẹp. Mỗi bông hoa khác nhau có ý nghĩa hoa khác nhau được phản ánh trong sắc thái của chúng. Theo cách đó, mỗi loại hoa hồng cũng có một ý nghĩa riêng dựa trên các màu sắc sống động. Ý nghĩa quan trọng của hoa hồng màu vàng, đặc biệt là tình bạn, nhưng nó cũng có nhiều cách giải. Hoa hồng (Rose) có tên khoa học là Rosa sp. có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới vùng Bắc bán cầu, được xếp vào lớp Song tử diệp (Dicotyledoneae), bộ Hồng (Rosales), họ Hồng (Rosaceae).

Hoa hồng đã có mặt trên Trái đất cách đây 35 triệu năm. Vào khoảng 3000 năm trước công nguyên, người Sumerian, nay thuộc Iraq, đã có những ghi nhận đầu tiên về hoa hồng. Trung Quốc có thể là nơi đầu tiên thuần hóa hoa hồng, cách đây khoảng 5000 năm. Nhưng mãi đến thế kỷ XVIII thì những giống hồng từ Trung Quốc mới được giới thiệu ở châu Âu, sau đó du nhập qua Hà Lan, Pháp, Đức, Bungari và chính người Châu Âu mới có công lai tạo ra nhiều giống mới hiện đại như ngày nay, hầu hết những giống hồng ngày nay đều có nguồn gốc từ nó. Kể từ đây, bắt đầu một thời kỳ lịch sử mới của hoa hồng, với ngày càng nhiều giống hoa hồng lai tạo đã được ra đời.

Trong tự nhiên, giống hoa hồng có khoảng 150 loài, phân bố khắp bán cầu bắc, từ Alaska cho đến Mexico và ở cả Bắc Phi. Hoa hồng thuộc nhóm thân gỗ cây bụi thấp, thẳng, có nhiều cành và gai cong. Đặc điểm chung của hoa hồng là: Lá hoa hồng là lá kép lông chim mọc cách, ở cuống có lá kèm nhẵn, mỗi lá có 3-5 hoặc 7-9 lá con, xung quanh lá con có nhiều răng cưa nhỏ. Tùy mỗi giống cây mà lá có màu xanh đậm hay xanh nhạt, răng cưa nông hay sâu hoặc có dạng lá khác. Cánh hoa hồng cuộn tròn xếp thành nhiều vòng quanh một hình nón nhọn có hình dạng giọt nước mắt tròn. Hồng có mùi thơm nhẹ, cánh hoa mềm dễ bị dập nát. Hồng có nhiều màu sắc đa dạng, từ trắng, vàng, đỏ, cam, … cho đến các loại có 2 màu trên cùng một hoa (bi-color). Hoa hồng thuộc loại hoa lưỡng tính, nhị đực và nhị cái trên cùng một cành hoa, các nhị đực dính vào nhau bao xung quanh vòi nhụy, khi phấn chín rơi trên đầu nhụy nên có thể tự thụ phấn.

Ở Việt Nam hoa hồng được nhập trồng từ lâu trên khắp mọi miền Nam Bắc. Hoa hồng là loại hoa chủ lực chiếm 30% – 35% diện tích trồng hoa cắt cành của nước ta. Những vùng trồng hoa tập trung là Lâm Đồng, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh…Trong hệ tranh tượng Kitô giáo, hoa hồng hoặc là cái chén hứng máu của Chúa Kitô, hoặc là sự hóa thân của những giọt máu này và thậm chí, là chính vết thương của Chúa.

Trong văn hóa phương Tây, hoa hồng thường xuất hiện như là biểu tượng của sự phục sinh huyền bí. Abd Ul Kadir Gilani so sánh hoa hồng với những vết sẹo trên cơ thể sống. Với người Hy Lạp hoa hồng vốn là một loài hoa màu trắng, nhưng khi Adonis bị tử thương, nữ thần Aphrodite chạy đến cứu chàng đã bị đâm phải một cái gai và máu đã nhuộm thẫm những bông hồng cung tiến nàng. Chính ý nghĩa biểu trưng về sự tái sinh đã khiến con người, từ thời cổ đại, đặt những bông hồng lên các nấm mộ, và Hecate, nữ thần âm phủ đôi khi được thể hiện với hình ảnh đầu quấn một vòng hoa hồng có 5 lá.

Hoa hồng đã trở thành biểu tượng của tình yêu và còn hơn thế, của sự dâng hiến tình yêu, của tình yêu trong trắng (còn trinh), tương tự ý nghĩa của hoa sen Ai Cập và cây thủy tiên Hy Lạp.

Biểu tượng một số loại hoa hồng: Hoa hồng phấn: Biểu tượng của vẻ đẹp nhã nhặn, duyên dáng, nữ tính, hoa hồng cũng chở những ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào độ đậm nhạt. Màu hồng đậm thể hiện lòng biết ơn, cảm kích, trong khi màu hoa hồng nhạt lại có ý nghĩa duyên dáng thanh lịch, khâm phục, hạnh phúc. Hoa hồng 7 màu: Loại hoa hồng nhiều màu sắc, còn được biết tới với tên gọi hoa hồng hạnh phúc hay hoa hồng bảy sắc cầu vồng. Đó là sự kết hợp tinh tế những điều tưởng như không thể. Tặng hoa hồng 7 màu mang ý nghĩa thể hiện sự quyết tâm đạt được điều mình mong ước. Hoa hồng trắng: Mẫu mực, khiêm tốn, trong sáng ngây thơ, hoa hồng trắng – thường là hoa cho cô dâu, là loài hoa của tình yêu tuổi trẻ. Tại Scotland, khi hoa hồng trắng nở vào mùa thu, đó là dấu hiệu của mùa cưới tới sớm.

Cũng là biểu tượng của sự chân thật, tôn kính, nó truyền đi thông điệp của lòng trung thành, với lời “anh xứng đáng với em.” Hoa hồng vàng: Trong thời đại Victoria, màu vàng là biểu tượng của lòng ghen tuông, ngày nay nó biểu hiện tình bạn, sự quan tâm và niềm vui. Một bó hoa hồng vàng cả nụ sẽ mang tới sự ấm áp, sự say mê, hân hoan. Hoa hồng cam: Với sự ấm áp, những âm điệu ngân nga, màu cam biểu thị sự nhiệt tình, mong mỏi. Nếu bạn đang tìm cách biểu lộ lòng hâm mộ và sự lôi cuốn với một thông điệp thầm kín về nỗi đam mê rạo rực, hãy gửi bó hoa với những bông hồng cam đã nở rực rỡ. Hoa hồng tím: Hiếm và bí ẩn trong tự nhiên, với biểu tượng niềm say mê thèm khát, bất chấp tất cả, không ngạc nhiên rằng hoa hồng tím là thông điệp cho một tiếng sét ái tình, một loài hoa tuyệt vời cho ngày lễ tình yêu.

Hoa hồng đen: Hoa hồng đen – loài hoa mang sắc màu thần thoại và bí ẩn. Không rực rỡ và nổi bật như những loài hoa khác nhưng Hoa hồng đen” luôn luôn là loài hoa đẹp trên bình diện tinh thần – loài hoa tượng trưng cho những đam mê, khát khao. Hoa hồng đen không ồn ào khi xuất hiện, loài hoa này còn tượng trưng cho sự cô đơn và lạnh lùng. Hoa hồng song hỷ: Hoa hồng song hỷ một loại hoa hồng có cánh màu trắng ngà nhưng lại có viền màu hồng nhạt. Nó thể hiện sự hòa hợp giữa 2 con tim khác nhau hòa chung nhịp đập với nhau, thể hiện sự hợp nhất.Hoa hồng tỉ muội: Hoa hồng tỉ muội mang ý nghĩa như tên của nó. Nếu bạn được ai đó tặng những đóa hoa hồng tỉ muội, như thế bạn nên hiểu rằng người đó coi mình như người thân – anh em hoặc chị em.

Hoa hồng xanh: Nói đến hoa hồng, người ta thường nghĩ đến màu đỏ thắm – màu tiêu biểu nhất của loài hoa này. Nhưng giờ đây, nhờ vào một nghiên cứu của các nhà khoa học, bạn có thể nghĩ đến việc tặng cho người mình yêu thương những đóa hồng màu… xanh da trời – màu tượng trưng cho sự an bình và hy vọng. Hoa hồng đỏ: Không ai là không biết biểu tượng về tình yêu của hoa hồng đỏ. Ngày lễ tình yêu thật khó có thể thiếu những đóa hồng đỏ thắm, biểu tượng cơ bản của tình yêu lãng mạn và niềm đam mê bền bỉ, hoa hồng đỏ cũng có ý nghĩa của sự tôn trọng và tinh thần sáng tạo trong tình yêu. Thể hiện tình yêu đích thực mạnh hơn mọi chông gai, hoa hồng đỏ là đại diện cho loài hoa tình yêu khắp toàn cầu. Hoa hồng bất tử: Hoa hồng bất tử luôn luôn tươi mới mà vẫn giữ nguyên vẹn màu sắc tự nhiên cũng như tình yêu sẽ mãi theo thời gian.

Dưới đế chế La Mã, hoa hồng được trồng rộng rãi ở vùng Trung Đông. Chúng được dùng trang trí các buổi tiệc, hay được dùng làm thảo dược và nước hoa. Hoa hồng là một loại hoa có giá trị kinh tế cao, nhiều chủng loại với màu sắc đa dạng, được sử dụng nhiều dưới dạng hoa cắt cành và hoa chậu, hoa cảnh. Ngoài ra, hoa hồng còn được dùng để chưng cất nước hoa, tinh dầu cũng như được sử dụng khá nhiều để điều chế mỹ phẩm. Tinh dầu hoa hồng là một trong những tinh dầu thơm nhất và có nhiều công dụng nhất, chất an thần, làm chịu các chứng bệnh về tiêu hóa, trị đau nhức, căng thẳng thần kinh, suy nhược, mất ngủ, rối loạn kinh nguyệt.

Ngày nay, khá nhiều chị em phụ nữ sử dụng hoa hồng để pha chế nước hoa hồng để dưỡng da; dùng để xông hơi hoặc tắm. Nước hoa hồng có tác dụng như một loại sữa làm mát dịu và làm sạch da. Tắm bằng nước hoa hồng là một liệu pháp hoàn hảo chống lại các bệnh ở thần kinh, làm sạch da, làm dịu những lo lắng và mang lại sự thư thái, sảng khoái cho con người. Cánh hoa hồng ngâm dấm chua cũng tạo ra một dung dịch khử mùi hôi và sát trùng.

Trong y học, người ta cũng khám phá ra rất nhiều công dụng của hoa hồng. Trong cánh hoa hồng có chứa rất nhiều các loại chất như vitamin C, carotene, các loại vitamin nhóm B, vitamin K, canxi, kali, … Các chất này rất tốt cho các cơ quan trong cơ thể như tim, hệ tiêu hóa, miễn dịch, … Các nghiên cứu ở khoa Dược, Đại học UM’S Malaysia cho biết có thể phòng ngừa ung thư và làm hạ huyết áp bằng nước ép hoa hồng. Đồng thời, nhiều công trình nghiên cứu đang nghiên cứu chế biến loại trà và nước giải khát từ hoa hồng để điều trị bệnh cao huyết áp.

Các nhà khoa học cũng cho biết, vi khuẩn sẽ chết trong vòng 5 phút sau khi tiếp xúc với cánh hoa hồng tươi. Điều này sẽ làm cho hoa hồng trở thành một loại dược phẩm hoàn hảo để chống lại các bệnh về da. Cánh hoa hồng tươi còn hạn chế mưng mủ vết thương và vết bỏng. Chúng cũng có thể làm dịu những vết ngứa do dị ứng gây ra. Theo y học cổ truyền, hoa hồng có vị ngọt, tính ấm, tác dụng hoạt huyết, điều kinh, tiêu viêm, tiêu sung. Hồng đỏ (mai khôi hoa) dùng làm huyết mạch lưu thông, chữa kinh nguyệt không đều, đau ở vùng bụng dưới, vết sưng tấy, đinh nhọt và viêm mủ da, bệnh bạch cầu. Hoa hồng trắng chứa nhiều vitamin, đường, tinh dầu, dùng chữa ho trẻ em rất công hiệu, còn có tác dụng nhuận tràng. Trà hoa hồng vừa là một bài thuốc chữa cảm lạnh, viêm họng, viêm phổi và các chứng loạn thần kinh chức năng, đồng thời cũng là một đồ uống giàu vitamin.

Hoa hồng có ý nghĩa vô cùng tốt đẹp trong đời sống sinh hoạt cũng như tinh thần của con người. Qua mỗi loài hoa chúng ta lại hiểu hơn về tầm quan trọng cũng như vị thế của nó trong đời sống. Hoa hồng tượng trưng cho cái đẹp, cái đẹp đó cần được nâng niu và bảo vệ.

Các bạn có biết loài hoa nào tượng trưng cho tình yêu không? Chắc hẳn ai cũng biết câu trả lời đó chính là hoa hồng – nữ hoàng của các loài hoa. Nhắc đến hoa hồng là nhắc đến sự ngọt ngào giống như màu hồng của tình yêu vậy chính vì thế hoa hồng luôn là sự lựa chọn không tồi để làm quà tặng người mình yêu thương.

Hoa hồng đã xuất hiện từ rất lâu, nó có xuất xứ từ vùng ôn đới và nhiệt đới phía bắc bán cầu Bắc. Ở đất nước Việt Nam ta hoa hồng được trồng ở rất nhiều nơi từ miền núi, trung du cho đến đồng bằng châu thổ. Hoa hồng không phải vô tình cũng chẳng phải vô ý mà hoa hồng lại được mệnh danh là nữ hoàng của các lời hoa. Sở dĩ nó được mệnh danh như vậy là bở sự toàn bích cả về màu sắc lẫn hương thơm. Nhờ vẻ ngoài rực rỡ quyến rũ và hương thơm quý phái nên hoa hồng rất được ưa chuộng.

Hoa hồng có nguồn gốc địa phương một số là xuất xứ từ Trung Quốc và các nước châu Âu. Hoa hồng có rất nhiều màu: hồng, trắng, vàng,… nhưng phổ biến nhất vẫn là màu hồng. Hoa hồng cũng được chia thành những loại khác nhau ví dụ như: hoa hồng nhung, hoa hồng quế, hoa hồng bạch tuyền, hoa hồng bạch văn khôi,… Hoa hồng nhung thì màu đỏ sẫm bông lớn lâu tàn và có hương thơm ngát rất quý. Còn hoa hồng bạch văn khôi thì có cánh màu trắng hơi pha chút hồng phớt, bông lớn hơn, cây hoa hồng bạch văn khôi có ưu điểm là rất dẻo dai sức chịu đựng tốt.. Hoa hồng bạch tuyền cánh mỏng và mềm có màu trắng tinh khiết nhìn rất mỏng manh thường được dùng để trang trí phòng khách trông rất sang trọng. Khi trẻ em bị ho nếu dùng cánh của hoa hồng này chưng với mật ong và quất để ngậm thì hiệu quả rất tốt. Cuối cùng là hoa hồng quế thì mọc thành từng chùm ở đầu cành có màu đỏ giống màu của lá cờ tổ quốc nhụy màu vàng tươi hương thơm ngát. Loài hoa này thường được các bà, các mẹ dâng vào Chùa vào những ngày lễ tết để thể hiện lòng thành kính với Đức Phật.

Các loài hoa được nói đến bên trên đều là những loại hoa gặp thông thường.

Nhưng những người yêu hoa hồng chắc hẳn sẽ không thể bỏ qua một giống hoa tuy không quý hiếm nhưng lại được nhiều người ưa chuộng bởi vẻ ngoài và sự gần gũi. Đó chính là hoa hồng dại hay còn được gọi với tên nụ tầm xuân cây nhỏ cành mềm mọc lan tràn ở khắp nơi mọc thành từng khóm chi chit trông rất xinh xắn dễ thương điểm tô cho sự nhẹ nhàng bình yên thơ mộng của những góc phố . Loài hoa này còn trở thành nguồn cảm hứng của biết bao thi nhân. Nụ tầm xuân đã xuất hiện trong thơ ca làm phương tiện để người nghệ sĩ gửi gắm những tâm tư tình cảm thầm kín của mình, thể hiện một khát vọng về tình yêu đúng với ý nghĩa và chức năng của hoa hồng:

Hoa hồng tương đối dễ trồng và thích nghi với các loại khí hậu khá tốt. Hoa hồng ưa ánh sáng, nhưng cũng hay bị sâu đục khoét cho nên người trồng cũng nên thường xuyên bắt sâu, tỉa bớt lá già để cho cây được xanh tốt.

Hoa hồng không chỉ được yêu thích bởi vẻ ngoài quyến rũ đa dạng và phong phú mà nó còn được ưa chuộng bởi ý nghĩa sâu sắc là tượng trưng cho tình yêu. Hoa hồng quả là một món quà lý tưởng làm quà tặng cho người mình thương!

Cuộc sống như đẹp hơn nhờ sự tô điểm của các loài hoa từ những loài rực rỡ kiều diễm tới những loại giản dị, nhẹ nhàng. Trong đó, được mệnh danh “bà chúa của các loài hoa” chính là hoa hồng.

Có một câu chuyện thần thoại gắn liền với loài hoa này. Rosalia, tì nữ của nữ thần Mặt trăng và săn bắn đồng ý kết hôn đã khiến Diana vô cùng tức giận dùng tên bắn Rosalia. Nơi máu nàng chảy ra đã mọc ra một loại hoa màu trắng. Sau này nó được nhuộm màu đỏ bởi máu của nữ thần Venus. Ban đầu người ta gọi đó là Rosa, sau này thành Rose, dịch ra tiếng Việt là hoa hồng. Còn theo các nghiên cứu khoa học, nó đã xuất hiện khoảng ba mươi lăm triệu năm, từ khi sự sống Trái Đất khởi sinh. Nó đã trải qua một hành trình dài để trở thành loài hoa đẹp đẽ như hôm nay. Vào thế kỉ 18, Trung Quốc đã thuần hóa giống hoa hồng và phổ biến trên toàn thế giới.

Các bộ phận của hoa hồng cũng như đa số các loại cây là rễ, thân lá và cả hoa. Rễ của hoa hồng thuộc loại rễ chùm, không ăn sâu vào trong lòng đất. Bởi vậy chúng ta vẫn thường thấy hoa hồng được trồng trong chậu. Tuy vậy rễ vẫn có chức năng hút chất dinh dưỡng để nuôi cây. Thân hồng thuộc loại thân gỗ nhưng bụi thấp và đặc biệt có màu xanh lục, khá mảnh khảnh. Các cành cũng chỉ như chiếc đũa. Nhưng thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho loài cây tưởng như yếu ớt này một vũ khí sắc bén. Đó là những chiếc gai đâm tua tủa trên thân cành. Lá hồng hình bầu dục, ngắn và có các răng cưa ở viền. Một cành thường có ba lá. Là cây hoa nên hoa chính là bộ phận quan trọng nhất. Trước khi ra hoa phải trải qua giai đoạn nụ. Những nụ hoa hồng chúm chím xinh xinh như hình ánh nến được bao bọc bởi lớp áo xanh của đài. Khi hấp thủ đủ sinh dưỡng, các cánh hoa sẽ từ từ bung nở. Hoa hồng có nhiều lớp cánh xếp chồng so le lên nhau. Cánh nào cũng mịn màng, ở giữa là đốm nhụy vàng tươi. Hương thơm của nó lan tỏa khắp không gian thu hút đủ mọi ong bướm.

Theo các nhà khoa học có ba loại hoa hồng chính. Đầu tiên là hoa hồng cổ có khả năng chịu lạnh tốt và hương thơm cũng đậm hơn những loại khác. Hoa hồng hoang dã thường mọc tự do đôi khi chúng ta tình cờ bắt gặp. Còn loại cuối cùng chình là hồng hiện đại đã có sự can thiệp của con người trong cả việc chăm sóc và lai tạo.

Hoa hồng có rất nhiều màu sắc, mỗi màu lại mang một ý nghĩa khác nhau như màu đỏ tượng cho tình yêu mãnh liệt, màu trắng đại diện cho sự ngây thơ, màu vàng là món quà của tình bạn… Chưa kể ngày nay công nghệ hiện đại phát triển, người ta không ngừng lai tạo ra nhiều giống hoa hồng mới, thậm chí kết hợp nhiều màu trên cùng một bông hoa.

Hoa hồng tượng trưng cho cái đẹp mà cái đẹp sẽ đem đến cho con người niềm vui, niềm hoan lạc. Hoa hồng thường được chọn làm món quà để trao đi trong tất cả các dịp lễ như ngày quốc tế phụ nữ, lễ tình yêu hay ngay cat dịp sinh nhật… Hoa hồng cũng thường được các bà các mẹ lựa chọn trang trí trong nhà. No còn đi vào văn chương nghệ thuật và hội họa với những tầng bậc ý nghĩa khác nhau.

Biết bao đời nay, hoa hồng đã làm đắm say lòng người bởi sắc đẹp và hương thơm của nó. Nhờ hoa hồng, chúng ta thấy cuộc sống ngào ngạt hơn và tâm hồn cũng vì thế được nâng đỡ dịu dàng.

Trong thế giới tự nhiên có vô vàn những loại hoa đẹp, rực rỡ. Mỗi loài hoa lại mang một đặc trưng, một nét đẹp khác nhau, và cũng chính điều đó đã làm nên sự phong phú, đa dạng cho thế giới thực vật nói chung, họ nhà hoa nói riêng.

Một trong những loài hoa khá tiêu biểu, quen thuộc đối với cuộc sống thường nhật của con người, đó là đóa hoa hồng.

Hoa hồng là một loài thực vật có hoa, thường mọc theo bụi, theo khóm. Thân của hoa hồng thẳng, có màu xanh đậm, trên thân mọc ra rất nhiều gai sắc nhọn. Lá của hoa hình trứng, đường diềm của lá có hình răng cưa, lá của hoa hồng mọc phân tán trên thân cây, đôi khi mọc sát vào bong hoa.

Hoa hồng cũng rất đa dạng về chủng loại, màu sắc, có hoa hồng nhung, hồng vàng, hồng trắng, hồng xanh…. Mỗi loại hoa hồng lại mang một vẻ đẹp riêng.Tuy có sự khác nhau về màu sắc nhưng về cơ bản hình dáng của hoa hồng tương đối giống nhau.

Ở những vùng nông thôn hay trong những gia đình thường có xu hướng trồng những cây hoa hồng ta, tức là loại hoa hồng nhỏ, thường có sắc đỏ thắm hoặc màu hồng nhạt.

Loại hoa hồng này thường mọc theo khóm khá rậm rạp, phát triển quy mô của nhóm cũng rất nhanh. So với những loại hoa hồng khác thì hoa hồng ta có kích thước thân cây,kích thước lá cũng như bông hoa nhỏ hơn rất nhiều. Hoa hồng ta có những cánh nhỏ mà khi nở sẽ có xu hướng nở bung ra nhiều cánh chứ không chụm cánh thành một tâm đối xứng như những bông hoa hồng thường thấy. Về diện mạo thì hồng ta có thể không được rực rỡ, bắt mắt người nhìn như hoa hồng thường nhưng nó có mùi hương đặc biệt thơm, đặc biệt khi được khuếch trương vào trong gió thì tạo ra một mùi hương phảng phất, dịu nhẹ vô cùng dễ chịu. Và thời gian nở của hoa hồng ta cũng được lâu hơn so với những bông hoa hồng thường, từ khi bắt đầu nở rộ thì phải đến vài tuần sau thì bông hoa mới tàn.

Hiện nay, do nhu cầu tiêu dùng cũng như nhu cầu về thẩm mỹ của mọi người ngày càng cao nên hoa hồng được nhân giống thành nhiều mẫu mã hoa vô cùng đẹp mắt.

Nếu trước đây chỉ có những đóa hồng nhung hoặc hồng trắng thì ngày nay người ta đã nhân giống thành công hoa hồng xanh ( có thể là xanh dương hoặc xanh lá mạ), hoa hồng vàng, hoa hồng tím vô cùng bắt mắt, thu hút được thị hiếu của người mua.

Nếu những bông hồng ta thường phát triển theo khóm, một khóm có thể có rất nhiều bông hoa, nhưng những bông hồng được bán trên thị trường ngày nay thì mọc độc lập trên một thân cây,thân thẳng tắp, mỗi cây chỉ phát triển được một bông chúng tôi đó mà bông hoa hồng này thường to hơn, màu sắc đẹp hơn, đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người mua hàng. Mỗi loài hoa đều trở nên đặc biệt bởi nó chứa đựng những ý nghĩa, những biểu trưng cho những nội dung nhất định.Và hoa hồng càng đặc biệt hơn bởi nó có một ý nghĩa vô cùng thiêng liêng.

Người ta gọi hoa hồng là “ hoa của tình yêu”. Đúng vậy, những đóa hoa hồng là biểu tượng của tình yêu mãnh liệt, cho sự cuồng nhiệt, thủy chung của tuổi trẻ.

Hoa hồng là loài hoa có thể được coi là biểu tượng của tình yêu, chúng ta đều thấy được giá trị của nó đối với cuộc sống của chính mình, nó không chỉ là biểu tượng đẹp của cuộc sống và nó đã mang lại những điều có ý nghĩa nhất. Vẻ đẹp của nó có thể được đánh giá rất cao bởi bông hoa hồng thân rộng, hương thơm tỏa ra ngào ngạt, nó có thêm nhiều sức sống và giá trị sống của mỗi con người, mỗi chúng ta đều thấy được vẻ đẹp của nó đem tặng cho cuộc sống, bông hoa thơm ngát, nở rộ trên khoảng không gian trong cuộc sống để tạo nên những giá trị to lớn dành tặng cho mỗi người.

Chúng ta đều thấy giá trị và vẻ đẹp của nó, những hình ảnh của hoa hồng đem lại cho chúng ta những điều tố lành và những giá trị biểu tượng mãnh liệt nhất.Hình ảnh hoa hồng luôn luôn làm cho cuộc sống của chúng ta ngập tràn niềm vui và thêm yêu thương cuộc sống của chúng ta mỗi ngày, những hình ảnh đẹp và gợi nhiều sức sống cảm giác về đời sống tinh thần của chúng ta đang ngày càng được cải thiện và tươi đẹp.

Có lẽ cũng vì mang nhiều ý nghĩa đặc biệt như vậy nên hoa hồng đã trở thành một loại hoa phổ thông, vô cùng quen thuộc và có ý nghĩa đối với cuộc sống của con người. Nó đem lại may mắn và ý nghĩa biểu trưng của hoa hồng là biểu tượng của tình yêu những tình yêu nồng cháy và da diết, hoa hồng luôn phát huy được vẻ đẹp của mình qua những ý nghĩa giàu sức sống nhất.

Trong thế giới tự nhiên, có rất nhiều những loại hoa, nhưng mỗi loài hoa lại mang những vẻ đẹp riêng biệt, độc đáo khác nhau. Chúng không chỉ tươi thắm, rực rỡ, ngát hương thu hút thị giác và khứu giác của con người mà còn được con người yêu thích và ưu ái đặt cho nó những biệt danh, những ý nghĩa đặc biệt. Trong tất cả những loài hoa, loài mà em yêu thích nhất đó là hoa hồng nhung, loài hoa được con người rất yêu thích và đặt cho nó một cái tên đầy lãng mạn, đó là loài hoa của tình yêu.

Hoa hồng là một loại thực vật có hoa thân thẳng, có gai. Hoa hồng thường mọc thành bụi, thân cây thẳng, lá mọc phát triển từ dưới thân lên trên bông hoa. Hoa hồng thường có rất nhiều cánh, chúng mọc chụm vào với nhau tạo thành hình như một chiếc chén, nó đặc biệt trở nên rực rỡ khi nở bung các cánh, vì khi này hoa hồng khoe sắc trọn vẹn cái vẻ đẹp vốn có của nó. Lúc này ta cũng có thể nhìn thấy nhụy của hoa hồng. Nhụy của hoa hồng là những sợi mảnh có màu vàng trông rất rực rỡ. Sự kết hợp giữa sắc vàng của nhụy hoa và sắc hồng của bông hoa tạo ra một vẻ đẹp rực rỡ, kiều diễm. Lá của hoa hồng thường có dạng hình trứng, màu xanh đậm và đường diềm của lá có hình răng cưa. Cùng với nhụy, lá của hoa hồng cũng là một bộ phận làm cho màu sắc của bông hoa trở nên hài hòa, rực rỡ hơn.

Hoa hồng cũng có rất nhiều màu sắc, có hoa hồng nhung với sắc đỏ thắm tượng trưng cho tình yêu mãnh liệt, da diết. Có lẽ chính cái sắc đỏ thắm đã gợi cho con người ta liên tưởng đến sự nóng bỏng, nồng nhiệt của tình yêu, sắc hồng trắng tinh khôi, thanh bạch lại tượng trưng cho tình yêu đầu đời trong sáng, ngây thơ, hồn nhiên. Sắc vàng của hoa hồng lại gợi ra vẻ nền nã nhưng không kém phần cao cả của tình yêu. Hồng xanh tinh khôi, mới lạ lại mang đến sự tươi mới cho tình yêu đôi lứa. Hoa hồng cũng có thể chia làm hai loại hoa chính, đó là hoa hồng ta, tức hoa hồng được trồng ở các gia đình, đặc biệt là các vùng quê. Loại hoa hồng này mọc thành bụi, thân cây mảnh và không thẳng như những bông hoa hồng mà ta thường thấy bày bán trên thị trường, cả hoa và lá đề mảnh, nhỏ hơn rất nhiều. Những bông hoa hồng ta thường có xu hướng nở xòe những cánh, đối xứng với tâm của bông hoa.

Hoa hồng ta rất khó bọc thành bó hay cắm vào lọ vì thân hoa không thẳng, lá nhiều và rất nhỏ. Hoa bông nhỏ hơn rất nhiều so với hoa hồng thường. Loài hoa này thường được trồng để làm cảnh ở trong vườn, trong chậu ở các gia đình, loài hoa này tuy nhỏ và có vẻ không được rực rỡ, đằm thắm như những bông hoa hồng thường thấy. Tuy nhiên, đổi lại thì hoa hồng ta lại có sức sống rất mạnh mẽ, cho dù thời tiết khắc nghiệt thì nó vẫn phát triển tươi tốt, mùi hương của những bông hoa hồng ta đặc biệt rất thơm, nó vương vấn, để lại trong lòng người một cảm giác rất khó quên. Còn loại hoa hồng ta thường thấy phổ biến hơn ở trên thị trường thì người ta thường gọi nó là hồng nhung hay tên hoa hồng nói chung để phân biệt với hoa hồng ta.

Khác với những đóa hồng ta mọc thành bụi, bông nhỏ, lá mảnh thì thân của hoa hồng thẳng, lá to và dày hơn rất nhiều, khi nở thì hoa hồng có xu hướng chụm vào nhau. Và khi buộc những bông hoa hồng này vài với nhau thì sẽ tạo thành một bó hoa tuyệt đẹp. Trong tình yêu đôi lứa, người ta thường chọn tặng nhau những bông hồng vẫn chúm chím chuẩn bị nở, bởi người ta quan niệm lúc đấy là lúc hoa hồng đẹp nhất cũng là lúc tình yêu thăng hoa, tươi đẹp nhất.Nét đặc biệt của hoa hồng là loài hoa đại diện cho tình yêu, cho tình cảm chân thật, mãnh liệt. Vì vậy, để tặng cho nhau nhân những ngày lễ đặc biệt hay những ngày kỉ niệm thì đôi lứa thường đặc biệt chọn mua hoa hồng. Bởi tình yêu cũng đẹp, cũng đang độ nở như những đóa hồng. Mùi hương dịu nhẹ nhưng vấn vít lòng người cũng giống tình yêu đôi lứa nhẹ nhàng nhưng đầy mãnh liệt, da diết. Không chỉ có đôi lứa lựa chọn hoa hồng là loài hoa tình yêu mà đối với những người nội chợ, những người khác cũng cùng có sở thích đối với hoa hồng. Vì vậy hoa hồng là một loại hoa rất phổ biến trong đời sống sinh hoạt của người dân.

Ngày nay, đời sống của người dân được cải thiện nên nhu cầu về thẩm mĩ của con người cũng cao hơn. Nếu như bình thường thì chỉ có những ngày lễ hay dịp đặc biệt mới mua hoa hồng về cắm nhưng ngày nay người ta vẫn có thể mua hoa hồng để cắm lọ, trang hoàng nhà cửa cho rực rỡ, sắc màu hơn. Hoa hồng là một loài hoa đẹp, nét đẹp của hoa hồng không chỉ ở màu sắc tươi thắm, ở hương thơm dịu mát, vấn vương mà còn được yêu thích bởi chính ý nghĩa mà nó biểu trưng, đại diện. Hoa hồng cũng là một loài hoa rất phổ biến. Ngày nay để đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ ngày càng cao của con người thì người ta càng nhân giống ra các loài hoa hồng khác nhau về màu sắc, hình dáng. Tạo ra sự phong phú cho họ nhà hoa.

Hoa hồng được coi là loài hoa đẹp nhất trong các loại hoa bởi nó tượng trưng cho tình yêu mãnh liệt.

Hoa hồng như cái tên của nó – rất đẹp, nhưng cũng rất “nhọn”. Từ gốc đến ngọn được bao trùm bởi gai nhọn. Lá hoa hồng tròn trịa được viền răng cưa xung quanh. Nụ hồng chúm chím thường được như đôi môi đỏ hồng của các cô thiếu nữ. Dĩ nhiên, Hoa hồng còn đẹp bởi mùi hương quyến rũ, mê hoặc. Hương hoa hồng vô cùng dễ chịu, nồng nàn, lan tỏa…

Hoa hồng đỏ được xem là hoa thánh dành riêng cho thần Vệ nữ. Truyền thuyết về hoa hồng gắn liền với truyền thuyết về tình yêu của thần thánh. Hoa hồng không chỉ là nữ hoàng các loài hoa bởi vẻ đẹp kiêu sa và hương thơm quyến rũ, mà còn là một dược phẩm quý của thiên nhiên với những công dụng làm đẹp. “Hoa hồng có gai” vinh dự được gán cho những người đẹp.

Trong khi mỗi loài hoa đều có một câu chuyện tuyệt vời để kể, hoa hồng lại riêng biệt với vô vàn truyền thuyết và ý nghĩa. Nhiều đến độ chúng ta không thể không dành cho hoa hồng một cách đối xử ưu ái và một không gian riêng biệt với những biểu tượng phong phú của mình.

Được sử dụng từ hàng trăm năm nay để truyền tải thông điệp tình yêu phi ngôn ngữ, hoa hồng là một biểu tượng của niềm tin. Cụm từ tiếng Latinh sub rosa – dưới hoa hồng, ám chỉ một điều đang được giữ trong bí mật.

“Nữ hoàng của các loài hoa” Đó là cái tên kiêu sa mà người ta đặt cho hoa hồng. Không nhẹ nhàng như hoa bưởi, không rực rỡ như hoa phượng, không vàng tươi như hoa cúc. Hoa hồng mang một vẻ đẹp đằm thắm, bí ẩn khiến bao người đem lòng yêu.

Hoa hồng có xuất xứ từ xứ sở Ba Tư xa xôi. Hoa hồng có một lịch sử lâu đời và chúng là biểu tượng của tình yêu, sắc đẹp, chiến tranh và chính trị. Theo các mẫu hóa thạch thì hoa hồng đã có mặt cách đây 35 triệu năm. Vào khoảng 3000 năm trước công nguyên, người Sumerian, nay thuộc Iraq, đã có những ghi nhận đầu tiên về hoa hồng, khoảng 600 năm trước công nguyên, những bài thơ ca về hoa hồng đã ra đời, chúng ca ngợi vẻ đẹp hoa hồng như là nữ hoàng của các loài hoa. Hoa hồng phân bố rất rộng lớn từ Alaska cho đến Mexico và ở cả Bắc Phi. Ở mỗi nơi có đặc điểm khí hậu khác nhau lại có những loài hoa hồng khác nhau.

Hoa hồng thuộc giống thân cỏ. Thân cây mảnh chỉ bằng chiếc đũa, mang một xanh sẫm. Khắp thân nhỏ ấy là những chiếc gai nhọn bao phủ để bảo vệ cây khỏi kẻ thù. Vì thế khi hái hoa và chăm sóc chúng ta phải cẩn thận với những chiếc gai có thể làm chúng ta chảy máu này. Cành hoa hồng mang những chiếc lá hình bầu dục với rìa ngoài như mép răng cưa với hệ thống gân hình mạng nhện. Nhụy hoa được đặt trang trọng ở phần ngọn, nhỏ bé và được bao bọc lớp đài hoa phía dưới. Khi nở là lúc hoa hồng toả sắc đẹp kiêu hãnh của mình. Bông hồng có hình chiếc chén. Từng cánh hoa chụm vào nhau duyên dáng. Hoa hồng có nhiều cánh, xếp thành từng lớp. Cánh hoa hồng mềm và mịn. Hương hoa không ngào ngạt như hoa sữa mà thơm thoang thoảng. Một mùi hương dìu dịu mà quyến rũ.

Hoa hồng đa dạng và phong phú về loài. Theo như các nhà khoa học tìm hiểu thì có tới hơn 150 loài. Trước đây tự nhiên chỉ có những loài hồng nhung hoặc hồng trắng. Những bông hoa hồng màu sắc chủ yếu là đỏ thắm hoặc hồng phấn và có nhiều bông có sắc trắng tinh khôi. Cùng với xu hướng thị hiếu ngày càng cao, ngày nay người ta đã nhân giống thành công nhiều loại hoa hồng mới như hồng xanh, hồng vàng, hồng tím, hồng đen, hồng bảy sắc… vô cùng bắt mắt. Có nhiều cánh đồng hoa hồng màu sắc rực rỡ ở Châu Âu hay những ngày hội Hoa hồng hàng năm đủ để thấy sự phong phú đa dạng của hoa hồng.

Hồng trở thành loài hoa quen thuộc và gắn bó với cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Hoa hồng được trồng rất nhiều nơi. Ở Việt Nam có Đà Lạt là nơi trồng rất nhiều hoa hồng. Hoa ở đây rất đẹp và thơm. Nhiều xe buôn lên đây mua từ những vườn hồng những bó hoa lựa chọn kĩ càng mang về bán lại cho người dân theo nhu cầu của họ. Hoa hồng được dùng để trang trí trong các lọ thuỷ tinh, lọ sứ,… đầy kiêu sa. Căn phòng nhỏ có một lọ hoa hồng mang lại cảm giác dễ chịu và thẩm mĩ cao. Do cánh hoa hồng có khả năng thanh trùng, kháng khuẩn nên được sử dụng làm siro chữa ho, rất tốt cho trẻ nhỏ. Cánh hoa còn được dùng để chiết làm nước hoa. Nhiều nhãn hàng nước hoa nổi tiếng trên thế giới sử dụng hoa hồng làm thành phần chính: Chanel, Gucci,… Cánh hoa có khả năng thanh trùng nên được dùng làm nước tẩy trang rất tốt cho da người sử dụng.

Với vẻ đẹp, hình dáng cùng hương thơm nổi bật, hoa hồng là hoa biểu trưng được dùng nhiều nhất ở các nước phương Tây, nhất là Pháp. Trong văn hóa Ấn Độ, bông hồng được ví với vẻ đẹp của người Mẹ thánh thần, biểu thị một sự hoàn mĩ trọn vẹn và không có thiếu sót. Trong Kitô giáo, hoa hồng là sự hóa thân của những giọt máu, là chính vết thương của Chúa, nó trở thành biểu tượng của sự phục sinh huyền bí.

Chính vì hoa hồng là biểu tượng của tình yêu, lòng chung thuỷ, sự kính trọng mà hoa hồng còn là những món quà đơn giản dành tặng nhau. Ngày 20 – 10 người đàn ông sẽ tặng vợ, tặng mẹ,… những đóa hoa hồng đỏ thắm. Những ngày lễ tình yêu các chàng trai sẽ mua những bó hoa hồng tặng bạn gái thay lời yêu thương. Hay những ngày 20 – 11 học sinh mua bông hồng nhỏ tặng người thầy người cô kính trọng.

Hoa hồng có cách trồng đơn giản nhưng phải chăm sóc kĩ càng và cẩn thận để hoa có thể khoe hết được sắc đẹp của mình. Khi con người còn yêu hoa thì mãi mãi hoa hồng còn là biểu tượng sắc đẹp của muôn loài hoa.

Mỗi loài hoa đều mang trong mình những vẻ đẹp và ý nghĩa khác nhau. Nếu như hoa đào đem đến không khí Tết an khang, hạnh phúc. Hoa đồng tiền tượng trưng cho sự may mắn. Thì cũng không thể kể đến loài hoa xinh đẹp và kiều diễm như hoa hồng.

Cây hoa hồng có tên khoa học là Rose, có xuất xứ ôn đới và á nhiệt đới, vùng bắc bán cầu. Theo các nhà khoa học, thực vật học thì hoa hồng đã xuất hiện trên trái đất khoảng vài chục triệu năm, còn cây hoa hồng được con người thuần chủng đưa vào trồng trọt cũng đã cách nay khoảng vài ngàn năm. Phần lớn có nguồn gốc bản địa châu Á, số ít còn lại có nguồn gốc bản địa châu Âu, Bắc Mỹ, và Tây Bắc Phi. Các loài bản địa, giống cây trồng và cây lai ghép đều được trồng làm cảnh và lấy hương thơm. Ngày nay, cây hoa hồng đã được nhân rộng và trở thành loài hoa phổ biến trên khắp cả nước.

Advertisement

Hoa hồng thuộc học rễ chùm, là loại cây thân gỗ bụi, thân và cành có gai nhọn, đó là một trong những nét đặc trưng của cây hoa hồng. Đây là các cây bụi mọc đứng hoặc mọc leo, thân và cành có gai. Thân cây mảnh chỉ bằng chiếc đũa, mang một xanh sẫm. Khắp thân nhỏ ấy là những chiếc gai nhọn bao phủ để bảo vệ cây khỏi kẻ thù. Lá kép hình bầu dục, lá chét khía răng, có lá kèm. Hoa thơm, màu sắc đa dạng: hồng, trắng, vàng hay đỏ… Hoa thường có nhiều cánh, từng cánh hoa chụm vào nhau duyên dáng do nhị đực biến thành. Đế hoa hình chén. Quả bế, tụ nhau trong đế hoa tôn dày lên thành quả. Cây hồng đang độ trổ hoa, ở đầu mỗi cành có nhiều nụ lớn bằng đốt ngón tay, được bao bọc trong một lớp đài hoa màu xanh nhạt. Những nụ chị, nụ em chi chít, âm thầm chuẩn bị đến ngày khoe sắc, khoe hương. Hoa hồng khi hái về nhà có thể để được vài ngày với mùi hương dịu nhẹ lan tỏa khắp không gian.

Họ hàng nhà hồng rất đông, có nhiều loại có hoa hồng nhung màu đỏ thắm, cánh mịn, có loại hồng phấn. Ngày nay thì hoa hồng có nhiều màu khác nhau như màu tím, vàng, xanh,… Có rất nhiều những cánh đồng hoa hồng ở Châu Âu. Đến nơi đấy, tận hưởng vẻ đẹp của hoa hồng thì thật thích mắt. Nếu những bông hồng ta thường phát triển theo khóm, một khóm có thể có rất nhiều bông hoa, nhưng những bông hồng được bán trên thị trường ngày nay thì mọc độc lập trên một thân cây, thân thẳng tắp, mỗi cây chỉ phát triển được một bông hoa. Do đó mà bông hoa hồng này thường to hơn, màu sắc đẹp hơn, phù hợp với nhu cầu cho người sử dụng. Trên thị trường thì tùy thuộc vào từng loại hoa hồng với những giá cả theo mức phù hợp.

Hoa hồng ngày nay càng trở nên thân thuộc và gần gũi với mỗi con người Việt. Ở Việt Nam thì trồng chủ yếu là ở Đà Lạt với loài hoa đẹp. Hoa hồng còn được mệnh danh là “nữ hoàng của các loài hoa”. Hoa hồng có rất tác dụng. Hoa hồng được biết đến là loài hoa tượng trưng cho tình yêu, nhiều người thường chọn hoa hồng để gửi gắm những thông điệp yêu thương đến những người thân yêu của mình. Hoa hồng còn được dùng để trang trí phòng, để làm hoa nhân ngày sinh nhật. Ngày 20/11 hoa hồng được dùng rất nhiều trong dịp này để tri ân thầy cô. Hương thơm của hoa hồng lan tỏa khắp không gian tạo nên một mùi hương dễ chịu, sảng khoái tinh thần, tránh căng thẳng. Ngay từ thời cổ đại, hoa hồng được sử dụng là một phương pháp làm tăng hiệu ứng tích cực cho cơ thể con người, như tác động lên tâm trí và được sử dụng để làm đẹp da, người ta đã sử dụng hoa hồng làm ra nhiều loại nước hoa. Bên cạnh đó, hoa hồng không chỉ có tác dụng làm đẹp hoa hồng còn dùng làm thuốc chữa bệnh như mụn nhọt, dân gian còn dùng cánh hoa hồng hấp với đường phèn để chữa bệnh ho cho trẻ em.

Hoa hồng không biết tự bao giờ đã trở thành loài hoa gần gũi với con người chắc cũng bởi những vẻ đẹp kiêu sa và công dụng to lớn của nó. Hãy biết chăm sóc tốt cho loài cây này để nó mãi mang hương sắc cho đời, cho cuộc sống thêm tươi đẹp.

Không biết tự bao giờ, cây hoa hồng đã trở thành một loài hoa tôn quý, vẻ đẹp của nó không thanh cao như hoa mai, không sặc sỡ như hoa ngũ sắc. Nhưng nó mang một vẻ đẹp mềm mại mà nhẹ nhàng, êm đềm như tình cảm của con người.

Cây hoa hồng có tên khoa học là Rose, thuộc họ hoa hồng, có xuất xứ ôn đới và á nhiệt đới, vùng bắc bán cầu. Theo các nhà khoa học, thực vật học thì hoa hồng đã xuất hiện trên trái đất khoảng vài chục triệu năm, còn cây hoa hồng được con người thuần chủng đưa vào trồng trọt cũng đã cách nay khoảng vài ngàn năm. Người ta khẳng định hoa hồng đầu tiên ở Trung Quốc và Tiểu Á, sau đó mới du nhập vào châu Âu, những người châu Âu lại có công lai tạo ta giống hoa hồng hiện đại ngày nay. Trên thế giới, mỗi khi nhắc đến đất nước Bungari, người ta lại nhắc đến cây hoa hồng. Nếu như nói Nhật Bản là xứ sở của hoa anh đào thì Bungari lại là xứ sở của hoa hồng. Cây hoa hồng được trồng ở hầu khắp cả nước ta, đặc biệt là Đà Lạt.

Hoa Hồng thuộc họ rễ chùm, là loại cây thân gỗ bụi, thân và cành có gai nhọn, đó là một trong những nét đặc trưng của cây hoa hồng. Lá hoa hình bầu dục, rìa lá có răng cưa, gân lá hình mạng. Cánh hoa còn tùy thuộc vào từng loại hoa hồng. Hồng nhung Đà Lạt có thể xem là loại hồng đẹp nhất nước ta, cánh hoa mềm mại, xếp chồng xen kẽ lên nhau, gần như hình trái tim mang một màu đỏ tươi thắm, nó như hội tụ tất cả những tinh túy của đất trời, của cuộc sống, của thế giới các loài hoa. Hoa hồng có ba loại chính, đó là: hoa hồng dại, hoa hồng cổ điển và hoa hồng hiện đại.

Hồng dại thường được thấy ở những nơi hoang dã, mọc ngoằn nghèo nên còn gọi là hồng leo. Hồng cổ điển là những giống hồng được thuần chủng, lai tạo từ trước năm 1867. Còn hồng hiện đại là những giống hồng được lai tạo từ sau năm 1867. Ở nước ta, hoa hồng còn được phân loại theo đặc tính của cây như: hồng cứng, hồng thạch, hồng quế, hồng cánh sen, hồng vàng…

Cây hoa hồng như một món quà thiên nhiên đã ban tặng cho con người chúng ta, nó làm phong phú thêm đời sống vật chất và tinh thần của con người. Người ta nói, hoa hồng tượng trưng cho tình yêu: tình yêu gia đình, tình mẫu tử, tình thầy trò, tình yêu đôi lứa… Cây hoa hồng như mang trong nó tâm linh của loài người, mỗi cánh hoa như ấp ủ một nỗi niềm, một tình cảm sâu lắng nào đó của con người. Trong ngày lễ “vu lan”, vào chùa chúng ta thường thấy những bông hồng cài trên ngực áo thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng, rồi đến ngày Nhà giáo Việt Nam, từng lớp học trò lần lượt mang những cánh hồng đỏ thắm dâng tặng lên thầy, cô kính yêu như thể hiện lòng biết ơn. Ngày lễ Valentine, ngày 8/3… chúng ta cũng không quên những bông hồng xinh xắn tặng cho các mẹ, các chị và đặc biệt là người yêu mình. Cứ như thế, cây hoa hồng đi vào thơ ca một cách tự nhiên không biết từ lúc nào, chúng ta thường nghe câu nói dân gian Hoa đẹp là hoa có gai, câu nói đó ám chỉ cây hoa hồng, rồi ta cũng thường nghe bài hát Bông hồng cài áo, đọc tác phẩm Hoa hồng Bungari…

Không những phục vụ cho đời sống tinh thần, hoa hồng được phục vụ cho đời sống vật chất của con người. Một phòng họp, một phòng khách, một quán trà… có thêm một cành hồng trên bàn cùng đủ làm cho không gian thêm trang trọng và lãng mạn. Có thể nói rằng hoa hồng có tính trang trí cao. Hương hoa hồng không thơm ngát như hoa lài mà ngược lại rất nhẹ nhàng, dễ chịu. Vì vậy, hoa hồng được nhiều nước chọn nguyên liệu để làm nước hoa, mĩ phẩm, góp phần tôn lên vẻ đẹp của con người. Hoa hồng cũng được trồng để kinh doanh, thu lợi nhuận.

Nhìn chung, hoa hồng ở Việt Nam thích nghi nhiệt độ trung bình từ 18 – 25oC, độ ẩm tối đa 85%, lượng mưa trung bình hàng năm từ 1000-2000mm, độ pH từ 5,6 – 6,5. Trong mùa hè, do nhiệt độ lên cao, độ ẩm lớn cây hoa hồng có nguy cơ xuất hiện các loại bệnh như gỉ sắt, phấn trắng, rệp. Nếu cây bị nấm phấn trắng trong vụ xuân thì dùng đồng sulfat 1% để tưới, đồng thời phải cắt bỏ những cành bị bệnh nặng và đốt đi. Đất dùng để trồng hoa hồng phải bằng phẳng, tơi xốp.

Hoa hồng thường được nhân giống theo ba cách: giâm cành, chiết cành hoặc ghép cành.

Như thế, cây hoa hồng là loài hoa tượng trưng cho sắc đẹp và tâm tình, nó không thể thiếu trong đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người. Vì vậy, bảo vệ và phát triển giống hoa hồng là điều cần thiết mà con người cần làm hiện nay.

Mỗi khi nhắc đến thế giới loài hoa, thật khó có thể quên được loài hoa hồng kiêu sa, kiều diễm – loài hoa vốn được mệnh danh là “nữ hoàng của các loài hoa”. Đi sâu tìm hiểu về loài hoa này, chúng ta thấy có thật nhiều điều thú vị!

Hoa hồng vốn có nguồn gốc từ xứ sở Ba Tư xa xôi. Từ đất nước Ả-rập thần bí này, hoa hồng đến với khắp các quốc gia trên thế giới. Cho đến nay, có lẽ chưa có mảnh đất nào có bóng con người mà hoa hồng chưa đặt chân đến. Nhưng nổi tiếng nhất, có thể nhắc đến hoa hồng của những đất nước Bun-ga-ri. Một nhà thơ Việt nam đã từng thốt lên:

Hoa hồng Bun-ga-ri. Ôi! Loài hoa diệu kì!

Có lẽ chính vẻ đẹp và những ý nghĩa thiêng liêng của hoa hồng đã tạo nên sức hút diệu kì thu hút và chinh phục hàng triệu trái tim con người.

Hoa hồng thuộc giống thân cỏ và có rất nhiều loài. Có loài thân leo, có loài thân thẳng. Có loài không gai, có loài có gai. Tuy nhiên, phổ biến tiếp từ thân cây. Lá hoa thường có ba nhánh hình bầu dục, viền có răng cưa. Ngoài ra, trên thân cây thường có gai sắc, nhọn. Tuy nhiên, cũng có loài được lai ghép nên thân trơn nhẵn khiến người ôm hoa không sợ bị gai đâm. Nụ hoa được đặt trang trọng trên đỉnh của thân cây. Dưới nụ hoa xanh tươi còn có đài hoa nâng đỡ. Đủ ngày đủ tháng, nụ hoa bung nở hàng chục cánh hoa mềm mịn đan xếp vào nhau kiêu sa, quyến rũ. Cánh hoa hồng cũng có hình bầu dục, to hơn xu đồng tiền, cánh hoa rất mịn (“mịn như nhung”, nên có loài hoa hồng tên gọi là hồng nhung) và êm nhẹ. Đặc biệt, cánh hoa hồng thường có rất nhiều màu: màu đỏ, màu hồng, màu vàng, màu cam… Với mỗi màu lại có những sắc độ khác nhau: đỏ tươi, huyết dụ, đỏ nhung.

Hoa có rất nhiều tác dụng trong đời sống hàng ngày. Điều dễ thấy là hoa hồng được dùng để làm cảnh trong nhiều gia đình. Chúng ta trồng hoa hồng trong vườn nhà, chúng ta cắm hoa hồng trong lọ, chúng ta tặng nhau những đóa hoa hồng… Sở dĩ hoa hồng thường được trao tặng nhau một cách trang trọng như thế bởi hoa hồng có nhiều ý nghĩa. Hoa hồng đỏ tượng trưng cho tình yêu cháy bỏng, nồng nàn. Hoa hồng vàng thể hiện tình bạn cao quý, chân thành. Hoa hồng cam thể hiện sự thành đạt, hiển vinh… Số lượng hoa hồng trong mỗi đoá cũng mang những ý nghĩa nhất định thể hiện suy nghĩ của người tặng, đặc biệt là đối với những đoá hồng đỏ. Không chỉ dùng để làm đẹp, hoa hồng còn rất nhiều tác dụng khác. Từ cánh hoa hồng, nhiều quốc gia đã chiết xuất tinh dầu tạo nên những nền công nghiệp nước hoa khổng lồ như Bun-ga-ri, Pháp,… Cũng từ hoa hồng, dân gian ta chế ra những bài thuốc chữa nhiều bệnh thông thường: cảm, đau bụng,…

Có nhiều tác dụng như vậy nhưng hoa hồng không hề khó tính chút nào. Hoa có thể nở bốn mùa trong năm để dâng hương sắc cho cuộc đời đầy ý nghĩa này. Ở nước ta, hoa hồng đẹp nổi tiếng nhất là hoa hồng của cao nguyên Đà Lạt. Từ Đà Lạt, hoa hồng chẳng những đi khắp mọi nẻo đường đất nước mà hoa còn đến với bạn bè khắp năm châu.

….

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Dàn Ý & 9 Bài Văn Thuyết Minh Lớp 8 Hay

Thơ lục bát có nguồn gốc lâu đời, chính là tinh hoa của nước ta, thể thơ có sự phóng khoáng chứ không quá nghiêm ngặt như thơ Đường luật. Với 9 bài thuyết minh thơ lục bát sẽ giúp các em hiểu rõ hơn, để viết bài văn thuyết minh thật hay.

1. Mở bài

Giới thiệu khái quát về thể thơ lục bát (do người Việt sáng tạo, dễ bộc lộ cảm xúc).

2. Thân bài

a. Các đặc điểm của thể thơ lục bát

* Lục bát chỉnh thể – (tuân đúng những quy định)

– Số câu, số tiếng:

Số dòng: Một câu gồm hai dòng (một cặp) gồm: Một dòng có sáu tiếng và một dòng có tám tiếng.

Số câu: Không giới hạn nhưng khi kết thúc phải dừng lại ở câu tám tiếng.

– Cách gieo vần:

Âm tiết cuối của dòng sáu hiệp vần với âm tiết thứ sáu của dòng tám theo từng cặp. Âm tiết cuối của dòng tám lại hiệp vần với âm tiết thứ sáu của dòng sáu nối tiếp. Cứ thế luân chuyển như vậy cho đến hết bài.

Vần cuối dòng là vần chân, vần ở giữa dòng là vần lưng.

– Phối thanh:

Chỉ bắt buộc: các tiếng thứ tư phải là trắc; các tiếng thứ hai, sáu, thứ tám phải là bằng.

Những câu tám tiếng thì tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám phải khác dấu (nếu tiếng trước là dấu huyền thì tiếng sau phải không có dấu và ngược lại).

Các tiếng thứ một, ba, năm, bảy của cả hai câu sáu tiếng, tám tiếng và âm tiết thứ hai (của cả hai câu) có thể linh động tuỳ ý về bằng trắc

– Nhịp và đối trong thơ lục bát:

Cách ngắt nhịp: thường là nhịp chẵn.

Đối: Thơ lục bát không nhất thiết phải sử dụng phép đối. Nhưng đôi khi để làm nổi bật một ý nào đó, người làm thơ có thể sử dụng tiểu đối trong từng cặp hoặc từng câu thơ.

* Lục bát biến thể (không tuân thủ quy tắc)

Số chữ tăng lên: Vần lưng tất nhiên cũng xê dịch theo.

Thanh: Tiếng thứ hai có thể là thanh trắc:

Gieo vần: Có thể gieo vần trắc.

b. Tác dụng của thơ lục bát

Phản ánh và cô kết trung thành những phẩm chất thẩm mĩ của Tiếng Việt.

Cách gieo vần và phối thanh, ngắt nhịp giản dị mà biến hoá vô cùng linh hoạt, phong phú và đa dạng làm cho thơ lục bát dồi dào khả năng diễn tả.

3. Kết bài

Nêu vị trí của thơ lục bát trong nền văn học Việt Nam.

Bắt nguồn từ ca dao, dân ca, được phát triển qua các truyện thơ Nôm, các kịch bản ca kịch dân tộc và đạt đến mức hoàn thiện với các thiên tài như Nguyễn Du …

Được tiếp tục phát huy qua các thế hệ sau như Tố Hữu …

Lục bát được xem là một trong những thể thơ ra đời sớm ở Việt Nam. Bởi thơ lục bát giản dị; gần gũi; gắn bó với người nông dân, nhân dân Việt nên được ưa chuộng rất nhiều. Nói đến thơ lục bát Việt Nam ta như dựng lên cả một bức tranh hòa hợp; hữu tình; đậm đà trong đó. Thơ lục bát- thơ truyền thống của con người Việt, dân tộc Việt.

Thể thơ Lục Bát có nguồn gốc lâu đời trong lịch sử văn học nhân loại. Có nhiều ý kiến cho rằng thơ lục bát xuất hiện từ cuối thế kỉ XV; là bắt nguồn từ các câu ca dao; đồng dao của người nông dân; người lao động để xua tan mệt mỏi; hứng thú hăng say lao động. Trải qua hàng nghìn năm phát triển thơ lục bát cũng ngày càng hoàn thiện hơn; khuôn mẫu hơn và có những biến chuyển cho phù hợp với tiêu chí thơ ca, trở thành nét đặc sắc rất riêng của người Việt.

Về cấu tạo, thơ lục bát gồm một cặp câu đối ứng. Một câu 6 chữ bên trên và câu 8 chữ đặt liền kề bên dưới. Trong bài không giới hạn số câu. Thông thường sẽ mở đầu bằng câu 6 chữ và kết thúc bằng câu 8 chữ trừ những trường hợp đặc biệt với ẩn ý, tình cảm và dư vị riêng của tác giả. Hai câu thơ đan xen, hài hòa, bệ đỡ nhau nhằm biểu đạt ý nghĩa rất riêng của cặp câu và ý nghĩa chung cho toàn bài.

Tuy là thể thơ phóng khoáng; gợi nhiều hơn tả nhưng thơ Lục Bát vẫn tôn trọng nghiêm ngặt quy luật về thanh. Cũng giống như thơ đường Luật; thanh trong câu lục bát cũng phải theo sườn: Nhất; tam; ngũ bất luận nhị tứ lục phân minh. Theo đó, các tiếng 2 4 và 6 sẽ theo khuôn khổ. Cụ thể như sau:

Đối với câu lục: 2-4-6 lần lượt sẽ là Bằng(B)- Trắc- Bằng. Đối với câu bát: các thanh 2-4-6-8 sẽ tương ứng với B-T-B-B (Tiếng thứ 6 với tiếng thứ 8 không được đồng dấu). Quy luật chặt chẽ về thanh tạo nên âm hương thanh nhẹ; cộng hưởng trong mỗi cặp câu thơ tương ứng.

Một điểm đặc trưng không thể trộn lẫn của thể thơ lục bát đó chính là cách gieo vần của thơ. Vần được sử dụng trong thơ hầu hết là vần bằng. Tùy khả năng tác giả và tình cảm cũng như nội dung biểu đạt mà có thể gieo nhiều vần linh hoạt, vấn đề này không hề khiên cưỡng nhưng nhà thơ vẫn phải đáp ứng yêu cầu: đó là tiếng cuối cùng câu lục phải hiệp vần với tiếng thứ 6 của câu bát, cứ như thế tiếp tục cho đến hết bài. Sở dĩ có quy định như vậy là để thơ được xuyên suốt, dòng cảm xúc được bất tận và thăng hoa. Ví dụ như trong bài thơ Quê hương nỗi nhớ có viết:

Nỗi nhớ quê hương trong lòng tác giả như trải dài ra đầy miên man, da diết, dư cảm đong đầy. Nổi tiếng với bút danh thơ của dân gian; thơ gần gũi Thơ lục bát khoác trên mình cái dáng vẻ nền nã; đôi lúc trầm mặc; yên ả nhưng đôi lúc cũng dữ dội; da diết khôn cùng. Chính nhịp thơ đã làm chất hồn; chất sóng trong thơ. Để diễn tả nỗi buồn đau thê lương tha thiết người ta dùng nhịp chẵn 2/2/2; 4/4. Trái lại để diễn tả dữ đội; xúc cảm mạnh mẽ; quyết liệt; những đột ngột bất ngờ ta dùng nhịp lẻ 1/5; 3/5 Và đôi khi để nhấn mạnh; để phô bày cái cảm xúc hạnh phúc, vui sướng ta lại dùng nhịp 3/3.

Thơ lục bát là thể thơ được sử dụng khá nhiều trong cả văn nói lẫn văn viết bởi khả năng sử dụng linh hoạt; ý nghĩa câu từ phong phú; đơn giản; không kén người đọc; người nghe; người sáng tác. Thơ lục bát xuất hiện nhiều chiều trong cuộc sống từ sinh hoạt đến vui chơi; giải trí; lao động. Thơ lục bát là tiếng nói hạnh phúc; ngọt ngào của tình yêu đôi lứa:

Là tình yêu gia đình, xóm làng thống thiết:

Và đó còn là những giọt tâm sự sâu cay của người phụ nữ trong xã hội bạc bẽo:

Thơ lục bát là tiếng nói, là nhịp đập của người nhân dân Việt Nam; thể hiện biết bao ước mơ về một cuộc sống âm no; thái bình thịnh trị của đất nước Đại Việt. Những bài thơ Lục bát nổi tiếng như vẫn còn nguyên hơi thở và giá trị cho đến ngày nay ta có thể kể đến như Truyện Lục Vân Tiên; Truyện kiều hay những câu ru con chan chứa nghĩa lý nghĩa tình. Hiện nay với sự phát triển và làm giàu hơn vốn văn thơ nước nhà thể thơ lục bát có nhiều dạng biến thể phong phú hơn: nhịp; tăng số tiếng; tiếng lục bát biến thể giảm số tiếng; hiệp vần thay đổi;… Nhưng dù thay đổi nó vẫn mang một khí chất rất riêng rất nồng nàn truyền thống.

Kho tàng thơ văn Việt Nam có rất nhiều những tác phẩm đặc sắc, từ nội dung cho đến từng thể loại. Và khi nhắc riêng đến thi ca Việt Nam thì chúng ta không thể không nhắc đến những bài thơ đã đi sâu vào tiềm thức mỗi người như Truyện Kiều của Nguyễn Du hay cho đến các câu ca dao được bà, được mẹ đưa vào mỗi giấc ngủ.

Tất cả từng câu từng chữ như mang một giai điệu khác nhau và khi được kết hợp bằng thể lục bát thì chúng như hòa vào làm một, thật nhịp nhàng và hoàn hảo, nhưng lại gần gũi, mộc mạc, chân chất như chính hơi thở cuộc sống. Lục bát là phương tiện phổ dụng để người Việt giải tỏa tâm sự, kí thác tâm trạng, thăng hoa tâm hồn.Gắn với tiếng Việt, gắn với hồn Việt, thơ lục bát đã thuộc về bản sắc dân tộc này.Thật tự hào mỗi khi nhắc đến thể thơ của dân tộc là nhắc đến lục bát.

Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đi tìm câu trả lời nhưng đây vẫn là câu hỏi chưa có câu trả lời chính xác, chỉ biết là đã từ rất lâu rồi. Văn hóa đặc trưng của người Việt là văn hóa lúa nước, gắn liền với lao động sản xuất nên luôn có những cách sáng tạo để quên đi nỗi nhọc nhằn sớm hôm. Họ thường vừa cùng nhau làm việc trên đồng, vừa cùng nhau sáng tạo thi ca. Đơn giản chỉ là thể hiện những ước mong giản đơn:

Đơn vị cơ bản của thơ lục bát gồm một cặp câu: câu lục (sáu tiếng) và câu bát (tám tiếng). Thông thường một bài thơ lục bát thường được mở đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát.Về số lượng câu trong một bài thơ lục bát không hề bị giới hạn nghiêm ngặt như các bài thơ đường luật. Một bài thơ lục bát có thể bao gồm hai hoặc bốn câu như:

Hoặc cũng có thể kéo dài ra hàng nghìn câu thơ, mà điển hình nhất mà ta có thể kể đến, đó chính là kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều) của đại thi hào Nguyễn Du ( gồm 3253 câu, trong đó gồm 1627 câu lục và 1627 câu bát). Số lượng câu thơ hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung và ý đồ mà nhà văn muốn truyền tải độc giả.

Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà.Các vần chính là hình thức kết dính các câu thơ lại với nhau, tạo ra “tiếng nhạc” cho cả bài thơ.Vần trong thơ lục bát có hai loại: vần lưng và vần chân. Hai dòng lục bát hiệp theo vần lưng có nghĩa là tiếng thứ sáu của câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát. Nếu tiếp tục kéo dài thì tiếng thứ tám của câu bát lại vần với tiếng thứ sáu của câu lục bên dưới. Đó là vần chân. Ví dụ:

Quy luật phối thanh của thơ lục bát khá linh hoạt, uyển chuyển. Thường thường thì ở câu lục các tiếng ở vị trí thứ hai, bốn, sáu là bằng (B), trắc (T), bằng (T), còn ở câu bát các tiếng ở vị trí thứ hai, bốn, sáu, tám là B-T-B-B.

Nhịp trong thơ lục bát phần lớn là nhịp chẵn, tạo nên âm điệu êm đềm, thong thả, thích hợp làm lời hát ru, hát ngâm.

Ví dụ:

Hay có thể đảo nhịp:

Thơ lục bát từ lâu đến nay luôn có một vị trí vững chắc trong lòng mỗi người dân đất Việt. Chúng ta dùng lục bát để bày tỏ những tâm tư tình cảm, những cung bậc cảm xúc của mình trong cuộc sống, công việc, tình bạn, tình yêu,… Chúng ta cũng đến với lục bát như là chốn an yên cho tâm hồn được tĩnh lặng sau những giông bão, khó khăn của cuộc đời, là được trở về với ấu thơ cùng câu hát ru chứa chan yêu thương của bà, của mẹ. Chẳng thể tìm ở đâu được loại thơ mà từng câu từng chữ đều mang giai điệu, đều chất chứa cảm xúc mà lại gần gũi, mộc mạc đến lạ.

Dù không rõ là bắt đầu từ khi nào nhưng lục bát là đứa con cưng của tiếng Việt, tiếng Việt đã nuôi lớn lục bát, đồng thời, chính lục bát cũng góp mình làm cho tiếng Việt hay hơn, đẹp hơn.

Trong nền văn học đồ sộ của Việt Nam, để làm nên các tác phẩm thực sự có giá trị không thể kể đến công lao của các hình thức thơ mà các nhà thơ, nhà văn đã lựa chọn làm chất liệu cho tác phẩm của mình. Nếu nói nội dung là phần hồn của bài thơ, bài văn thì hình thức thơ lại được xem là phương tiện truyền tải để những nội dung ấy, quan niệm của tác giả có thể đến được với bạn đọc. Một trong những thể thơ được xem là mang đậm màu sắc của dân tộc Việt Nam có thể kể đến là thể thơ lục bát.

So với nền văn học già lâu đời như nền văn học Trung Hoa, nền văn học Việt Nam có thể coi là non trẻ hơn. Nhưng qua bao thế hệ người Việt Nam luôn có ý thức trong việc tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, sau đó tiếp thu, chọn lọc một cách có sáng tạo vào Việt Nam, sự chọn lọc này hoàn toàn sáng tạo, bởi người Việt Nam ta chỉ tiếp thu những cái phù hợp nhất với quốc gia, dân tộc mình, và sự kế thừa đó không phải sao chép mà là sáng tạo. Nhìn lại quá trình tiếp thu ấy ta có thể thấy được bản lĩnh dân tộc của con người Việt Nam.

Xét về thể loại và các hình thức thơ trong văn học, người Việt Nam bên cạnh tiếp thu của người Trung Hoa như thể thơ cổ phong hay thơ Đường luật. Bên cạnh đó, ông cha ta cũng sáng tạo riêng cho dân tộc mình những thể thơ độc đáo, mang đậm màu sắc, văn hóa của dân tộc Việt Nam, như thể thơ Song thất lục bát hay thể thơ Lục bát đã trở nên vô cùng quen thuộc trong văn học Việt Nam. Trong đó, thể thơ Lục bát được nhiều nhà thơ lựa chọn làm chất liệu để xây dựng nên các tác phẩm văn chương của mình, cũng là xây dựng nên những bài văn mang đậm tinh thần dân tộc nhất.

Thơ lục bát là thể thơ bao gồm có hai phần câu sáu (câu lục) và câu tám (câu bát) nối tiếp nhau. Thông thường một bài thơ lục bát thường được mở đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát. Về số lượng câu trong một bài thơ lục bát không hề bị giới hạn nghiêm ngặt như các bài thơ đường luật hay thể thơ song thất lục bát. Một bài thơ lục bát có thể bao gồm hai hoặc bốn câu như:

Hoặc cũng có thể kéo dài ra hàng nghìn câu thơ, mà điển hình nhất mà ta có thể kể đến, đó chính là kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều) của đại thi hào Nguyễn Du ( gồm 3253 câu, trong đó gồm 1627 câu lục và 1627 câu bát). Số lượng câu thơ hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung và ý đồ mà nhà văn muốn truyền tải đến những độc giả.

Về cách gieo vần, thơ Lục bát tuy không bị giới hạn bởi những luật lệ nghiêm ngặt như thể thơ Đường luật nhưng vẫn phải đảm bảo những yếu tố cơ bản. Cụ thể là trong một bài thơ Lục bát thì câu thơ cuối của câu lục phải vần với câu thơ thứ sáu của câu bát. Tương tự, câu cuối của câu bát phải hiệp vần với câu cuối của câu lục. Có thể lấy một ví dụ trong bài thơ “Việt Bắc” của nhà thơ Tố Hữu như:

Những câu thơ trên thể hiện được tình cảm thiết tha, gắn bó của nhà thơ Tố Hữu với chiến khu Việt Bắc. Nhưng ở đây ta quan tâm đến cách gieo vần của bốn câu thơ này. Như ta thấy, câu thơ cuối của câu lục kết thúc là chữ “ta” thì trong câu thơ thứ tám của câu bát được hiệp vần bằng từ “tha”. Tương tự, câu bát kết thúc bằng vần “ông” thì câu cuối của câu lục lại được hiệp vần bằng từ “không”. Chính vì đảm bảo những quy tắc trên mà những câu thơ lục bát đọc lên rất dễ nhớ, dễ hiểu, dù đọc một lần thì người đọc cũng có thể có thể đọc lại.

Về thanh điệu của bài thơ Lục bát ta có thể thấy, chữ thứ hai và chữ thứ sáu của câu bát thì đều là vần bằng, nhưng yêu cầu đặt ra ở đây là chúng không được cùng một thanh. Nếu thứ thứ sáu là thanh không có dấu , hay còn gọi là phù bình thì chữ thứ tám phải thuộc thanh trầm bình. Ví dụ cụ thể như trong bài ca dao sau:

Như vậy, ta có thể thấy một cách khái quát về định nghĩa cũng như những đặc điểm, những luật lệ cơ bản trong một bài thơ lục bát. Qua đó ta cũng phần nào hiểu được cách mà các nhà thơ sáng tạo ra một tác phẩm văn chương, đó là cả một quá trình, vừa thể hiện được tài năng, vừa thể hiện được tư duy nhanh nhạy của các thi sĩ.

Lục bát là một trong hai thể loại thơ chính của Việt Nam (lục bát và song thất lục bát). Thơ lục bát ở Việt Nam được truyền bá và phát triển hàng trăm năm nay. Thơ lục bát đã thấm đẫm tâm hồn người Việt chúng ta vì đó là thể thơ trong ca dao, đồng dao và các bài ru con. Ngày nay thơ lục bát vẫn được các nhà thơ hiện đại tiếp thu, hoàn chỉnh và giữ một vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Thể thơ lục bát rất giản dị về quy luật, dễ làm thường dùng để diễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau trong tâm hồn con người.

Thể thơ lục bát có nguồn gốc lâu đời, là một thể thơ dân tộc ta, thơ lục bát bao gồm có thể từ hai câu trở lên. Trong đó thì cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu. Các cặp câu gồm có một câu sáu tiếng (câu lục) và một câu tám tiếng (câu bát), và xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác, số câu trong bài không giới hạn. Thông thường thì bắt đầu bằng câu sáu chữ và chấm dứt ớ câu tám chữ. Nhưng cũng có khi kết thúc bằng câu sáu để đạt tính cách lơ lửng, thanh và vần, vì vậy tìm hiểu thơ lục bát là tìm hiểu về luật và vần của nó. Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà. Các vần chính là hình thức kết dính các câu thơ lại với nhau.

Luật thanh trong thơ lục bát: Thơ lục bát có 2 câu chuẩn là câu lục và 2 câu là câu bát, cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắc nhất, tam, ngũ bất luận; nhị, tứ, lục phân minh. Nghĩa là các tiếng thứ 1, 3, 5 trong câu có thể tự do về thanh, nhưng các tiếng thứ 2, 4, 6 thì phải theo luật chặt chẽ. Luật như sau:

Câu lục: Theo thứ tự tiếng thứ 2 – 4 – 6 là Bằng (B) – Trắc (T) – Bằng (B). Câu bát: Theo thứ tự tiếng thứ 2 – 4 – 6 – 8 là B – T – B – B

Ví dụ như:

(Tố Hữu)

Về phối thanh, chỉ bắt buộc các tiếng thứ tư phải là trắc, các tiếng thứ hai, thứ sáu, thứ tám phải là bằng, nhưng trong câu tám các tiếng thứ sáu thứ tám phải khác dấu, nếu trước là dấu huyền thì sau phải là không dấu hoặc ngược lại:

Thế nhưng đôi khi có thể tự do về tiếng thứ hai của câu lục hay câu bát, có thể biến nó thành thanh trắc. Hoặc là câu lục giữ nguyên mà câu bát thì lại theo thứ tự T – B – T – B những câu thơ thế này ta gọi là lục bát biến thể.

Ví dụ:

Hay:

Cách gieo vần trong thơ lục bát: Thơ lục bát có cách gieo vần khác với các thơ khác. Có nhiều vần được gieo trong thơ nhiều câu chứ không phải là một vần, điều này tạo cho thơ lục bát tính linh hoạt về vần. Thể thơ lục bát thường được gieo vần bằng; tiếng cuối của câu lục hiệp với tiếng thứ sáu của câu bát, tiếng thứ sáu của câu bát hiệp với tiếng của câu lục tiếp; cứ như thế đến hết bài lục bát:

Như thế ngoài vần chân có ở hai câu 6 và 8, lại có cả vần lưng trong câu tám.Tiểu đối trong thơ lục bát: Đó là đôi thanh trong hai tiếng thứ 6 (hoặc thứ 4) của câu bát với tiếng thứ 8 câu đó. Nếu tiếng này mang thanh huyền thì tiếng kia bắt buộc là thanh ngang và ngược lại.

Ví dụ:

(Bích câu kỳ ngộ)

Cách ngắt nhịp trong thơ lục bát: Thơ lục bát thông thường ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, hoặc 4/4 để diễn tả những tình cảm thương yêu, buồn đau…

Đôi khi để nhấn mạnh nên người ta đổi thành nhịp lẻ đó là nhịp 3/3: Chồng gì anh/ vợ gì tôi Chẳng qua là cái nợ đòi chi đây. Khi cần diễn đạt những điều trắc trở, khúc mắc, mạnh mẽ, đột ngột hay tâm trạng bất thường, bất định thì có thể chuyển sang nhịp lẻ 3/3, 1/5, 3/5… Thể thơ lục bát với cách gieo vần, phối thanh và ngắt nhịp giản dị mà biến hóa vô cùng linh hoạt, phong phú và đa dạng, nó rất dồi dào khả năng diễn tả. Đa số ca dao được sáng tác theo thể lục bát. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu có hơn 90% lời thơ trong ca dao được sáng tác bằng thể thơ này.

Từ những đặc trưng cấu trúc ngữ nghĩa trên có thể thấy về cơ bản thể thơ lục bát vẫn là thể thơ nền nã, chỉnh chu với những quy định rõ ràng về vần nhịp, về số tiếng mỗi dòng thơ, về chức năng đảm trách của mồi câu trong thể. Tuy vậy cũng có lúc câu lục tràn sang câu bát, câu lục và câu bát dài quá khổ, có khi xê dịch phối thanh, hiệp vần… đó là dạng lục bát biến thể. Sự biến đổi đó là do nhu cầu biểu đạt tình cảm ngày càng phong phú, đa dạng phá vỡ khuôn hình 6/8 thông thường. Tuy nhiên dù phá khuôn hình, âm luật, cách gieo vần của thể thơ lục bát cơ bản vẫn giữ nguyên. Đó là dấu hiệu đặc trưng cho ta nhận biết nó vẫn là thể lục bát.

Bên cạnh lục bát truyền thống còn có lục bát biến thể là những câu có hình thức lục bát nhưng không phải trên sáu dưới tám mà có sự co giãn nhất định về âm tiết về vị trí hiệp vần… Hiện tượng lục bát biến thể là vấn đề đáng chú ý trong ca dao, chúng ta có thể xem xét một số trường hợp: Lục bát biến thể tăng, tiếng lục bát biến thể giảm số tiếng.

Xét về mặt nội dung thơ lục bát diễn đạt tâm trạng nhiều chiều của nhân vật trữ tình. Thông thường người bình dân hay mượn thể loại văn vần này để bày tỏ nỗi lòng, tâm trạng của mình trong cuộc sống, sinh hoạt, tình yêu… Do vậy thể thơ chủ yếu của ca dao vần là thể lục bát vì nó có khả năng diễn đạt tất thảy những cung bậc cảm xúc như: Tình yêu trai gái, tình yêu gia đình, xóm làng, yêu đồng ruộng, đất được, yêu lao động, yêu thiên nhiên. Dân tộc nào cũng có một thể thơ, một điệu nhạc phù hợp với cách điệu cuộc sống của dân tộc đó. Lục bát là thể thơ hài hòa với nhịp đập của con tim, nếp nghĩ, cách sinh hoạt của người dân Việt Nam. Ca dao, tiếng nói mang đầy âm sắc dân tộc cũng được chuyền tải bằng lục bát. Việc sáng tạo thể thơ độc đáo này thể hiện đời sống tinh thần phong phú của người bình dân, rất nhiều nhà thơ thành công nhờ thể thơ này. Những truyện thơ vĩ đại nhất của Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên đều được thể hiện bằng hình thức thơ Lục bát. Sau này các nhà thơ hiện đại cũng đã rất thành công khi vận dụng thể lục bát trong các sáng tác của mình. Nguyễn Bính, Đồng Đức Bốn tiêu biểu cho dòng lục bát dân gian. Dòng lục bát trí tuệ có thể xem Lửa thiêng của Huy Cận trong phong trào Thơ Mới là thành tựu mở đầu. Dòng lục bát hiện đại có Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Tố Hữu…

Như vậy, lục bát là thể thơ vô cùng quan trong trong nền văn học của dân tộc.

Trong nền thơ ca phong phú của dân tộc, lục bát chính là thể thơ tiêu biểu nhất – một thể thơ cách luật cổ điển thuần túy Việt Nam.

Về nguồn gốc, thể thơ lục bát vốn rất phổ biến trong ca dao dân ca và lời ăn tiếng nói của dân tộc. Bởi thê mà, nhiều người nhầm lẫn thể thơ này có từ lâu đời. Thực tế, thể thơ lục bát có thể xuất hiện vào khoảng trước thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII. Từ một loại hình nghệ thuật dân gian, lục bát trở thành một kiểu loại của văn học viết và bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các thế kỉ sau đó.

Thể thơ này gắn bó với cuộc sống văn hóa tinh thần của dân tộc. Từ lối nói vần nói vè đến đối đáp giao duyên, than thân trách phận, tranh đấu tuyên truyền đều dùng thể thơ lục bát. Thơ lục bát rất giản dị về quy luật, dễ làm, thường dùng để diễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau trong tâm hồn con người.

Một bài lục bất phải bao gồm từ hai câu trở lên. Trong đó thì cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu. Các cặp câu gồm có một câu 6 tiếng (câu lục) và một câu 8 tiếng (câu bát) và xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác, số câu trong bài không giới hạn. Chính đặc điểm này có thể xem lục bát là một thể loại đoản thiên hay trường thiên đều được.

Đơn vị cơ bản của thể thơ này là một tổ hợp gồm hai câu sáu tiếng và tám tiếng. Số câu không hạn định, về gieo vần, chủ yếu là vần bằng, cứ mỗi cặp hai câu mới đổi vần. Tiếng cuối câu sáu vần với tiếng thứ sáu câu tám, rồi tiếng cuối câu tám lại vần với tiếng cuối câu sáu sau. Như thế ngoài vần chân có cả ở hai câu sáu và tám, lại có cả vần lưng trong câu tám. Ví dụ như trong bài ca dao sau:

(Ca dao)

Luật thanh trong thơ lục bát; Thơ lục bát có hai câu chuẩn là câu lục và câu bát, cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắc nhất, tam, ngũ bất luận; nhị, tứ, lục phân minh. Nghĩa là các tiếng thứ 1, 3, 5 trong câu có thể tự do về thanh, nhưng các tiếng thứ 2, 4, 6 thì phải theo luật chặt chẽ. Luật như sau:

Về phối thanh, chỉ bắt buộc các tiếng thứ tư phải là trắc, các tiếng thứ hai, thứ sáu, thứ tám phải là bằng. Nhưng trong câu tám, hai tiếng thứ sáu và thứ tám phải khác dấu. Nếu trước là dấu huyền thì sau phải là không dấu, hoặc ngược lại:

(Truyện Kiều)

Cách gieo vần trong thơ lục bát: Thơ lục bát có cách gieo vần khác với các thơ khác. Có nhiều vần được gieo trong thơ nhiều câu chứ không phải là một vần, điều này tạo cho thơ lục bát tính linh hoạt về vần. Thể thơ lục bát thường được gieo vần bằng; tiếng cuối của câu lục hiệp với tiếng thứ sáu của cậu bát, tiếng thứ sáu của câu bát hiệp với tiếng của câu lục tiếp; cứ như thế đến hết bài lục bát:

(Truyện Kiều)

Ngoài vần chân có cả ở hai câu 6, 8 lại có cả vần lưng trong câu tám. Tiểu đối trong thơ lục bát: Đó là đối thanh trong hai tiếng thứ 6 (hoặc thứ 4) của câu bát với tiếng thứ 8 câu đó. Nếu tiếng này mang thanh huyền thì tiếng kia bắt buộc là thanh ngang và ngược lại:

(Chinh phụ ngâm khúc)

Cách ngắt nhịp trong thơ lục bát: Thơ lục bát thông thường ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, hoặc 4/4 hoặc để diễn tả những tình cảm thương yêu, buồn đau…

(Chinh phụ ngâm khúc)

Khi cần diễn đạt những điều trắc trở, khúc mắc, mạnh mẽ, đột ngột hay tâm trạng bất thường, bất định thì có thể chuyển sang nhịp lẻ 3/3, 1/5, 3/5…

(Truyện Kiều)

Ngoài ra, còn có thể loại lục bát biến thể. Luật thơ vẫn tuân thủ luật thơ lục bát nhưng số chữ hoặc cách gieo vần có thể thay đổi. Kiểu biến thể vốn phổ biến trong ca dao:

(Ca dao)

Thơ lục bát diễn đạt tâm trạng nhiều chiều của nhân vật trữ tình. Thông thường người bình dân hay mượn thể loại văn vần này để bày tỏ nỗi lòng, tâm trạng của mình trong cuộc sống, sinh hoạt, tình yêu… Do vậy thể thơ chủ yếu của ca dao vẫn là thể lục bát vì nó có khả năng diễn đạt tất thảy những cung bậc cảm xúc như: tình yêu trai gái, tình yêu gia đình, xóm làng, yêu đồng ruộng, đất đai, yêu lao động, yêu thiên nhiên…

Ở xã hội hiện đại, việc con người dành thời gian để thưởng thức một tác phẩm thơ ca đã ngày càng ít đi. Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển sẽ vô cùng quan trọng, cần thiết đối với con người.

Thể thơ lục bát được coi là thể thơ của dân tộc. Nó chứa đựng nhiều giá trị sâu sắc về truyền thống văn hóa của dân tộc.

Thể thơ này bao gồm tối thiểu là hai câu: một câu sáu (câu lục) và một câu tám (câu bát) nối tiếp nhau. Một bài thơ lục bát thường được mở đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát. Về số lượng câu trong một bài thơ lục bát không hề bị giới hạn nghiêm ngặt như các bài thơ đường luật hay thể thơ song thất lục bát. Một bài thơ lục bát có thể bao gồm hai hoặc bốn câu như:

Hay như:

Hoặc cũng có thể kéo dài ra hàng nghìn câu thơ, mà điển hình nhất mà ta có thể kể đến, đó chính là kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều) của đại thi hào Nguyễn Du (gồm 3253 câu, trong đó gồm 1627 câu lục và 1627 câu bát). Hay như Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu với bản dịch được sử dụng nhiều nhất có 2082 câu thơ lục bát. Số lượng câu thơ hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung và ý đồ mà nhà văn muốn truyền tải đến những độc giả.

Về cách gieo vần, thơ lục bát tuy không bị giới hạn bởi những luật lệ nghiêm ngặt như thể thơ Đường luật nhưng vẫn phải đảm bảo những yếu tố cơ bản. Cụ thể là trong một bài thơ Lục bát thì câu thơ cuối của câu lục phải vần với câu thơ thứ sáu của câu bát. Tương tự, câu cuối của câu bát phải hiệp vần với câu cuối của câu lục. Có thể ví dụ như:

(Tương tư, Nguyễn Bính)

Các vần trong bài thơ là nàng – làng (chữ cuối câu 8 với chữ cuối câu 6), này – ngày (chữ cuối câu 6 với chữ cuối câu 8), vàng – giang (chữ cuối câu 8 với chữ cuối câu 6). Tất cả đều là vần chân.

Về thanh điệu của bài thơ lục bát ta có thể thấy, chữ thứ hai và chữ thứ sáu của câu bát thì đều là vần bằng. Ví dụ cụ thể như trong bài ca dao sau:

Các câu bát với chữ thứ hai và thứ sáu đều là vần bằng: nay – bề, mưa – đêm, yên – lòng.

Về cách ngắt nhịp, thơ lục bát thường ngắt nhịp ở các chữ 2/4/6 trong câu lục, thường ngắt nhịp ở các chữ 2/4/6/8 trong câu bát (gọi là nhịp 2/2/2 và 2/2/2/2) tuy nhiên đó không phải là luật mà chỉ là thường thấy. Ví dụ trong một bài thơ sau:

(Núi Dục Thúy, Nguyễn Đình Giác)

Thể thơ lục bát quả thật là một thể thơ tiêu biểu của dân tộc. Thể thơ không chỉ đóng góp về giá trị nghệ thuật mà còn góp phần thể hiện giá trị về nội dung.

Để có được nền văn học phong phú như hiện nay, chúng ta phải kể đến công lao của các nhà thơ, nhà văn từ thuở sơ khai cho đến hiện đại. Nội dung của tác phẩm là phần hồn và hình thức thơ giúp chuyển tải cho người đọc sự tinh túy của tác phẩm. Trong các thể thơ nổi tiếng của nước nhà phải kể đến thể thơ lục bát.

Nền văn học Việt Nam hình thành và phát triển hàng ngàn năm và tiếp thu và chọn lọc nhiều từ văn chương của Trung Quốc. Trải qua bao thế hệ người Việt ý thức tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, chọn lọc sáng tạo tạo ra sự phù hợp quốc gia, dân tộc. Đối với thể loại và hình thức thơ, người Việt tiếp thu tinh hoa của Trung Hoa như thể thơ Cổ Phong, thơ Đường Luật làm đa dạng văn học. Ngoài ra, ông cha còn tạo ra thể thơ độc đáo, thể hiện tinh hóa dân tộc Việt Nam, các thể thơ Song thất lục bát hay thơ Lục bát vô cùng quen thuộc và gần gũi với nhiều người. Thể thơ Lục bát được nhiều nhà thơ trong nước sử dụng trong các tác phẩm nhằm chuyển tải nội dung đến người đọc hiệu quả.

Thơ lục bát đặc trưng dễ nhận ra đó là câu đầu sáu (câu lục) và câu sau tám (câu bát). Bài thơ lục bát mở đầu bằng câu lục và kết thúc bài thơ bằng câu bát. Trong bài thơ sẽ không bị giới hạn cứng nhắc như các thể thơ khác. Thơ lục bát có thể hai bốn hoặc sáu câu như:

“Con cò lặn lội bờ sông

Lam lũ nuôi chồng, nuôi cả đàn con

Tháng năm thân mẹ hao mòn

Sớm khuya vất vả, héo hon khô gầy.”

Có trường hợp thơ có hàng nghìn câu như tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều) Nguyễn Du. Số lượng câu thơ không giới hạn mà dựa vào tác giả. Trong thơ lục bát cách gieo vần khá đặc biệt, trong bài thơ Lục bát câu thơ cuối trong câu lục phải vần với câu thơ thứ sáu trong câu bát. Tương tự như vậy câu cuối câu bát cần phải hiệp vần với câu cuối câu lục bên dưới. Có thể thấy cách gieo vần có điểm độc đáo riêng không giống với các thể thơ khác. Về thanh điệu thơ Lục bát, tiếng hiệp vần thường mang thanh bằng:

“Trên trời có đám mây xanh

Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng.

Ước gì anh lấy được nàng,

Để anh mua gạch Bát Tràng về xây”

Hoặc

Thanh bằng trong thơ lục bát chính là điểm nhấn. Thanh bằng kết hợp cùng vần /ay/ gợi lên cảm giác đau xót cho người nghe. Thơ lục bát còn có đặc điểm riêng đó là sự phối hợp bổng trầm, chuyển đổi bổng trầm của tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám trong bát. Với sự chuyển đổi linh hoạt giúp âm điệu bài thơ trở nên thanh thoát.

Thơ lục bát chính là tinh hoa của nước nha, thể thơ có sự phóng khoáng chứ không quá nghiêm ngặt như thơ Đường luật. Song vẫn đảm bảo các yếu tố cơ bản nhằm giúp chuyển tải nội dung bài thơ đến người đọc. Thơ lục bát cũng là thể thơ dễ đọc dễ nhớ vì vậy rất phổ biến và được nhiều tác giả sử dụng trong các tác phẩm văn học.

Có thể nói rằng không người Việt Nam nào mà lại không biết đến thơ lục bát, một thể thơ thuần túy dân tộc, xuất hiện đã hàng ngàn năm nay. Từ thuở nằm nôi, nằm võng, theo lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ, thơ lục bát đã ngấm vào tim óc, làm nên đời sống tâm hồn phong phú của mỗi con người.

Thể lục bát bắt nguồn từ những bài ca dao, dân ca và được phát triển qua các truyện thơ Nôm thơ lục bát đã đạt đến sự hoàn thiện hoàn mỹ với Truyện Kiều của thiên tài Nguyễn Du. Trong thơ ca hiện đại, thơ lục bát vẫn được tiếp tục phát huy qua thơ Nguyễn Bính, Tố Hữu, Xuân Diệu, Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa… và nhiều nhà thơ khác, chứng tỏ sức sống mãnh liệt của nó trong lòng người đọc.

Đơn vị cơ bản của thơ lục bát gồm một cặp câu: Câu lục (sáu tiếng) và câu bát (tám tiếng). Số câu trong bài không hạn định, ít nhất là hai, nhiều có thể lên tới hàng ngàn, vài ngàn câu như các truyện thơ Nôm mà tiêu biểu nhất là Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Trong ca dao, có những bài chỉ vẻn vẹn hai câu mà đủ sức thể hiện, khái quát một nội dung, một vấn đề nào đó của xã hội, hay một trạng thái tình cảm của con người. Bên cạnh đó là những truyện thơ lục bát trường thiên kể về bao biến cố trong suốt cuộc đời dài dằng dặc của nhân vật. Điều đó chứng tỏ độ dài ngắn của thơ lục bát là hoàn toàn phụ thuộc vào chủ định của người sáng tác.

Vần trong thơ lục bát có hai loại: Vần lưng và vần chân. Hai dòng lục bát hiệp theo vần lưng có nghĩa là tiếng thứ sáu của câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát. Nếu tiếp tục kéo dài thì tiếng thứ tám của câu bát lại vần với tiếng thứ sáu của câu lục bên dưới, đó là vần chân. Ví dụ:

Advertisement

(Việt Bắc, Tố Hữu)

Ngoài dạng lục bát nguyên thể như trên, còn có dạng lục bát biến thể đôi chút bằng cách thêm bớt một số tiếng hoặc xê dịch về cách hiệp vần hay phối thanh.

Ví dụ:

(Ca dao)

Tiếng thứ sáu của câu lục lại vần với tiếng thứ tư của câu bát, tuy vậy đọc lên vẫn thấy du dương. Trường hợp thêm chữ như câu ca dao sau đây:

(Ca dao)

Câu lục đã được thêm vào hai tiếng (gió đẩy). Nếu bớt đi hai tiếng này thì hai câu lục bát trên sẽ trở lại dạng nguyên thể về vần, nó vẫn tuân thủ theo cách hiệp vần lưng.

Quy luật phối thanh của thơ lục bát khá linh hoạt, uyển chuyển. Thường thường thì các tiếng ở vị trí thứ hai, bốn, sáu, tám là thanh bằng, vị trí thứ tư là thanh trắc. Còn các tiếng ở vị trí lẻ một, ba, năm, bảy thì có thể là bằng hay trắc đều được cả. Tiếng thứ hai thanh trắc, tiếng thứ tư thanh bằng, khác với cách phối thanh của câu lục bình thường.

Nhịp trong thơ lục bát phần lớn là nhịp chẵn, tạo nên âm điệu êm đềm, thong thả, thích hợp làm lời hát ru, hát ngâm.

Ví dụ:

Hay:

(Ca dao)

Nhưng khi cần biểu đạt một nội dung tư tưởng, tình cảm nhất định nào đó, người ta có thể biến đổi nhịp thơ cho thích hợp. Ví dụ như lời Thúy Kiều nói với Hoạn Thư trong cảnh Kiều báo ân báo oán:

Rõ ràng là giọng đay nghiến, chì chiết khi Thúy Kiều nhắc tới máu ghen đáo để có một không hai của tiểu thư họ Hoạn.

Thơ lục bát đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Việt Nam. Cái hay, cái đẹp của nó là kết tinh hoa ngôn ngữ tiếng Việt. Với những ưu điểm trong cách gieo vần, phối thanh, ngắt nhịp… biến hóa linh hoạt, uyển chuyển, thơ lục bát dễ nhớ, dễ đi sâu vào tâm hồn.

Lục bát là một trong hai thể loại thơ chính của Việt Nam (lục bát và song thất lục bát). Thơ lục bát ở Việt Nam được phát triển hàng trăm năm nay. Thơ lục bát đã thấm đẫm tâm hồn người Việt chúng ta vì đó là thể thơ trong ca dao, đồng dao và các bài ru con. Ngày nay thơ lục bát vẫn được các nhà thơ hiện đại tiếp thu, hoàn chỉnh và giữ một vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Thơ lục bát rất giản dị về quy luật, dễ làm, thường dùng để diễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau trong tâm hồn con người.

Thật khó để xác định một cách chính xác thể thơ lục bát ra đời từ bao giờ bởi không có sách ghi lại điều này. Bắt nguồn từ ca dao dân ca, lời ca tiếng hát của những người bình dân, thể thơ lục bát dần dần hiện hình trong đời sống nghệ thuật của dân tộc. Có giả thuyết cho rằng, từ những bài ca, bài đồng giao, người Việt bắt đầu hình dung về vần điệu của thể thơ lục bát, từ đó ghi nhớ và hoàn thiện thể loại thơ này từ thế kỉ XVI.

Tiếp tục phát triển theo thời gian, thể thơ lục bát đạt được những thành tựu rực rỡ ở cuối thế kỉ XVII và thế kỉ XVIII, với tác phẩm tiêu biểu là truyện Kiều của Nguyễn Du. Với Truyện Kiều, lục bát đã khẳng định được khả năng mạnh mẽ trong việc biểu đạt chiều sâu đời sống tình cảm của con người.

Một bài lục bát gồm ít nhất 2 câu: một câu lục (6 tiếng) và một câu bát (tám tiếng) và không hạn định về số lượng câu trong một bài.

Cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắc nhất, tam, ngũ bất luận; nhị, tứ, lục phân minh. Nghĩa là các tiếng thứ 1,3,5 trong câu có thể tự do về thanh, nhưng các tiếng thứ 2,4,6 thì phải theo luật chặt chẽ. Luật như sau:

Câu số Vần

Câu lục 0 B 0 T 0 B(vần)

Câu bát 0 B 0 T 0 B(vần) 0 B

Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7 8

Ví dụ:

Chỉ bắt buộc các tiếng thứ tư phải là trắc, các tiếng thứ hai, thứ sáu, thứ tám phải là bằng, nhưng trong câu tám các tiếng thứ sáu thứ tám phải khác dấu, nếu trước là dấu huyền thì sau phải là không dấu hoặc ngược lại.

Trong thơ lục bát biến thể, những quy định trên có thay đổi chút ít. Trước hết là số chữ có thể tăng thêm và vần lưng tất nhiên cũng xê dịch theo:

Thơ lục bát có cách gieo vần khác với các thơ khác. Có nhiều vần được gieo trong thơ nhiều câu chứ không phải là một vần, điều này tạo cho thơ lục bát tính linh hoạt về vần. Thể thơ lục bát thường được gieo vần bằng; tiếng cuối của câu lục hiệp với tiếng thứ sáu của cậu bát, tiếng thứ sáu của câu bát hiệp với tiếng của câu lục tiếp; cứ như thế đến hết bài lục bát:

Ngoài ra, có thể gieo vần trắc, hệ thống bằng trắc trong tổ hợp hai câu sáu tám, do đó, cũng thay đổi:

Vần lưng có thể ở tiếng thứ hai, nhất là ở tiếng thứ tư, và lúc đó tiếng thứ tư đổi ra thanh bằng, và tiếng thứ sáu tiếp theo phải đổi sang thanh trắc:

Như vậy, có thể nhận thấy, thể thơ lục bát vẫn là thể thơ nền nã, chỉnh chu với những quy định rõ ràng về vần nhịp, về số tiếng mỗi dòng thơ, về chức năng đảm trách của mỗi câu trong thể thơ này.

Thể thơ lục bát phản ánh và cô kết trung thành những phẩm chất thẩm mĩ của tiếng Việt. Với cách gieo vần, phối thanh, ngắt nhịp giản dị mà biến hoá vô cùng linh hoạt, phong phú và đa dạng, nó có khả năng diễn đạt tất thảy những cung bậc cảm xúc như: tình yêu trai gái, tình yêu gia đình, xóm làng, yêu đồng ruộng, đất đai, yêu lao động, yêu thiên nhiên….

Lục bát là phương tiện phổ dụng để người Việt giải toả tâm sự, kí thác tâm trạng, làm thăng hoa tâm hồn. Gắn với tiếng Việt, gắn với hồn Việt, thơ lục bát đã thuộc về bản sắc dân tộc này. Nếu tâm hồn một dân tộc thường gửi trọn vào thi ca của dân tộc mình, thì lục bát là thể thơ mà phần hồn của dân Việt đã nương náu ở đó nhiều nhất, sâu nhất. Sức biểu đạt kì diệu của thơ lục bát thật to lớn. Chỉ có hai câu, mười bốn tiếng, mà một cặp lục bát tiềm tàng những khả năng biểu hiện vô tận. Nó luôn dư sức trần thuật:

Nó vô cùng dồi dào năng lực trữ tình:

Nó dôi dả năng lực triết luận:

Nó đáp ứng mọi yêu cầu trào phúng:

Trong thời buổi hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, dường như đang có hai thái độ trái ngược đối với lục bát. Lắm kẻ thờ ơ, hoài nghi khả năng của lục bát. Họ thành kiến rằng lục bát là thể thơ quá gò bó về vần luật, về thanh luật, về tiết tấu; nó đơn điệu, nó bằng phẳng, quê mùa. Họ vội cho rằng lục bát chỉ biểu hiện được những cảm xúc quen thuộc của người Việt truyền thông. Còn tâm sự đầy những suy cảm tinh vi phức tạp của người hiện đại thì lục bát khó chuyển tải. Họ lầm tưởng rằng lục bát sẽ khó theo kịp nhịp biến hoá đầy bấn loạn của tư duy thơ hiện đại. Thậm chí, có người còn coi lục bát như một rào cản đối với những lối tư duy nghệ thuật tân kỳ. Và, họ từ chối lục bát đế một mực chạy theo những thể khác.

Vì thế mà có xu hướng ngược lại, nhiều người đã nhận thấy ở lục bát những ưu thế không thể thơ nào có được. Họ đã tìm về lục bát. Họ nâng niu, chăm chút. Họ làm mới, họ cách tân, để gửi gắm tấm lòng của con người hôm nay vào thể thơ hương hỏa của cha ông. Họ dùng lục bát như một phương tiện tâm tình gần gũi, để nói những gì sâu sắc nhất của tâm tư. Đọc thơ lục bát của thế kỷ qua, có thể thấy rõ rệt, càng về sau, dáng điệu lục bát càng trẻ trung, hơi thở lục bát càng hiện đại hơn so với hồi đầu. Điều đó là bằng chứng khẳng định lục bát vẫn trường tồn, lục bát vẫn gắn bó máu thịt với tâm hồn Việt trên con đường hiện đại. Trân trọng lục bát cũng là một thước đo về văn hoá thơ với một người Việt.

Chừng nào tre còn xanh, sen còn ngát, chừng nào tà áo dài còn tha thướt, tiếng đàn bầu còn ngân nga, chừng ấy những điệu lục bát vẫn tiếp tục sinh sôi trên xứ sở này. Thể thơ lục bát mãi mãi là một tài sản thiêng liêng của nền văn hoá Việt. Chừng nào thế giới còn chưa thấu tỏ vẻ đẹp của lục bát, chừng ấy họ chưa thực sự hiểu vẻ đẹp của thơ Việt. Và, chừng nào ta còn chưa làm cho thế giới tiếp nhận được vẻ đẹp của lục bát, chừng ấy nền thơ Việt vẫn còn chưa thực sự làm tròn sứ mệnh của mình.

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Sách Ngữ Văn 8 Tập 1 (Dàn Ý + 14 Mẫu) Những Bài Văn Hay Lớp 8

Thuyết minh về sách Ngữ văn 8 tập 1

Để bài văn thuyết minh sách Ngữ văn 8 tập 1 thật hay, các em cũng cần giới thiệu khái quát về cuốn sách, hình thức bề ngoài, bố cục, giới thiệu về nội dung, giá trị của cuốn sách ra sao nữa. Mời các em cùng tham khảo bài viết:

1. Mở bài

Giới thiệu khái quát về cuốn sách Ngữ Văn 8, tập 1.

2. Thân bài

a. Xuất xứ

Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản.

Tác giả cuốn sách là những giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành về văn chương của Việt Nam.

b. Hình thức bề ngoài của sách

– Cuốn sách có hình thức đơn giản, hài hòa, khổ 17×24 rất phù hợp và thuận tiện cho học sinh khi sử dụng.

– Bìa một của cuốn sách có tông màu nổi bật là màu lòng tôm đậm pha hồng rất bắt mắt. Trên cùng là dòng chữ “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được in trang trọng. Dưới đó là tên cuốn sách được viết theo kiểu chữ hoa mềm mại: “Ngữ văn” màu xanh da trời. “Số 8” màu trắng nhã nhặn nhưng cũng rất dễ nhìn, dễ nhận ra. Nổi bật trên bìa sách là một khóm hoa màu vàng nhạt xinh xắn.

– Bìa bốn của cuốn sách có biểu tượng vương miện kim cương chất lượng quốc tế quen thuộc của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Danh sách bộ SGK lớp 8 cũng được in rõ ràng, đầy đủ. Cuối trang là mã vạch và giá tiền.

c. Bố cục của sách

Gồm mười bảy bài.

Mỗi bài thường có bốn bài nhỏ, thường là hai văn bản, một bài Tiếng Việt và một bài Tập làm văn.

d. Giới thiệu nội dung, giá trị của cuốn sách:

– Phần Văn học, học sinh sẽ được làm quen, tiếp xúc, tìm hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XIX đến 1945. Đồng thời, sách còn giới thiệu phần văn học nước ngoài với những tác phẩm đặc sắc của Mĩ, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Liên bang Nga.

– Phần Tiếng Việt gồm cả từ ngữ và ngữ pháp được sách cung cấp rất dễ hiểu, khoa học, ngắn gọn, vừa cung cấp tri thức, vừa giúp học sinh luyện tập.

e. Nêu cách sử dụng, bảo quản sách:

Để cuốn sách có giá trị sử dụng lâu bền, chúng ta cần giữ gìn cẩn thận, không quăng quật, không vo tròn, không gấp đôi cuốn sách.

Hơn thế nữa, chúng ta nên mặc thêm cho cuốn sách một chiếc áo ni lông vừa bền vừa đẹp để sách sạch hơn, an toàn hơn.

3. Kết bài

Khẳng định giá trị, ý nghĩa lớn lao của quyển sách đối với học trò.

Sách giáo khoa Ngữ văn là một vật không thể thiếu của các học sinh, sinh viên từ tiểu học, trung học cho đến đại học. Nó là một kho tri thức to lớn góp phần quan trọng trên con đường học vấn của chúng ta.

Quyển sách giáo khoa Ngữ văn 8 có hình chữ nhật đứng, khá dày. Bìa sách được có màu hồng. Ở giữa in hình một bó hoa màu vàng. Dòng chữ “Ngữ văn” màu xanh dưới được in nổi bật phía trên cùng. Phía dưới là số “8” có màu trắng rất nổi bật. Sách gồm có một trăm bảy mươi lăm trang, không kể bìa sách.

Quyển sách Ngữ Văn 8 tập một giúp cho chúng ta hiểu được nỗi khổ cực của người dân thời kì phong kiến trước Cách Mạng Tháng 8 năm 1945 qua các văn bản như Tức nước vỡ bờ, Lão Hạc. . . ; hiểu được cuộc đời bất hạnh của cô bé bán diêm qua một tác phẩm cùng tên của nhà văn An-đéc-xen; đoạn trích Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri gợi cho chúng ta lòng cảm thương và sự đồng cảm với những họa sĩ chân chính nước Mỹ, dù nghèo nhưng luôn luôn có một tấm lòng yêu thương lẫn nhau, họ là những con người cao cả. Ngoài ra sách cũng cung cấp những kiến thức bổ ích về phần Tiếng Việt và Làm văn.

Sách được làm bằng chất liệu giấy mềm nên khi sử dụng cũng rất thường xuyên nên rất dễ bị quăn góc và có nếp nhăn. Vì vậy, sau khi dùng xong chúng ta phải làm cho những chỗ bị quăn góc hay bị nhăn được thẳng trở lại, sau đó để trở lại chỗ đựng sách hay ngăn cặp cẩn thận.

Mỗi người học cần giữ gìn cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 1. Bởi cuốn sách mang lại rất nhiều kiến thức bổ ích.

Cuốn sách mà tôi thích nhất là sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 tập 1. Khi cầm cuốn sách trên tay, tôi cảm thấy mình thật hạnh phúc.

Cuốn sách giáo khoa Ngữ văn do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành. Nhìn từ bên ngoài, cuốn sách hiện lên nổi bật với dòng chữ” Ngữ văn” trên nền sách màu hồng nhạt. Phía bên trên của cuốn sách là dòng chữ màu đen nho nhỏ “Bộ giáo dục và đào tạo”. Giữa cuốn sách có những bông hoa màu vàng.

Cuốn sách đã đem đến nhiều kiến thức bổ ích cho người học. Bởi vậy, học sinh cần giữ gìn sách cẩn thận.

Sách giáo khoa có vai trò quan trọng trong học tập. Đặc biệt là cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 1.

Cuốn sách do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành. Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản. Cuốn sách có hình thức đơn giản, hài hòa, khổ 17×24 rất phù hợp và thuận tiện cho học sinh khi sử dụng. Bìa một của cuốn sách có tông màu nổi bật là màu lòng tôm đậm pha hồng rất bắt mắt. Trên cùng là dòng chữ “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được in trang trọng. Dưới đó là tên cuốn sách được viết theo kiểu chữ hoa mềm mại: “Ngữ văn” màu xanh da trời. “Số 8” màu trắng nhã nhặn nhưng cũng rất dễ nhìn, dễ nhận ra. Nổi bật trên bìa sách là một khóm hoa màu vàng nhạt xinh xắn. Bìa bốn của cuốn sách có biểu tượng vương miện kim cương chất lượng quốc tế quen thuộc của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Danh sách bộ SGK lớp 8 cũng được in rõ ràng, đầy đủ. Cuối trang là mã vạch và giá tiền.

Quyển sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8, tập 1 không chỉ được đảm bảo về hình thức bên ngoài mà ngay những nội dung được đưa vào cũng đảm bảo tính khoa học, chuẩn mực.

Sách là người bạn đồng hành quen thuộc với con người. Trong suốt sự học cả đời của mỗi người, sách chính là trợ thủ đắc lực nhất. Một trong những cuốn sách đến với chúng ta đầu tiên khi còn đi học là sách giáo khoa. Cuốn sách mà tôi ấn tượng nhất là sách Ngữ văn 8, tập 1.

Trước hết, cuốn sách do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành sách dưới sự cho phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sách được tái bản nhiều lần qua các năm để thay đổi phù hợp hơn với chương trình học. Sách ra đời có nội dung hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn công phu. Đó là kết quả nghiên cứu mệt mài của rất nhiều giáo sư, tiến sĩ hàng đầu trong chuyên ngành và sự góp sức của các thầy cô dạn dày kinh nghiệm trên cả nước. Nổi bật trong số đó phải kể đến Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên), Nguyễn Hoành Khung (Chủ biên phần Văn), Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt), Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn)…Chế bản do Công ty cổ phần thiết kế và phát hành sách giáo dục đảm nhận.

Bìa sau của sách có nền trắng đơn giản. Phía trên cùng lần lượt in hình Huân chương Hồ Chí Minh và Vương miện kim cương chất lượng quốc tế, biểu tượng cho tinh thần cao quý của dân tộc và chất lượng sách. Phía dưới in tên các loại sách thuộc các môn học trong chương trình lớp 8 bằng màu đen: Ngữ Văn 8 (tập một, tập hai), Lịch sử 8, Địa lí 8, Giáo dục công dân 8, Âm nhạc và Mĩ thuật 8, Toán 8 (tập một, tập hai),…, Tiếng nước ngoài (Tiếng Anh 8, Tiếng Nga 8…). Góc phải dưới cùng dán tem đảm bảo và giá bán. Góc trái là mã vạch sản phẩm. Cả cuốn sách trang trí đơn giản mà rất sinh động.

Sách Ngữ Văn 8 tập 1 gồm mười bảy bài. Mỗi bài lại gồm bốn bài nhỏ cung cấp tri thức phong phú, hoàn thiện. Về nội dung, sách có cấu tạo ba phần gồm Văn bản, Tiếng Việt và Làm văn. Ngoài ra còn có phần giới thiệu và phần lí luận văn học.

Phần cơ bản nhất là phần Văn bản, là hệ thống các văn bản văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, văn bản văn học nước ngoài, văn bản nhật dụng. Văn bản văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 được lựa chọn các tác phẩm Tôi đi học (Thanh Tịnh), Trong lòng mẹ (trích Những ngày thơ ấu – Nguyên Hồng), Lão Hạc (trích Lão Hạc – Nam Cao), Tức nước vỡ bờ (trích Tắt đèn – Ngô Tất Tố)… Văn học giai đoạn này ra đời giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 nên đó là những câu chuyện về đời sống của nhân dân Việt Nam, khát khao sống và chiến đấu. Mỗi tác phẩm lại có một giá trị riêng, nhưng tổng kết lại nó đều bồi đắp thêm tình yêu thương con người, tình yêu cuộc sống, tinh thần yêu nước cho mỗi học sinh. Phần văn bản văn học nước ngoài là các tác phẩm xuất sắc của các nhà văn nổi tiếng thế giới, của nền văn học nhân loại như: Cô bé bán diêm, Chiếc lá cuối cùng…Phần văn bản nhật dụng đề cập đến những vấn đề gần gũi, nóng bỏng trong cuộc sống hiện nay như môi trường, tệ nạn xã hội, dân số. Một số tác phẩm như: Thông tin về ngày trái đất năm 2000, Ôn dịch thuốc lá, Bài toán dân số. Các văn bản được đưa vào sách với mục đích nâng cao nhận thức cho học sinh về các vấn đề đang xảy ra xung quanh, định hướng hành động thực tiễn cho các em. Các phần Tiếng Việt và Làm văn đều cung cấp những kiến thức khoa học, bổ ích cho học sinh.

Sách Ngữ văn lớp 8 có vai trò, tác dụng lớn trong quá trình học tập môn ngữ văn của học sinh. Sách giúp học sinh tiếp cận với những tác phẩm văn học nổi tiếng được truyền qua nhiều thế hệ để thấy được giá trị của nghệ thuật. Học văn, tình cảm được bồi đắp, tâm hồn bay bổng, thanh thản, nhẹ nhàng hơn làm dịu đi những áp lực căng thẳng của cuộc sống. Đặc biệt, sách có ý nghĩa giáo dục to lớn, rèn luyện cho ta nhiều kiến thức trong việc giao tiếp hàng ngày dù là thể hiện dưới mọi hình thức. Bồi đắp thêm những tình cảm, đức tính tốt đẹp như yêu thương và cảm thông với con người. Từ đó biết trân trọng những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống của mình hơn.

“Sách là ngọn đèn bất diệt của trí tuệ”. Sách Ngữ văn 8 tập 1 cũng là một ngọn đèn soi sáng trí tuệ chúng ta. Hãy bảo quản, giữ gìn sách khi sử dụng để có được hành trang cho chặng đường tiếp thu, chiếm lĩnh tri thức.

Từ xưa đến nay, sách luôn là kho tàng lưu trữ kiến thức, là một công cụ học tập hữu ích của con người. Sách cung cấp cho ta đầy đủ tri thức về mọi lĩnh vực trên thế giới, giúp ta thư giãn, giải trí và đôi khi còn làm thay đổi một phần nào đó trong cuộc sống của chính chúng ta. Trong đó cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một là một cuốn sách vô cùng bổ ích và không thể thiếu đối với mỗi học sinh Trung học cơ sở.

Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một được trình bày rất đẹp và hợp lí. Bìa sách được làm bằng giấy cứng màu hồng nhạt trông rất sáng và đẹp. Ở góc dưới cùng bên phải của bìa là tên, lô-gô của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Ở giữa cuốn sách là một khóm hoa thủy tiên đang đua nhau khoe sắc như đang đón chào chúng ta đến với kho tàng kiến thức dành cho học sinh lớp 8. Phía bên trên là dòng chữ “Ngữ văn” màu xanh dương kết hợp với con số 8 màu trắng được in nổi bật trên nền bìa màu hồng. Kích thước 17x24cm vừa vặn, phù hợp với tầm tay của học sinh.

Cuốn sách dày gần hai trăm trang chứa đựng biết bao kiến thức bổ ích. Bìa sau cuốn sách cũng được làm bằng chất liệu giấy cứng màu trắng. Phía trên cùng in hình biểu tượng chất lượng mà sách đạt được. Ở giữa là tên sách giáo khoa của mười một bộ môn. Sau trang bìa, trang đầu tiên là “Lời nói đầu” giới thiệu cho người đọc biết mục đích và nội dung chung mà cuốn sách sẽ mang lại cho học sinh. Giấy in sách màu trắng có độ sáng hài hòa, chữ viết in đậm rõ ràng giúp học sinh nhìn rõ, đảm bảo thị lực cho học sinh.

Cuốn sách có tất cả mười bảy bài, phía trên mỗi bài đều có nội dung kiến thức cần đạt được. Cấu trúc mỗi bài thường có ba phần: phần Văn bản, phần Tiếng Việt và phần Tập làm văn được in theo một thứ tự nhất định, rõ ràng. Sau mỗi bài học thường có phần Ghi nhớ được đóng khung rõ ràng, cẩn thận. Phía dưới là phần Luyện tập giúp học sinh củng cố lại kiến thức vừa học và nâng cao kiến thức hơn.

Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một là một cuốn sách quý giá, là một kho tàng kiến thức không thể thiếu đối với mỗi học sinh Trung học cơ sở chúng ta.

Sách là thứ không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta. Sách đem đến cho con người kho tri thức vô cùng to lớn, những điều mới mẻ, lí thú, và cả những tiếng cười thoải mái. Còn đối với học sinh chúng ta, những quyển sách giáo khoa là những vật vô cùng gắn bó và thân thuộc; một trong số đó là cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một mang đến rất nhiều kiến thức về bộ môn Ngữ văn.

Cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một thật là hữu ích, đem đến rất nhiều điều bổ ích, lí thú và cả những giây phút sảng khoái vậy nên việc bảo quản sách là vô cùng quan trọng. Chúng ta nên bọc, dán nhãn cẩn thận để tránh bị ướt hay bẩn sách, giữ gìn cẩn thận không để quăn mép.

Cuốn sách giáo khoa đúng là người bạn thân thiết, gắn bó với học sinh chúng ta. Hãy giữ gìn nó vì nó không chỉ phục vụ mục đích học ở lớp tám mà còn ở nhiều lớp trên, sử dụng sách đúng cách, phù hợp để đạt những thành tích cao trong học tập.

Quyển sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 1 có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của học sinh lớp 8.

Cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 1 vô cùng cần thiết trong quá trình học tập của học sinh. Bởi vậy, chúng ta cần giữ gìn cuốn sách cẩn thận.

Một trong những hành trang không thể thiếu cho quá trình học tập của người học sinh đó chính là những quyển sách giáo khoa. Sách giáo khoa là sản phẩm của tri thức, được ra đời nhằm hỗ trợ việc học, cung cấp kiến thức cho người học. Quyển sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1 là một trong những quyển nằm trong bộ sách giáo khoa dành cho môn Ngữ văn.

Sách do Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập với nhiều giáo sư chuyên ngành Ngữ văn. Sau khi biên soạn chương trình phải trải qua quá trình thẩm định và kiểm tra kỹ lưỡng trước khi thông qua và đem vào giảng dạy thử nghiệm. Trải qua thử nghiệm Nhà xuất bản Giáo dục sẽ là đơn vị chuyên trách in ấn và phát hành sách sử dụng đại trà. Sách có hình chữ nhật đứng độ dày khoảng 1cm với kích thước 17cmx24cm gồm tất cả một trăm sáu lăm trang không kể bìa.

Sách nổi bật với bìa trước màu hồng phấn và khóm hoa màu xanh vàng in trên bìa, trên đầu sách là tên “Bộ Giáo dục và Đào tạo”, tên sách “Ngữ văn” màu tím than được viết to, số “8” màu trắng và góc dưới bên phải bìa là “Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam”. Bìa sau của sách có hình Huân chương Hồ Chí Minh, logo của bộ giáo dục và bảng danh sách các quyển sách giáo khoa trong chương trình lớp 8. Giấy in sách có màu hơi sậm chống lóa và mỏi mắt cho học sinh, chữ hoàn toàn là màu đen chỉ khác nhau về kích cỡ chữ ở các đề mục, mọi câu chữ đều chính xác và chuẩn chỉ đến từng dấu chấm, dấu phẩy. Nội dung trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1 là một kho tàng văn học khá phong phú bao gồm ba phần lớn đó là văn bản, tiếng Việt và tập làm văn.

Sách giáo khoa nói chung và sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1 nói riêng là công cụ học tập quan trọng, cần thiết của mỗi người học sinh chúng ta, chính vì vậy mọi người phải có ý thức sử dụng đúng mục đích, tự giác giữ gìn cẩn thận không để dính nước làm rách nát, quăn mép, nên bọc vở bằng báo hoặc bìa cứng để sau khi học xong còn để lại làm tư liệu hoặc cho các em lớp sau.

Trên chặng đường học tập, Ngữ văn là môn học không thể thiếu đối với chúng ta. Nó giúp ta phát triển khả năng đọc viết, giao tiếp một cách toàn diện. Và một phần không thể thiếu khi học Ngữ văn chính là sách giáo khoa. Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 tập 1 là phần rất quan trọng trong quá trình học môn Văn.

Cuốn sách do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành. Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản. Cuốn sách có hình thức đơn giản, hài hòa, khổ 17x24cm rất phù hợp và thuận tiện cho học sinh khi sử dụng. Bìa một của cuốn sách có tông màu nổi bật là màu lòng tôm đậm pha hồng rất bắt mắt. Trên cùng là dòng chữ “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được in trang trọng. Dưới đó là tên cuốn sách được viết theo kiểu chữ hoa mềm mại: “Ngữ văn” màu xanh da trời. “Số 8” màu trắng nhã nhặn nhưng cũng rất dễ nhìn, dễ nhận ra. Nổi bật trên bìa sách là một khóm hoa màu vàng nhạt xinh xắn. Bìa bốn của cuốn sách có biểu tượng vương miện kim cương chất lượng quốc tế quen thuộc của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Danh sách bộ SGK lớp 8 cũng được in rõ ràng, đầy đủ. Cuối trang là mã vạch và giá tiền.

Mỗi học sinh cần giữ gìn những cuốn sách cẩn thận. Bởi đó là hành trang quý giá trong quá trình học tập.

Một trong những cuốn sách vô cùng quan trọng với học sinh là sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 1.

Sách do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành. Bìa bên ngoài trang đầu có màu hồng giống như màu lòng tôm. Phía trên bìa là hàng chữ đầu tiên viết bằng chữ in hoa – “Bộ Giáo dục và Đào tạo”. Tiếp đến là hai chữ “Ngữ văn” được viết bằng chữ in với những nét viết mềm mại, uyển chuyển được tô bằng màu xanh đậm. Dưới hai chữ đó là chữ “tập một” được viết bằng chữ in nhưng nét chữ nhỏ, thanh màu hồng đậm để phân biệt tập một với tập hai.Phía góc bên phải dưới dòng chữ “Ngữ văn” là số “8” to, màn trắng làm nổi bật cả trang bìa.

Trên bìa được trang trí bằng một khóm hoa có những bông hoa màu vàng tươi đang nở rộ gồm sáu cánh hoa mỏng, mềm, xen kẽ trong những chiếc lá dài màu xanh dương. Phía dưới của trang là lô gô của bộ giáo dục “Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam”. Bài ở cuối sách cũng được ghi viết, bên trái của bìa là huân chương Hồ Chí Minh thể hiện niềm tự hào của dân tộc. Góc phải là một lô gô của bộ giáo dục có hình ngôi sao trên quyển vở, trong trang ghi năm lăm năm như để khẳng định bề dày lịch sử của sách. Tiếp dưới là phần giới thiệu toàn bộ sách giáo khoa lớp tám được viết ở trung tâm bìa trong khung màu xanh nhạt hình chữ nhật. Cuối bìa là tem dán để nói lên chất lượng uy tín của sách và có giá tiền của sách. Trong giấy của sách được in theo khổ 17x24cm.

Không kém gì về mặt hình thức, sách giáo khoa ngữ văn lớp tám có phần nội dung rất đa dạng và phong phú, quyển sách gồm mười bảy bài, mỗi bài gồm ba phân môn: văn bản, tiếng việt, tập làm văn. Về phần văn bản cung cấp dữ liệu của phần văn bản truyện thơ,… Sau văn bản là phần chú thích về tác giả, tác phẩm, có phần chú thích giải nghĩa cho các từ khó hiểu trong bài. Sau phần chú thích là đọc hiểu văn bản, muốn học tốt được văn bản thì học sinh cần phải soạn bài, trả lời câu hỏi trong phần này trước ở nhà, chốt lại kiến thức trong văn bản ghi lại trong khung ghi nhớ. Để ứng dụng, thực hành luôn bài học của phần luyện tập để học sinh củng cố lại kiến thức.

Nội dung của văn bản nhằm cung cấp cho tuổi học trò về văn học Việt Nam và văn học nước ngoài. Trong quyển có dòng tác phẩm văn học hiện thực phê phán với những tác phẩm cùng tên tuổi của các nhà văn nổi tiếng được chọn lọc như nhà văn Nam Cao với chuyện hắn ” lão Hạc”, Ngô Tất Tố với tác phẩm ” tắt đèn” trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” . Học sinh không chỉ biết đến những tác phẩm văn học trong nước mà còn biết đến những văn học nước ngoài như văn học ở Mĩ, Tây Ban Nha, Đan Mạch… ngoài ra còn một số tác phẩm thơ, văn bản nhật dụng. Về phần tiếng việt cung cấp cho học sinh kiến thức về các loại câu, loại từ và các dấu câu. Phần tập làm văn cũng theo cấu trúc như phần tiếng việt văn bản nhằm cung cấp kiến thức về văn tự sự và kiểu văn bản thuyết minh để củng cố các phương pháp viết văn, giúp nâng cao giao tiếp hàng ngày.

Sách ngữ văn lớp 8 tập một cung cấp cho ta tri thức, nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng giao tiếp của mỗi học trò. Nó rất quan trọng, gần gũi với mỗi lứa tuổi học sinh lớp 8. Vì vậy cần bảo vệ, giữ gìn, nâng niu và yêu quý sách.

Sách là một dụng cụ không thể thiếu đối với học sinh và thầy cô giáo khi đến trường. Quyển sách Ngữ văn lớp 8, tập 1 đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập của học sinh. Nó là một công cụ học tập, một sợi dây kết nối giữa học sinh và giáo viên, học sinh và tác phẩm,…

Không như các đồ vật khác, quyển sách Ngữ Văn 8, Tập 1 do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành hàng năm dưới sự cho phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sách được tái bản nhiều lần mỗi năm. Sách được sử dụng để giảng dạy và học tập trong học kì 1, lớp 8. Trong lịch sử, sách Ngữ văn lớp 8, tập 1 được biên soạn nhiều lần, có bổ sung sửa đổi cho phù hợp với từng thời đại. (Thuyết minh sách giáo khoa Sách Ngữ Văn). Để có được một quyển sách với nội dung hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn rất công phu. Quyển sách ra đời là kết quả nghiên cứu mệt mài của rất nhiều giáo sư, tiến sĩ hàng đầu trong chuyên ngành và sự góp sức của các thầy giáo có kinh nghiệm trong cả nước. Chế bản do Công ty cổ phần thiết kế và phát hành sách giáo dục đảm nhận. Sắp tới, năm 2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo dự định sẽ thay đổi toàn bộ sách giáo khoa hiện hành. Nghĩa là chúng ta sẽ có một quyển sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 1 hoàn toàn mới. Do nhiều lí do khách quan, kế hoạch đổi sách giáo khoa bị hoãn lại.

Từ phía góc dưới đến giữa quyển sách là khóm hoa vàng lá màu xanh dương tạo nên nét hài hòa thật bắt mắt. Đầu trang bìa là dòng chữ: Bộ giáo dục và Đào tạo. Logo Nhà xuất bản Giáo dục đặt ở phía bên phải cuối bìa. Thật tinh tế khi các nhà thiết kế chọn màu hồng phấn làm nền cho bìa. Nó rất phù hợp với tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 8 đang độ mộng mơ, hồn nhiên và vô cùng nhạy cảm với thế giới xung quanh.

Bìa sau của sách có nền màu trắng. Hai bên trái, phải ở trên cùng lần lượt in hình Huân chương Hồ Chí Minh và Vương miện kim cương chất lượng quốc tế, biểu tượng cho tinh thần cao quý và chất lượng của quyển sách. Bên dưới là tên các loại sách thuộc các môn học khác nằm trong chương trình lớp 8 được in với màu đen đặc sắc trên một khung nền màu hồng phấn như: Ngữ Văn 8 (tập một, tập hai), Lịch sử 8, Địa lí 8, Giáo dục công dân 8, Âm nhạc và Mĩ thuật 8, Toán 8 (tập một, tập hai),…, Tiếng nước ngoài (Tiếng Anh 8, Tiếng Nga 8…).

Dưới cùng, nằm bên gốc phải là tem đảm bảo và giá bán. Góc bên trái là mã vạch sản phẩm để kiểm định sản phẩm. Hình thức trang bìa trang nhã, bố cục cân xứng, hài hòa, màu sắc bắt mắt chính là điểm nhấn nổi bật của quyển sách này. Quyển sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8, tập 1 thật sự phù hợp với học sinh lớp 8.

Sách có cấu tạo ba phần: Văn bản, Tiếng Việt và làm văn. Ngoài ra còn có phần giới thiệu chương trình và phần lí luận văn học. Cuốn sách do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành. Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản. Cuốn sách có hình thức đơn giản, hài hòa, khổ 17×24 rất phù hợp và thuận tiện cho học sinh khi sử dụng. Bìa một của cuốn sách có tông màu nổi bật là màu lòng tôm đậm pha hồng rất bắt mắt. Trên cùng là dòng chữ “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được in trang trọng. Dưới đó là tên cuốn sách được viết theo kiểu chữ hoa mềm mại: “Ngữ văn” màu xanh da trời. “Số 8” màu trắng nhã nhặn nhưng cũng rất dễ nhìn, dễ nhận ra. Nổi bật trên bìa sách là một khóm hoa màu vàng nhạt xinh xắn. Bìa bốn của cuốn sách có biểu tượng vương miện kim cương chất lượng quốc tế quen thuộc của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Danh sách bộ SGK lớp 8 cũng được in rõ ràng, đầy đủ. Cuối trang là mã vạch và giá tiền.

Quyển sách Ngữ Văn 8, tập 1 không thể thiếu trong chương trình lớp 8. Hãy yêu mến sách, hãy trân trọng sách hơn nữa. Bởi trân trọng sách là thể hiện sự trân trọng tri thức và lòng biết ơn sâu sắc các thế hệ cha anh đã dày công tích lũy tri thức cho chúng ta thừa hưởng hôm nay.

Sách giáo khoa có vai trò quan trọng đối với mỗi học sinh. Trong các môn học, em thích nhất là Ngữ văn. Bởi vậy mà em rất trân trọng quyển sách giáo khoa Ngữ văn.

Cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 1 d o Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản. Tác giả cuốn sách là những giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành về văn chương của Việt Nam. Cuốn sách được có hình chữ nhật, được in theo khổ 17x24cm rất nhỏ gọn. Bìa sách có màu hồng, phía trên cùng là dòng chữ “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được in hoa. Phía dưới là tên của cuốn sách – “Ngữ văn” có màu xanh da trời. “Số 8” màu trắng ở dưới chữ “văn” được in khá to. Nổi bật trên bìa sách là một khóm hoa màu vàng nhạt xinh xắn. Bìa sau của cuốn sách có biểu tượng vương miện kim cương chất lượng quốc tế quen thuộc của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Danh sách các bộ sách giáo khoa lớp 8 cũng được in rõ ràng, đầy đủ. Sách gồm có một trăm bảy lăm trang không kể bìa.

Như vậy, cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 8 vô cùng cần thiết trong quá trình học tập của học sinh. Bởi vậy, mỗi người cần bảo vệ, giữ gìn thật cẩn thận.

Sách giáo khoa rất quan trọng với học sinh khi học tập. Quyển sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 1 cũng là một trong số đó.

Cuốn sách giáo khoa do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản. Cuốn sách được có hình chữ nhật, được in theo khổ 17x24cm rất nhỏ gọn. Bìa sách có màu hồng, phía trên cùng là dòng chữ “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được in hoa. Phía dưới là tên của cuốn sách – “Ngữ văn” có màu xanh da trời. “Số 8” màu trắng ở dưới chữ “văn” được in khá to. Nổi bật trên bìa sách là một khóm hoa màu vàng nhạt xinh xắn. Bìa sau của cuốn sách có biểu tượng vương miện kim cương chất lượng quốc tế quen thuộc của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Danh sách các bộ sách giáo khoa lớp 8 cũng được in rõ ràng, đầy đủ. Cuốn sách có tất cả một trăm bảy mươi lăm trang không kể bìa.

Cuốn sách giáo khoa Ngữ Văn 8, tập 1 sẽ đem đến cho các học sinh những kiến thức bổ ích. Bởi vậy, chúng ta cần giữ gìn, bảo vệ cuốn sách cẩn thận.

Trong cuộc đời của mỗi người, hẳn ai cũng từng biết qua một vài quyển sách, càng bổ ích hơn khi được đọc hoặc nghiên cứu về chúng. Hôm nay, tui xin giới thiệu với các bạn quyển sách Ngữ Văn 8 – Tập một mà tôi đang được học ở trường. Đây là một quyển sách chứa đựng thật nhiều kiến thức về các phần như: Văn bản, Tiếng Việt, Tập làm văn. Tôi sẽ trình bày đôi nét về quyển sách này để các bạn biết rõ hơn về nó.

Quyển sách Ngữ Văn 8 – Tập một do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành dưới sự cho phép của Bộ Giáo dục và đào tạo, được tái bản lần thứ năm. Để có được một quyển sách với nội dung hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn rất công phu. Nào là phải chọn lọc rồi biên soạn lại, trình bày bìa và minh họa, chọn size chữ, chọn bản in,…Nhân đây, tôi xin nhắc đến một số người đã góp công trong việc phát hành quyển sách này. Bản quyền thuộc Nhà xuất bản Giáo dục và đào tạo. Vế phần nội dung do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên), Nguyễn Hoành Khung (Chủ biên phần Văn), Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt), Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn), Lê A, Diệp Quang Ban, Hồng Dân,… Chịu trách nhiệm xuất bản do chủ tịch HĐQT kiêm tổng Tổng Giám đốc Ngô Trần Ái và phó Tổng Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nguyễn Quý Thao. Biên tập lần đầu Kim Chung, Ngọc Khanh, Hiền Trang. Biên tập tái bản Phạm Kim Chung. Trình bày bìa và minh họa là Trần Tiểu Lâm. Nguyễn Thanh Thúy chịu trách nhiệm biên tập kĩ thuật. Sửa bản in do Phòng sửa bản in (NXB Giáo dục). Chế bản do Công ty cổ phần thiết kế và phát hành sách giáo dục. Sách có mã số 2H811T9 và số đăng ký KHXB: 01-2009/CXB/219 – 1718/GD, được in 70 000 cuốn tại Công ty TNHH MTV XSKT & Dịch vụ In Đà Nẵng. In xong nộp lưu chiểu tháng 02 năm 2009.

Advertisement

Chúng ta đã được rèn luyện, củng cố nâng cao một số kĩ năng trong quá trình tạo lập văn bản như: xây dựng bố cục, xây dựng đoạn văn, liên kết đoạn văn. Chương trình Tập làm văn 8 sẽ được nâng cấp trên một vài phương diện. Sự kết hợp phương thức biểu đạt tự sự, nghị luận mà chúng ta đã được học qua với phương thức biểu đạt khác như miêu tả, biểu cảm sẽ tạo nhiều điều kiện để ta đọc – hiểu văn bản làm cơ sở để đi vào nghiên cứu phương thức biểu đạt thuyết minh. Đây là kiểu văn bản lần đầu được dạy trong nhà trường ở Việt Nam, tuy không xuất hiện nhiều trong lĩnh vực văn chương nhưng lại hết sức thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống.

Chúng ta cũng đã được biết qua các tác phẩm văn học hết sức nổi tiếng được thể hiện dưới hình thức truyện hoặc thơ của các nhà văn lỗi lạc trong và ngoài nước. Điển hình là một số tác phẩm văn học nổi tiếng như: Tôi đi học của Thanh Tịnh, Trong lòng mẹ (trích Những ngày thơ ấu) của Nguyên Hồng, Tức nước vỡ bờ (trích Tắt đèn) của Ngô Tất Tố, Lão Hạc của Nam Cao, Cô bé bán diêm (trích) của An-đéc-xen, Đánh nhau với cối xay gió (trích Đôn Ki-hô-tê) của Xéc-van-tét, Chiếc lá cuối cùng (trích) của O Hen-ri, Hai cây phong (trích Người thầy đầu tiên) của Ai-ma-tốp, Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác (trích Ngục Trung Thư) của Phan Bội Châu, Đập đá ở Côn Lôn của Phan Châu Trinh,…Tôi xin giới thiệu đôi nét về một tác phẩm văn học Việt Nam mà tôi cho là hay nhất trong suốt quá trình học đó là tác phẩm “Tức nước vỡ bờ” trích Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Với ngòi bút hiện thực, sinh động của ông, đoạn trích đã tố cáo, vạch trần bộ mặt tàn ác, bất nhân của xã hội thực dân phong kiến đương thời, đã đẩy họ vào con đường cùng với tình cảnh quá cơ cực khiến họ phải liều mạng chống lại. Và chị Dậu là một hình ảnh tiêu biểu. Truyện còn ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ nông dân vừa giàu tình yêu thương vừa có sức sống tiềm tàng mạnh mẽ.

Bên cạnh các tác phẩm văn học Việt Nam nổi tiếng còn có những tác phẩm văn học nước ngoài với lời văn hết sức tinh tế và độc đáo. Tiêu biểu như đoạn trích “Cô bé bán diêm” của An-đéc-xen. Truyện kể về một hoàn cảnh vô cùng bất hạnh của một em bé bán diêm. Ngay từ nhỏ em đã phải sống trong sự thiếu vắng tình thương của mẹ cùng với sự lạnh lùng, ghẻ độc của cha. Năm mộng tưởng cao đẹp đã cùng em và bà về nơi Thượng Đế. Qua lời văn của tác giả, ta thấy truyện còn tố cáo xã hội đã bất nhân, lạnh lùng, đối xử tàn tệ với trẻ em của xã hội tư bản và lòng thương cảm sâu sắc của tác giả đối với một em bé bất hạnh mà An-đéc-xen muốn truyền đạt cho chúng ta.

Như vậy, qua đó ta cũng đã thấy được vô vàn kiến thức bổ ích cần phải tìm hiểu sâu hơn trong quyển sách Ngữ Văn 8 – tập một này. Nó giúp ta tiếp cận với những tác phẩm văn học nổi tiếng được truyền qua nhiều thế hệ từ đó mới thấy được chân giá trị của nghệ thuật, đối với người học văn, nó còn làm cho tâm hồn ta bay bổng, thanh thản, nhẹ nhàng hơn để giảm bớt đi những áp lực nặng nề của cuộc sống. Hơn nữa, sách còn mang ý nghĩa giáo dục to lớn, tôi luyện cho ta nhiều kiến thức trong việc giao tiếp hàng ngày dù là thể hiện dưới mọi hình thức. “Có đam mê đọc sách mới thấy được những giá trị tiềm tàng của sách”.

Với tôi, sách là người bạn thân thiết, mãi đồng hành cùng tôi trên ghế nhà trường. Và tôi luôn nâng niu, trân trọng từng trang sách, từng bài học, từng lời văn,…vì tôi biết sách luôn kề vai sát cánh bên tôi, bồng bế tôi qua những nẻo đường khúc khuỷu để tiến về đỉnh vinh quang của học vấn.

“Sách là ngọn đèn bất diệt của trí tuệ” Thật vậy, câu nói này đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ và nó vẫn còn mang ý nghĩa tồn tại trong mọi thời đại. Ngọn đèn tri thức chính là sách và ngọn đèn ấy chẳng bao giờ bị dập tắt cho dù nó có đứng trước những thay đổi thất thường của thời tiết.

Ôi! Quyển sách Ngữ Văn 8 – Tập một chứa đựng biết bao nhiêu là kho tàng tri thức vô giá của nhân loại. Sách như ngọn đèn sáng soi bước đường tôi đi và sách cũng như chiếc chìa khóa vạn năng mở toang các cánh cửa trên con đường học vấn tôi đang lê bước và một sự đóng góp lớn lao trong việc “Trăm năm trồng người”. Đó chính là công sức to lớn của những thầy, cô giáo luôn tận tụy, hết mình vì học sinh, luôn tìm tòi những cách giảng thật hay, thật dễ hiểu để học sinh chúng tôi có thể tiếp thu dễ dàng những kiến thức bổ ích mà thấy, cô đang truyền đạt. Như vậy, sách cũng như những người thầy, người cô lái đò đưa chúng tôi sang sông cập bến của tương lai tươi sáng.

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Cây Mai Ngày Tết 2 Dàn Ý & 19 Bài Văn Mẫu Lớp 8 Hay Nhất

Hoa mai cũng có nhiều loại như hoa mai vàng, hoa mai trắng, hoa mai Tứ Quý…. Mỗi loài hoa đều mang trong mình vẻ đẹp, hương sắc và ý nghĩa riêng. Mời các em cùng theo dõi bài viết để rèn kỹ năng thuyết minh về loài hoa thật tốt.

TOP 19 bài thuyết minh về cây mai ngày Tết

Dàn ý thuyết minh về cây hoa mai (2 mẫu)

Thuyết minh cây hoa mai ngắn gọn

Thuyết minh cây hoa mai chi tiết (18 mẫu)

Dàn ý thuyết minh về cây hoa mai

1. Mở bài

Giới thiệu cây hoa mai: Một trong những đặc trưng ngày Tết Nam Bộ chính là cây hoa mai.

2. Thân bài

a. Khái quát chung

Cây hoa mai vốn là một cây dại mọc trong rừng từ miền trung trở vào.

Cây mai thường nở vào dịp tết, gắn bó và trở thành một đặc trưng của miền Nam nước ta.

Cây mai là loại cây ưa khí hậu nóng ẩm.

b. Thuyết minh chi tiết cấu tạo

Cây mai ngày tết cao khoảng gần 1m, thân cây được người trồng uốn nắn thành nhiều hình dáng khác nhau mang ý nghĩa may mắn cho người sở hữu.

Thân cây màu nâu, lá màu xanh, bông hoa thường có màu vàng. Khi nở hoa có 5 cánh, phấn hoa thì có màu nâu đỏ.

c. Chăm sóc

Cây mai ưa nhiệt độ nóng ẩm, nở vào dịp gần tết, người trồng cần để ý đến khí hậu và thời tiết để cây nở hoa đúng dịp tết.

Từ khi cây còn non, người trồng cần chăm chỉ cắt tỉa, uốn nắn để cây có hình dáng đẹp đúng như mong muốn.

Người trồng cần phải tuốt lá, chăm bón kĩ càng vào dịp gần tết để đảm bảo cây ra hoa.

d. Công dụng

Cây mai trước hết là biểu tượng của ngày tết Nam Bộ nói riêng và là biểu tượng của ngày tết nói chung.

Cây mai làm đẹp cho đời, tô điểm cho mùa xuân thêm đẹp hơn.

Cây mai còn mang lại giá trị kinh tế cho người nông dân trồng trọt loại cây này, giúp họ có cái tết ấm no hơn.

3. Kết bài

Khái quát lại giá trị cây mai ngày tết nói riêng cũng như giá trị của cây mai nói chung.

Thuyết minh cây hoa mai ngắn gọn

Mùa xuân là mùa của cây trái đâm chồi nảy lộc đấy là giai đoạn mà muôn hoa đâm hoa kết trái những mầm lộc non đã ra nó mang đậm những nét dịu dàng và mát mẻ của mùa xuân, tiêu biểu trong đó là hình ảnh cây mai vào mùa xuân.

Cây mai là một cây được trồng chủ yếu ở miền Nam, đó là một miền có khí hậu phù hợp với nó, nó có thể ra hoa và phát triển tươi tốt, những hình ảnh đó đã tác động sâu sắc đến mỗi con người khi ngắm nhìn nó, nhiều những hình ảnh đẹp đã được thể hiện sâu sắc, những cánh hoa mai vào mùa xuân làm cho con người rạo rực đến tết, đó là ngày mà gia đình sum họp, những thành viên trong gia đình có thể về với gia đình của mình, những hình ảnh đó đã thể hiện được sự ấm cúng của mùa xuân, chính vì vậy biểu tượng về cây hoa mai đã để lại nhiều cảm xúc cho mỗi người, hình ảnh về câu hoa mai đã làm cho chúng ta đậm lòng những hình ảnh quen thuộc đó.

Mùa xuân là mùa của cây cối ra chồi lộc non, cây mai với những mầm lộc non mơn man, làm cho chúng ta có nhiều cảm xúc rất riêng và tạo cho nó những ấn tượng sâu sắc nó không chỉ làm cho con người thêm ấm đượm tình người và khung cảnh thiên nhiên nơi đây cũng để lại nhiều sâu sắc trong mỗi người, hình ảnh đó đã thể hiện được những hình ảnh của cây mai đã làm cho chúng ta thêm phần thêm sắc xuân, với thân cây dài và cành xòe ra hai bên, những cành mai đã được trang trí trong nhà của mỗi người vào dịp tết đến xuân về hình ảnh mang những đặc trưng sâu sắc và tạo nhiều ấn tượng trong lòng người, hình ảnh đó vang vọng và để lại nhiều cảm xúc cho người đọc.

Thân cây mai có màu xám, cành lá của nó xanh mơn mởn vào mùa xuân, có nhiều chồi non đang nở ra cành mai đang tràn ngập sức sống, nó thể hiện những dấu ấn riêng biệt cho con người về hình ảnh của nó, nó không chỉ tạo cho con người những cảm xúc riêng mà còn sâu sắc và để lại nhiều những ấn tượng sắc, khi hoa mai có màu vàng nhẹ nhàng nó thu hút những sự chú ý của mọi người vào nó, hình ảnh đó đã tác động mạnh mẽ đến mỗi người, trong không gian của thiên nhiên chúng ta không thể nào kiềm chế được cảm xúc của mình khi thiên nhiên đẹp và dịu dàng thể hiện qua hình ảnh cây mai, những cây mai thân hình mỏng rẻ đó lại tạo ra nhiều hoa và nó có những hình ảnh sâu sắc đem lại những cái nhìn riêng biệt của con người vào nó.

Thuyết minh cây hoa mai chi tiết Thuyết minh về cây hoa mai – Mẫu 1

Hoa mai vốn sinh trưởng ở núi rừng, nó mang cái vẻ đẹp của núi rừng hoang sơ độc đáo. Mãi cho đến sau này, trải qua sự thẩm định vẻ đẹp với thời gian nó được con người phát hiện ra và trân trọng nó như người bạn thân thiết.

Mai có nhiều loại khác nhau nhưng nổi bật nhất là mai vàng và bạch mai. Bởi được sinh ra từ núi rừng nên mai rất dễ trồng và phát triển cũng nhanh.

Tuy thể lực cường tráng là vậy nhưng thân hình của cây mai lại rất mỏng manh, đơn sơ nên được người ta xếp vào loại cây cảnh quý. Cây cảnh quý thường được trồng trong vườn nhà, như thể hiện sự nâng niu với cái đẹp.

Mỗi năm hoa mai chỉ nở đúng một lần, nó và hoa đào đều nở cùng vào dịp Tết nguyên đán của dân tộc, vốn cái dáng vẻ đã chứa nhiều ý nghĩa nay thêm việc nở hoa duy nhất vào dịp Tết đến, hoa mai và hoa đào lại càng trở nên ý nghĩa hơn bao giờ hết.

Xuân đến Tết về, năm nào cũng như năm nào trong mỗi gia đình miền Nam đều cố gắng sắm sửa cho mình một cây mai đặt trong nhà, mai màu vàng đặt trong nhà vào ngày Tết như thể hiện sự may mắn cho một năm mới của gia chủ. Ngoài chuyện hoa mai như tô điểm thêm cho Tết một màu sắc đặc biệt, một không khí ấm áp, thấm đẫm tình yêu thương giữa người với người, thì hoa mai còn được dùng để làm thuốc trong y học giống như hoa đào. Ta thấy được nét chung cho hai loài hoa đặc trưng của dân tộc đó là vừa mang lại giá trị về tinh thần vừa mang đến giá trị vật chất hiện hữu, mang nét đặc sắc riêng nhưng không hề rời xa thực tại.

Đông tàn, xuân đến cho loài hoa đâm chồi nảy lộc. Xuân đến mang theo những bông hoa mai nở rộ vươn lên từ đất mẹ, mang trong mình tất cả những gì trong trắng, duyên dáng, hồn nhiên nhất, cho dù là bây giờ hay mãi mãi về sau này.

Thuyết minh về cây hoa mai – Mẫu 2

Bàn về nét văn hóa Việt Nam không thể quên ngày Tết. Tết được coi là ngày lễ quan trọng nhất trong một năm của người Việt. Ngày Tết là dịp để cả gia đình quần tụ, sum vầy, đón chào những thời khắc thiêng liêng của thời gian. Không khí ngày Tết không thể thiếu được mùi vị của bánh chưng và màu sắc của những cành mai đối với Nam Bộ và cành đào đối với miền Bắc.

Sở dĩ mai là biểu trưng ngày Tết của miền Nam là bởi khí hậu miền Bắc Việt Nam rất khác so với vùng này. Do chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc nên những ngày Tết ở miền Bắc thường lạnh, vì thế mà không có hoa mai. Cây hoa mai từ lâu đã trở thành biểu tượng không thể thiếu của mỗi gia đình mỗi dịp Tết đến xuân về. Hoa mai có rất nhiều loại. Có mai vàng, mai tứ quý, mai trắng, mai chiếu thủy, mai ghép…

Mai vàng là loại phổ biến nhất, đẹp nhất. Đúng như tên gọi của nó, mai vàng có nụ nở thành từng chùm, có cuống dài treo lơ lửng mọc trên cành, cánh hoa mỏng, màu vàng tươi, có mùi thơm kín đáo. Mai tứ quý thì lại khác. Mai tứ quý là loại mai nở quanh năm, sau khi cánh hoa tàn và rụng hết, còn lại hai đến ba hạt nhỏ dẹt đen bóng. Lá nhỏ lăn tăn là mai chiếu thủy. Loại này có mùi thơm ngát về đêm. Mai chiếu thủy rất được ưa chuộng trồng ở những nơi ẩm như hòn non bộ.

Cách chăm sóc hoa mai không quá phức tạp. Hoa mai ưa ánh nắng, độ ẩm vừa phải. Vì thế mà hoa mai thường được trồng ở những nơi đón nắng nhiều nhất. Cũng vì lí do này mà khí hậu miền Bắc không thích hợp cho mai phát triển. Mai có thể được trồng trong chậu hoặc tại vườn đều được. Điểm chú ý khi chăm sóc mai đó là mai không cần đất quá ẩm.

Mặc dù yêu ánh nắng, nhưng mai không thích đất khô hoặc úng nước. Nên, người trồng thường xuyên phải để ý kiểm tra độ ẩm của đất để cung cấp nước cho phù hợp. Đặc biệt, để hoa nở đúng vào những ngày Tết hoặc thời điểm mà người trồng mong muốn, trước đó họ phải tuốt hết lá trên cây mai để nụ hoa đâm ra nhanh chóng nở khoe sắc. Thường là trước thời điểm nở khoảng 2 tuần.

Sau khi tuốt lá, người trồng phải đặc biệt chú ý chăm sóc mai cẩn thận để mai có thể ra hoa đúng như kế hoạch. Cần chú ý cả lượng nước lẫn ánh nắng chiếu vào. Mai là loài cây sống mạnh, được coi là giống cây dễ trồng nhất. Cây mai không kén đất trồng, bất cứ loại đất nào mai cũng có thể sinh sôi nảy nở được, trừ đất nghèo không thể trồng được loài cây nào mà thôi.

Mai sinh trưởng tốt nhất ở đất thịt nhẹ nhiều chất hữu cơ, không bị nhiễm mặn, chua, nhiễm phèn hoặc hóa chất độc hại. Chỉ duy nhất một điều cần chú ý đó là mai rất sợ úng nước. Mai bị ngập nước quá lâu sẽ héo dần rồi chết. Thân cây mai sần sùi khá giống các loại cây cổ thụ. Không giống cây đào thân mảnh và mỏng, thân cây mai chắc chắn và dày hơn. Lá mai tròn nhỏ, không dài như lá cây đào.

Mai sống tốt và thích hợp nhất ở khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ khoảng 27 đến 32 độ C. Xuất xứ từ loài cây hoang dại, mai có khả năng thích ứng tốt với khí hậu nhiệt đới đặc biệt là khí hậu có hai mùa mưa – nắng rõ rệt như ở miền Nam. Cây mai có tuổi thọ cao, được chăm sóc tốt sẽ sinh trưởng nhanh và ra hoa sớm. Cây mai rụng lá mỗi năm một lần, nở hoa vào mùa xuân khoảng tháng 2 dương lịch. Riêng hoa mai tứ quý thì nở quanh năm.

Hoa mai đứng đầu trong bộ tứ bình, là sức sống, là cái hồn của mùa xuân Việt Nam. Đến cận kề ngày xuân, ra phố nhìn thấy cánh mai vàng, sắc vàng của hoa mai là không khí Tết đã rộn ràng lan tỏa đến mọi nhà. Từng chùm, từng chùm mai mọc quấn quýt lấy nhau tạo một tổng thể trang nhã, rực rỡ. Màu vàng hoàng tộc của hoa mai đã khiến cho nó mang một vẻ đẹp quyền quý cao sang.

Hoa mai có hương thơm thoang thoảng, nhẹ nhàng, kín đáo, xoa dịu lòng người. Vì thế mà không chỉ có tác dụng trang trí trong nhà đặc biệt là các dịp lễ tết, hoa mai còn là một món quà vô cùng ý nghĩa tặng người thân, bạn bè nhân dịp đầu năm mới. Ngày xuân sum họp, mọi người quây quần bên nhau, con cháu xa quê về thăm ông bà cha mẹ không quên mang một cành mai về làm quà cho gia đình.

Những lời chúc tốt đẹp cho năm mới sẽ ý nghĩa hơn, trọn vẹn hơn khi có bóng dáng hoa mai làm điểm nhấn. Hoa mai không chỉ có giá trị thẩm mỹ cao mà còn mang giá trị tinh thần sâu sắc của người Việt. Nguyễn Du đã lấy hình ảnh cây mai làm thước đo của sắc đẹp khi miêu tả vẻ đẹp cả hai chị em Thúy Vân Thúy Kiều: “Mai cốt cách tuyết tinh thần”. Mang vẻ đẹp thanh khiết và tao nhã, mai đã trở thành biểu tượng đẹp trong mắt con người. Sắc mai vàng rực rỡ đón nắng luôn là hình ảnh khó phai trong lòng mỗi người dân đất Việt.

Hoa mai là biểu tượng của ngày Tết, là thước đo sắc đẹp, là niềm tự hào của người dân Việt đặc biệt là người dân xứ Sài Gòn. Không ai có thể phủ nhận vẻ đẹp của mai cũng như quên được màu sắc hoàng gia của nó. Ngày nay, người miền Bắc cũng rất thích để cây mai trong nhà vào dịp Tết, mặc dù không hợp khí hậu nhưng ai cũng muốn trong nhà mình có hình ảnh của cây mai, cành mai, hoa mai. Bởi vậy mới nói, hoa mai là niềm tự hào của người dân Việt.

Thuyết minh về cây hoa mai – Mẫu 3

Mỗi dịp xuân về, ngàn hoa lại khoe sắc. Trong muôn ngàn loài hoa rực rỡ sắc hương ấy có một loài hoa rất đỗi quen thuộc với người Việt Nam: hoa mai vàng.

Mai vàng thuộc họ hàng mai, vốn là một loài cây hoang dã, mọc nơi núi rừng với dáng vẻ tự nhiên mà quyến rũ. Trải qua thời gian cùng với nhu cầu thưởng ngoạn, trao gửi tâm linh, con người đã phát hiện, thuần dưỡng và xem mai như một người bạn thân thiết, tao nhã.

Mai có dáng vẻ thanh cao. Thân cây mềm mại, lá xanh biếc, dịu dàng, hoa tươi, rực rỡ. Cây mai thường trút lá vào mùa đông và ra hoa vào mùa xuân. Hoa nở thành từng chùm, có cuốn dài treo lơ lửng trên cành, thoảng mùi thơm e ấp, kín đáo. Mỗi nụ hoa thường có năm cánh. Cá biệt có hoa tới những chín, mười cánh. Dân gian vẫn tin rằng năm mới nhà nào có cành mai như vậy là dấu hiệu của điềm lành, của một năm thịnh vượng, an khang.

Mai thuộc loại dễ trồng và cũng dễ chăm sóc. Người ta thường trồng mai bằng cách chọn những hạt mai nhín mẩy, phơi khô rồi đem gieo vào đất ẩm, có thể gieo trong chậu hoặc ngoài vườn. Nó ưa đất ẩm và ánh sáng nhưng không chịu được úng. Vì vậy cần trồng cây mai nơi cao ráo và phải thường xuyên tưới nước cho cây. Nếu trồng trong chậu thì cần chú ý bón phân và thay đất hàng năm. Nếu chăm sóc tốt thì khoảng 5 – 7 năm mai có thể cho hoa. Để có một chậu hoa đẹp thường chú ý cắt nhánh, uốn cành, tạo thế để có được những chậu mai có hình dạng độc đáo, mang ý nghĩa sâu sắc, đậm chất triết lí Á Đông. Để mai ra hoa đúng vào ba ngày Tết, người trồng mai thường phải chú ý trút lá và canh thời tiết. Năm nào thời tiết nắng ấm thì trút lá trước Tết khoảng hai mươi lăm ngày. Năm nào rét đậm thì phải trút lá sớm hơn.

Từ lâu cây mai đã đi vào đời sống tinh thần của người Việt Nam. Tương truyền rằng chúa Nguyễn Hoàng lúc di dân vào miền Nam lòng vẫn không nguôi nỗi nhớ thương cành đào xứ Bắc nên mỗi độ xuân về lại dùng cành mai thay thế. Có lẽ thú chơi mai ngày Tết của người Việt ra đời từ đó. Đối với người Việt Nam, nhất là người miền Trung và miền Nam, mai thường là một thứ hoa thường không thể thiếu trong ngày Tết. Ba ngày xuân, ai cũng muốn có một cành mai đẹp trong nhà, vừa để tô điểm sắc xuân, vừa để cầu mong những điều tốt đẹp. Cùng với hoa đào miền Bắc, hoa mai trở thành hiện thân của mùa xuân phương Nam. Mai, trúc, cúc, tùng là biểu tượng của bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Du đã viết: “Nghêu ngao vui thú yên hà/Mai là bạn cũ, hạc là người quen”. Mai là biểu tượng của người quân tử, là bạn tâm giao của những người thanh lịch, tao nhã.

Mai là một cây quý của người Việt Nam. Hiểu biết về cây mai sẽ giúp chúng ta khám phá ra bao điều thú vị để từ đó càng thêm yêu quý, nâng niu trân trọng và biết cách làm tôn vinh giá trị của mai, góp phần làm cho ngàn hoa của xứ sở luôn rực rỡ sắc hương.

Thuyết minh về cây hoa mai – Mẫu 4

Lâu lắm rồi mai chỉ có một loại mọc hoang dã nơi núi rừng với dáng vẻ hoang sơ hết sức tự nhiên và độc đáo. Dần dần cùng với sự thẩm định của thời gian cũng như đòi hỏi thưởng ngoạn và gửi gắm tâm linh của con người, mai được người đời phát hiện và trân trọng nâng niu như những người bạn thân thiết quý mến.

Mai có rất nhiều loại khác nhau: hồng mai, bạch mai, cúc mai, huyết mai… Nhưng phổ biến nhất vẫn là mai vàng và bạch mai. Mai dễ trồng và mọc khắp nơi. Đặc biệt có một loài mai gọi là mai tứ quý, cành lá xum xuê, cành lá xanh biếc và nở hoa bốn mùa. Loại này cũng dễ trồng và phát triển khá nhanh.

Với dáng vẻ thật đơn sơ và mỏng mảnh, mai được người đời xếp trong những loại cây cảnh quý mà xưa nay ta vẫn thường thấy trong mảnh vườn bé nhỏ của mỗi gia đình. Người ta dễ trồng mai, chơi mai bất kể sang hèn, trí thức hay thường dân. Hơn hai trăm năm trước, đại thi hào Nguyễn Du đã ví mai như một người bạn: “Nghêu ngao vui thú yên hà/Mai là bạn cũ, hạc là người quen”. Không những tết, thậm chí ngày thường ta vẫn thấy đâu đó nhưng gia đình đưa mai vào trong chậu đặt trang trọng giữa nhà để hoa nở trong suốt mùa xuân.

Bác tôi là một người chơi cây cảnh đã gần bốn mươi năm nay. Tết năm nào đến nhà, dù đói dù no, dù vui dù buồn cũng thấy bác tôi đặt trang trọng một chậu mai trắng đặt giữa nền nhà. Bác bảo nay là sở thích của ông tôi truyền lại. Ông yêu cái vẻ đẹp giản dị mà dịu dàng, ấm áp giữa ngày xuân của mai – “mai là bạn cũ”… Không những thế mai còn được người đời coi là biểu tượng của tính trung thực, lịch lãm, cao cả và thuần khiết cùng với tùng, cúc, trúc. Người đời thường nói, chỉ trong hoàn cảnh sống chết mới biết rõ đâu là bạn thực, đâu là bạn giả. Tùng – cúc – trúc – mai cũng vậy, dù sống trong hoàn cảnh nào, dù đạn bom mưa gió bão bùng vẫn ngời ngời một sức sống âm thầm, dai dẳng. Trong khi đó ta thấy vạn vật xung quanh như vẫn đang chìm sâu trong giấc ngủ đông dài rét mướt.

Mai rất dễ trồng nhưng cũng thật khó với những người không chuyên chơi mai. Mai sẽ chết nếu như bị úng nước hoặc quá rợp. Nếu đủ nắng mai sẽ nở đều, cánh mập hơn và dày hơn. Đối với những người chuyên chơi mai, loại mai nở dày, đúng độ xuân về họ thường giữ lại trong vườn nhà chứ không chặt vào nhà, cần thì mua thêm. Sở dĩ như vậy là vì ở một số địa phương họ coi mai như một người con gái trong trắng tinh khiết của mùa xuân, biểu tượng của sự may mắn hạnh phúc trong gia đình và vì vậy không ai đang tâm chặt mà chỉ mua thêm về nhà mà thôi.

Trong lịch sử đã không hiếm những danh nhân say mai, trồng mai để ngắm và làm bạn suốt đời. mai nhỏ nhoi mà tiềm ẩn một sức sống mãnh liệt. Nó thật xứng đáng như một người con gái nết na, dịu hiền. Thời loạn lạc, mai còn đóng vai trò như một lời khuyên chân thành với người đời hãy sống hết mình, vị tha, thanh bạch không màng đến lợi danh.

Trong mắt bạn, trong mắt tôi, đông đang tàn cho một mùa xuân đâm chồi nảy lộc. Xuân đang đến cùng với những nhành mai đang nở rộ vươn lên từ đất mẹ với tất cả những gì là trong trắng, hồn nhiên, duyên dáng… cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau…”

Thuyết minh về cây hoa mai – Mẫu 5

Trong những ngày tết truyền thống của Việt Nam ta không thể thiếu những cây hoa mai, hoa đào. Miền Bắc thì có hoa đào, còn miền Nam thì có hoa mai. Từ rất lâu, hoa mai tượng trưng cho những gì đẹp đẽ thanh tao nhất. Hoa mai còn báo hiệu mùa xuân đang về và trong ngày xuân thì hoa mai là biểu tượng không thể thiếu của người Việt Nam.

Khi mùa xuân về cũng là lúc những cánh hoa mai vàng nở rộ, trong ngày tết cổ truyền của người Việt Nam việc chơi hoa mai là thú chơi thanh cao, tao nhã, thể hiện được tâm hồn yêu hoa và thẩm mĩ của người Việt Nam, mỗi khi nhìn thấy những cánh mai vàng nở, búp mai vàng ngát hương thơm mát, tuôn trào những sắc vàng ấm áp, làm cho chúng ta cảm thấy ấm áp hơn để chào đón một năm mới với nhiều điều may mắn, an lành, vì vậy mà mai là cây không thể thiếu trong ngày tết của Việt Nam ta.

Có câu thơ rất hay nói về hoa mai: “Hoa mai, nàng tiên của mùa xuân!”, thật đẹp làm sao? Hoa mai được ví như nàng tiên, một nàng tiên thơ mang mùa xuân đến cho trần gian, mang không khí mùa xuân ngập tràn màu sắc và hơi ấm.

Từ xa xưa hoa mai được xếp vào hàng tứ quý: tùng, cúc, trúc, mai. Cây mai được xếp vào một trong những cây quý, tượng trưng cho bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Những cây tượng trưng cho phẩm chất tốt đẹp của con người, ngoài ra mai còn tượng trương cho sự cát tường, an lành.

Hương hoa mai thơm tinh khiết, có vẻ đẹp rực rỡ, hoa mai đã là niềm cảm hứng trong thơ ca của rất nhiều nhà văn, nhà thơ và là nguồn cảm hứng vô tận của nhất nhiều nhà họa sĩ, đã có những bức tranh tuyệt đẹp về cây hoa mai, hoa mai tượng trưng cho khí phách quân tử, phẩm chất cao đẹp của con người. Cây mai được chăm sóc để nở hoa đúng dịp mùa xuân.

Ở Việt Nam, mai vàng là loài mai phổ biến nhất. Mai vàng là một cây rừng và thuộc họ hoàng mai, có những loại mai khác nữa như hồng mai, bạch mai, mai tứ quý, đàn hương mai… nhưng những loại mai này không phổ biến ở Việt Nam. Thân cây mai nhỏ nhăn, vỏ sần sùi, cành khẳng khiu, hoa mai màu vàng, mọc thành chùm, có cuống dài treo lơ lửng bên cành.

Cây mai có thể chiết cành để trồng hoặc là trồng từ hạt, mai thích hợp khi trồng ở đất ẩm và có ánh sáng, có thể trồng hoa mai ở trong chậu cây cảnh, bồn hay ở vườn đều được. Cây mai đẹp là cây hoa hoa to, nở rực rỡ và lâu tàn, trên một gốc mai thì các nhánh được sắp xếp đẹp mắt, tượng trưng cho một năm có nhiều may mắn, làm ăn phát tài, phát lộc.

Nguyễn Du có một câu thơ nói về mai rất hay:

Trong câu thơ mai được ví như một người bạn tâm giao, biểu tượng của người quân tử của những người bạn thanh lịch, tao nhã. Vào mỗi dịp tết, miền Bắc có hoa đào thì miền Nam có hoa mai. Những bông hoa mai vàng nở rộ tươi sắc báo thông điệp mùa xuân đã về, mang hạnh phúc đến cho mọi nhà.

Hoa mai gắn liền với văn hóa lâu đời của nhân dân ta, hoa mai mang những nét đẹp thanh cao, gần gũi, thân thiết gắn bó với con người. Hoa mai là nguồn vui cho chúng ta khi mùa xuân về, hiểu về hoa mai chúng ta hiểu thêm về nhiều giá trị, vẻ đẹp, của cây mai và biết cách nâng niu chăm sóc để cứ mỗi dịp xuân về các sắc hoa lại thi nhau đua nở.

Thuyết minh về cây hoa mai – Mẫu 6

Tết được coi là ngày lễ quan trọng nhất trong một năm của người Việt. Ngày tết là dịp để cả gia đình sum vầy và đón chào những thời khắc thiêng liêng của thời gian. Không khí ngày Tết không thể thiếu được màu sắc của những cành mai, đặc biệt là đối với người dân miền Nam.

Cây hoa mai từ lâu đã trở thành biểu tượng không thể thiếu của mỗi gia đình mỗi dịp Tết đến xuân về. Hoa mai có rất nhiều loại. Có mai vàng, mai tứ quý, mai trắng, mai chiếu thủy, mai ghép… nhưng mai vàng là loại phổ biến nhất, đẹp nhất và thường được chơi nhất vào ngày tết. Đúng như tên gọi của nó, mai vàng có nụ nở thành từng chùm, có cuống dài treo lơ lửng mọc trên cành, cánh hoa mỏng, màu vàng tươi, có mùi thơm kín đáo.

Cách chăm sóc hoa mai không quá phức tạp. Hoa mai ưa ánh nắng, độ ẩm vừa phải. Vì thế nó thường được trồng ở những nơi đón nắng nhiều nhất. Cũng vì lí do này mà khí hậu miền Bắc không thích hợp cho mai phát triển. Mai có thể được trồng trong chậu hoặc tại vườn đều được. Điểm chú ý khi chăm sóc mai đó là mai không cần đất quá ẩm. Mặc dù yêu ánh nắng, nhưng mai không thích đất khô hoặc úng nước. Nên, người trồng thường xuyên phải để ý kiểm tra độ ẩm của đất để cung cấp nước cho phù hợp. Đặc biệt, để hoa nở đúng vào những ngày Tết hoặc thời điểm mà người trồng mong muốn, trước đó họ phải tuốt hết lá trên cây mai để nụ hoa đâm ra nhanh chóng nở khoe sắc. Thường là trước thời điểm nở khoảng hai tuần. Sau khi tuốt lá, người trồng phải đặc biệt chú ý chăm sóc mai cẩn thận để mai có thể ra hoa đúng như kế hoạch. Cần chú ý cả lượng nước lẫn ánh nắng chiếu vào. Mai là loài cây sống mạnh, được coi là giống cây dễ trồng nhất. Cây mai không kén đất trồng, bất cứ loại đất nào mai cũng có thể sinh sôi nảy nở được, trừ đất nghèo không thể trồng được loài cây nào mà thôi. Mai sinh trưởng tốt nhất ở đất thịt nhẹ nhiều chất hữu cơ, không bị nhiễm mặn, chua, nhiễm phèn hoặc hóa chất độc hại. Chỉ duy nhất một điều cần chú ý đó là mai rất sợ úng nước. Nếu bị ngập nước quá lâu, cây sẽ héo dần rồi chết.

Thân cây mai sần sùi khá giống các loại cây cổ thụ. Không giống cây đào thân mảnh và mỏng, thân cây mai chắc chắn và dày hơn. Lá mai cũng tròn nhỏ, không dài như lá cây đào. Mai sống tốt và thích hợp nhất ở khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ khoảng 27 đến 32 độ C. Xuất xứ từ loài cây hoang dại, mai có khả năng thích ứng tốt với khí hậu nhiệt đới đặc biệt là khí hậu có hai mùa mưa – nắng rõ rệt như ở miền Nam. Cây mai có tuổi thọ cao, được chăm sóc tốt sẽ sinh trưởng nhanh và ra hoa sớm. Cây mai rụng lá mỗi năm một lần, nở hoa vào mùa xuân khoảng tháng hai dương lịch. Riêng hoa mai tứ quý thì nở quanh năm.

Hoa mai đứng đầu trong bộ tứ bình, là sức sống, là cái hồn của mùa xuân Việt Nam. Đến cận kề ngày xuân, ra phố nhìn thấy cánh mai vàng, sắc vàng của hoa mai là không khí Tết đã rộn ràng lan tỏa đến mọi nhà. Từng chùm, từng chùm mai mọc quấn quýt lấy nhau tạo một tổng thể trang nhã, rực rỡ. Màu vàng hoàng tộc của hoa mai đã khiến cho nó mang một vẻ đẹp quyền quý cao sang. Hoa mai có hương thơm thoang thoảng, nhẹ nhàng, kín đáo, xoa dịu lòng người. Vì thế mà không chỉ có tác dụng trang trí trong nhà đặc biệt là các dịp lễ tết, hoa mai còn là một món quà vô cùng ý nghĩa tặng người thân, bạn bè nhân dịp đầu năm mới. Ngày xuân sum họp, mọi người quây quần bên nhau, con cháu xa quê về thăm ông bà cha mẹ không quên mang một cành mai về làm quà cho gia đình.

Những lời chúc tốt đẹp cho năm mới sẽ ý nghĩa hơn, trọn vẹn hơn khi có bóng dáng hoa mai làm điểm nhấn. Hoa mai không chỉ có giá trị thẩm mĩ cao mà còn mang giá trị tinh thần sâu sắc của người Việt. Nguyễn Du đã lấy hình ảnh cây mai làm thước đo của sắc đẹp khi miêu tả vẻ đẹp cả hai chị em Thúy Vân Thúy Kiều: “Mai cốt cách tuyết tinh thần”. Mang vẻ đẹp thanh khiết và tao nhã, mai đã trở thành biểu tượng đẹp trong mắt con người. Sắc mai vàng rực rỡ đón nắng luôn là hình ảnh khó phai trong lòng mỗi người dân đất Việt.

Hoa mai là biểu tượng của ngày Tết, là thước đo sắc đẹp, là niềm tự hào của người dân Việt đặc biệt là người dân xứ Sài Gòn. Không ai có thể phủ nhận vẻ đẹp của mai cũng như quên được màu sắc hoàng gia của nó. Ngày nay, người miền Bắc cũng rất thích để cây mai trong nhà vào dịp Tết, mặc dù không hợp khí hậu nhưng ai cũng muốn trong nhà mình có hình ảnh của cây mai, cành mai, hoa mai. Bởi vậy mới nói, hoa mai là niềm tự hào của người dân Việt.

Thuyết minh về cây hoa mai – Mẫu 7

Trong dịp Tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc ta, nếu hoa đào là đặc trưng của mùa xuân phương Bắc thì hoa mai lại là đặc trưng của mùa xuân phương Nam. Trong khu vườn hay trước sân mỗi nhà, thường không thể thiếu bóng dáng của cây mai. Cây hoa mai có nguồn gốc là một loại cây dại mọc trong rừng. Cây cao trên hai mét, thân gỗ, chia thành nhiều nhánh, lá nhỏ cỡ hai ngón tay, màu xanh lục. Tán tròn xoè rộng.

Cây hoa mai có nhiều loại, phổ biến nhất là mai vàng, sau đó là mai tứ quý, rồi đến mai trắng và mai chiếu thuỷ. Cây mai vàng dễ sống, ưa đất gò pha cát hoặc đất bãi ven sông. Có thể trồng đại trà thành vườn ruộng hàng vài mẫu mà cũng có thể trồng vài cây trong vườn, hoặc trong chậu sứ. Đất trồng mai có độ ẩm vừa phải và không úng nước. Phân bón cho mai thường là phân bò khô trộn với tro bếp, khô dầu và một ít urê, ka-li…. Vào khoảng rằm tháng Chạp (tức 15 tháng 12 – Âm lịch) thì người trồng phải tuốt lá cho cây mai. Sau đó giảm tưới nước và bón thúc cho cây nảy nụ. Chỉ sau một tuần là từ các cành, nụ trổ ra chi chít, kết thành từng chùm có cuống rất dài. Bên cạnh mỗi chùm là một túm lá non màu tím nhạt. Trước tết vài ngày, hoa mai lác đác nở. Sáng mùng một Tết, cả cây mai bừng lên một sắc vàng tươi, trông đẹp vô cùng. Mai tứ quý nở quanh năm. Cánh hoa vàng thẫm nở giữa năm đài hoa tựa như năm cánh sen nhỏ xíu màu đỏ sậm. Khi cánh hoa đã rụng hết, nhụy hoa khô đi thì giữa mỗi bông xuất hiện mấy hạt nhỏ xinh xinh như những hạt cườm, lúc non màu xanh, lúc già chuyển thành màu tím đen lóng lánh.

Đứng ngắm vườn mai, ta thầm cảm phục sự mầu nhiệm và hào phóng của tạo hoá. Mai vàng rực rỡ góp sức, góp hương với muôn hoa ngày Tết, lại có mai tứ quý cần mẫn, thịnh vượng quanh năm. Xuân về trên đất phương Nam với màu nắng vàng rực rỡ hoà quyện với không khí tưng bừng náo nức của ngày Tết cổ truyền dân tộc. Nhà ai cũng muốn có một cây mai, hoặc một bình hoa mai tươi nở đúng sáng mùng một đầu năm để lấy may. Trong ba ngày tết, hoa mai chưa khoe sắc vàng rực rỡ thì gia chủ khó mà cảm thấy niềm vui trọn vẹn. Cây mai được xếp vào hàng “tứ quý” trong bộ tranh “tứ bình” đại diện cho bốn mùa trong năm: mai, lan, cúc, trúc và hoa mai là biểu tượng của mùa xuân. Về mặt ý nghĩa, cây hoa mai tượng trưng cho phẩm giá thanh cao, tốt đẹp của con người.

Trong những năm gần đây, nhân dân miền bắc đón xuân bằng cả sắc hồng thắm của hoa đào và sắc vàng rực rỡ của hoa mai. Hoa mai, hoa đào hiện diện bên nhau, tô điểm thêm cho mùa xuân tràn đầy sức sống của non nước Việt Nam yêu dấu.

Thuyết minh về cây hoa mai – Mẫu 8

Cứ mỗi độ xuân về, khắp đất trời phương Nam trở nên thật rực rỡ với muôn ngàn sắc hoa. Thế nhưng, loài hoa đặc trưng cho mùa xuân miền Nam chỉ có một. Đó chính là hoa mai.

Cây mai vốn là một loại cây rừng. Ngày xưa, khi đi khai khẩn đất phương Nam, ông cha ta tìm thấy một loại hoa rừng cũng có năm cánh, cũng nở vào dịp Tết như hoa đào nên đem về nhà chưng để tưởng nhớ về cái Tết nơi quê nhà. Từ đó, chơi hoa mai đã trở thành phong tục ngày tết của mỗi gia đình miền Nam.

Cây mai có rất nhiều loại. Mai vàng là loài thường thấy nhất, cũng được chơi nhiều nhất trong ngày tết. Mai vàng thuộc họ hoàng mai. Cành mai có phần uyển chuyển, mềm mại hơn cành đào. Loài cây này thường rụng lá vào mùa đông, đến mùa xuân thì bắt đầu nở hoa. Hoa mai cũng có năm cánh như hoa đào. Khi sắp nở, nụ mai mới phô màu vàng tươi thắm. Hoa mai mang một vẻ đẹp nồng nàn, ấm áp của khí hậu miền Nam. Cánh mai tỏa hương thơm thoang thoảng, kín đáo. Hoa mai mọc thành chùm và có cuống dài treo lơ lửng bên cành. Sau khi nở hoa, cây lại còn cho quả màu đỏ nhạt, bóng như ngọc.

Ngoài ra, còn có nhiều loại mai được các gia đình Việt Nam rất ưa chuộng, dùng làm cây kiểng trong vườn. Đầu tiên phải kể đến là loài mai tứ quý có thể ra hoa cả bốn mùa. Điều đặc biệt là hoa mai tứ quý nở lần đầu có năm cánh màu vàng nhưng sau đó, các cánh hoa rơi rụng dần rồi năm đài hoa đổi thành màu đỏ, trông như một bông hoa mai màu đỏ, rất đẹp. Đó là lý do vì sao mai tứ quý còn có tên gọi là nhị độ mai, nghĩa là hoa mai nở hai lần, trước vàng sau đỏ. Còn có loài mai chiếu thủy thân hình bé nhỏ, cho những chùm hoa màu trắng bé xinh xinh, tỏa hương thơm dịu dàng. Chúng thường được người ta trồng trên các hòn non bộ.

Dù họ nhà mai đa dạng và phong phú, nhưng hoa mai nào cũng được con người xem như biểu trưng của sự tinh khiết, thanh bạch, của tấm lòng tri ân, tri kỷ. Hơn nữa, hoa mai còn được cho là mang đến sự may mắn nếu cây mai bắt đầu nở hoa vào đúng thời khắc giao thừa. Vào dịp Tết, trong mỗi nhà người dân Nam bộ, cây mai hay cành mai luôn được đặt ở vị trí trang trọng nhất. Nếu thiếu sắc mai vàng thì có lẽ cái Tết miền Nam sẽ không thể trọn vẹn được.

Người ta có thể trồng mai trong bồn, trong chậu hay ngoài vườn đều được. Cây mai rất ưa ánh sáng và đất ẩm. Thế nên, mỗi khi gần đến dịp Tết, chỉ cần khí hậu ấm áp, ẩm ướt là hoa mai nở rộ. Nhưng chưa đến giao thừa mà hoa mai đã nở sớm thì trong ba ngày Tết hoa mai rụng sẽ bị cho là điềm xui và cây mai sẽ trông không đẹp nữa. Vì thế, các nghệ nhân trồng mai trong dịp cận Tết luôn bận rộn chăm sóc cho vườn mai của mình, dùng mọi cách để giữ sao cho hoa mai nở rộ vào đúng ba ngày Tết, mang đến may mắn cho mọi nhà. Ngoài ra, các nghệ nhân còn dùng kỹ thuật ghép để tạo ra những cây mai cho hoa rất nhiều cánh. Thậm chí còn có nhiều hoa mai màu khác nhau nở trên cùng một cây. Quả thật, bàn tay kỳ diệu của con người đã góp phần giúp họ nhà mai thêm đa dạng, phong phú và hấp dẫn.

Advertisement

Mai vàng không những đẹp mà còn tượng trưng cho nếp sống văn hóa lâu đời của nhân dân ta. Hoa mai đối với miền Nam cũng như hoa đào đối với miền Bắc, đều là những loài hoa gắn liền với truyền thống dân tộc. Có lẽ vì thế, dù đi đến bất cứ phương trời nào, chỉ cần nhìn thấy sắc mai vàng là những người con miền Nam chợt cảm thấy ấm lòng như đang ở chính quê hương của mình.

Thuyết minh về cây hoa mai – Mẫu 9

Nhan sắc của Vân, Kiều vốn là một trong những bức họa mỹ nhân kinh điển của nền văn học trung đại Việt Nam. Sau khi đã lấy đủ những hình tượng thiên nhiên cao rộng, xa xăm để hình dung vẻ tuyệt đại của các nàng, thì Nguyễn Du đã kết lại vẻ đẹp chung của hai chị em bằng hoa mai tượng trưng cho cốt cách thanh cao, trong sạch. Cây hoa mai có vai trò quan trọng trong đời sống của người Việt Nam.

Mai là một loài cây quen thuộc với nhiều người dân Việt Nam, tên khoa học là Ochna integerrima Ochnaceae, thuộc học Mai (Ochnaceae). Ngoài mai vàng còn có một số tên gọi khác như huỳnh mai, hoàng mai hay lão mai. Theo nhiều ghi chép thì mai có xuất xứ từ Trung Quốc, ban đầu chỉ là một loài cây dại hay mọc hoang trong rừng, sau đó nhận thấy được vẻ đẹp của nó người ta bắt đầu vun Trồng từ cách đây khoảng 3000 năm trước. Sau đó qua sự giao thoa văn hóa của ta và Trung Quốc hàng ngàn năm, Mai bắt đầu du nhập vào nước ta, rồi được nhân dân ưa chuộng và xem trọng giống nước bạn.

Ở Việt Nam hiện nay có khoảng mười chín loại mai khác nhau, trong đó phải kể các loại mai phổ biến như hoa mai năm cánh, hoa mai núi, hoa mai chủy, mai tỳ bà, và mai tứ quý, mai tầm gửi, mai liễu, mai hương, mai cà ná, mai châu, mai nhọn… Nhưng mai vàng là loại hoa phổ biến nhất, tập trung nhiều ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, sau đó dần nhân rộng ra và trải dài từ các tỉnh miền Trung đổ vào miền Nam và Tây Nguyên. Ngày nay người ta cũng tìm thấy ở mạn Bắc một giống mai tên Yên Tử ở tỉnh Quảng Ninh, minh chứng cho sức sống khỏe khoắn, thích nghi được với mọi điều kiện của loài này.

Về đặc điểm hình thái sinh học, thì với mỗi một loài mai vàng chúng lại sai khác nhau ở một số đặc điểm nhỏ, nhưng tựu chung lại mai là cây thân gỗ sống lâu năm, có cây có tuổi thọ cả hàng trăm năm, đây là loài sinh trưởng chậm, chiều cao có thể lên tới 7 – 8 m tùy vào tuổi thọ của cây. Mai càng già thì gốc cây càng to, vỏ thân xù xì, một số loài có thân lên thẳng, nhưng đa số là thân cây mềm mại, cong queo, đẻ nhánh và xõa tán khá rộng. Lá mai khá dày, màu xanh thẫm, mặt trên trơn, mặt dưới hơi thô, gân lá hình mạng, thường rụng lá vào mùa đông để ra hoa rồi mọc lại vào mùa xuân sau khi hoa nở. Đặc điểm chung của mai vàng, đó là hoa bao gồm những cánh mỏng, số cánh có thể dao động từ 5 – 18, màu vàng tươi, mang lại cảm giác trong trẻo, thanh khiết và cao quý. Nhị hoa có màu vàng đậm hơn. Cá biệt có loài mai tứ quý, nở hoa hai lần trên một đài, sau khi năm cánh vàng rụng hết, thì còn lại năm cánh đài đỏ ở dưới, nhìn giống hệt hoa, nên gọi là mai nở hai lần. Thông thường mai chỉ trổ bông vào mùa xuân, và nở một cách đồng loạt, mai nở nhanh, đẹp nhưng cũng rất chóng tàn. Ngoại trừ mai hương có mùi thơm thoang thoảng, thì hầu như các giống mai đều không có mùi thơm, hoặc mùi rất nhẹ mũi người khó nhận biết được.

Đối với người Việt Nam mai vàng ngày tết là tượng trưng cho sự sung túc, thịnh vượng và sự rạng rỡ của cả năm. Bên cạnh đó hoa mai có nhiều hoa và thường nở rộ vào mùa xuân là biểu tượng cho cảnh đoàn viên, ấm cúng, sự đoàn kết gắn bó của các thành viên trong gia đình. Trong nền Nho học đã một thời từng thịnh vượng ở Trung Quốc cũng như nước ta thì mai vàng chính là một trong bốn thứ cây “tùng – cúc – trúc – mai” tượng trưng cho vẻ đẹp của người quân tử. Trong đó mai vàng là biểu tượng của cốt cách thanh cao, trong sạch của con người thế nên mới có câu thơ “Mai cốt cách tuyết tinh thần” để ngợi ca vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều là vậy. Không chỉ có ý nghĩa biểu trưng cho cốt cách cao quý của con người, mà các đặc tính như có bộ rễ ăn sâu, bám chặt vào đất, thích nghi tốt, chịu được điều kiện thời tiết khắc nghiệt nên cây mai còn tượng trưng cho cả phẩm chất kiên cường, mạnh mẽ của con người trong cuộc sống. Thêm vào nữa, tuổi thọ hàng trăm năm của mai vàng cũng khiến nó trở thành loài cây mang ý nghĩa trường thọ, vững bền, trưng trong nhà ngày tết, hay đem làm quà biếu là vô cùng có ý nghĩa.

Tựu chung lại vẻ đẹp, ý nghĩa biểu tượng của hoa mai đã ăn sâu vào tiềm thức và nét nghĩ và nếp sống của con người Việt Nam từ bao đời nay. Có thể mai không rực rỡ, phú quý như phù dung, không cao sang, đài các như mẫu đơn, không có vẻ khiêm tốn, đạm mạc như cúc, hay kiều diễm say lòng người như hồng, nhưng chẳng có thứ hoa nào sánh được với mai ở vẻ uyển chuyển, mềm mại, cốt cách vừa thanh cao, vừa kiên cường được.

Thuyết minh về cây hoa mai – Mẫu 10

Tết Nguyên Đán là một trong những ngày lễ đầu năm âm lịch có ý nghĩa quan trọng bậc nhất ở Việt Nam. Cứ mỗi khi tiết trời vào xuân, nếu như miền Bắc có hoa đào mang sắc hồng tươi thắm thì ở miền Nam, hoa mai như nắng vàng rực rỡ. Cũng như hoa đào, hoa mai mang những vẻ đẹp và ý nghĩa vô cùng đặc biệt đối với ngày Tết.

Hoa mai thường được chơi vào ngày tết là mai vàng là một loài thực vật thuộc chi Mai. Loài cây thân gỗ có hoa, được trưng bày rất phổ biến ở khu vực miền Nam vào dịp Tết. Về mặt phân bố tự nhiên, hoa mai có nhiều tại khu rừng thuộc dãy Trường Sơn trở vào các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng cho tới các vùng núi Đồng bằng sông Cửu Long. Ngày nay, người ta thường trồng và chăm sóc những cây mai cảnh nhiều hơn để phục vụ cho nhu cầu chơi cây cảnh hoặc chơi dịp Tết của người dân. Mai là loài cây có dáng vẻ thanh cao, tao nhã khác thường, thân cây gỗ màu nâu nhưng khá mềm mại và uyển chuyển, đối với những cây mai trồng ở vườn còn được uốn nắn theo các thế cây khác nhau. Lá mai có màu xanh biếc dịu dàng, lá hơi nhỏ và nhọn, vào mùa đông, cây thường trút hết lá để chuẩn bị cho đợt trổ bông vào mùa xuân, đến khi hoa ra gần hết cây mới lại bắt đầu đâm những chồi lộc và ra lá non.

Hoa mai thường nở thành từng chùm mọc ra từ thân cây, chùm hoa có cuống dài treo lơ lửng trên cành. Mỗi nụ hoa mai thường có từ 5 – 9 cánh, đôi khi lại có hoa lên đến 12 – 18 cánh, cánh mai trông rất mỏng manh và mịn màng, từng cánh hoa có màu sắc vàng tươi rực rỡ. Hương thơm của mai vàng thường rất khó nhận ra, nhưng nếu để ý một cách tinh tế thì sẽ cảm nhận được mùi hương thơm thoang thoảng e ấp và kín đáo của hoa mai. Mai vàng thuộc vào một trong những loại khó trồng, cần có sự chăm sóc đặc biệt và trồng được một cây mai sinh trưởng khỏe mạnh, ra hoa đúng đợt phụ thuộc rất lớn vào tay nghề và kinh nghiệm trồng mai. Mai ưa ẩm và ưa ánh sáng nhưng không chịu được úng nên phải trồng nơi cao ráo và tưới nước thường xuyên, nếu trồng trong chậu phải bón phân và thay đất hằng năm.

Một cây mai thế đẹp cần có sự tỉ mỉ cắt tỉa, uốn nắn, từ bàn tay khéo léo của người trồng mai. Nếu muốn hoa mai ra đúng dịp Tết, người trồng mai phải canh thời tiết để trút lá, thời tiết ấm thì trút lá 25 ngày trước Tết, thời tiết lạnh thì trút lá sớm hơn. Đến Tết, hoa mai được đánh nguyên gốc để vào chậu bán, hoặc đem ra đường, phố bán hoặc khách đến tận vườn mua. Ngày tết hầu như mọi nhà đều cố gắng mua hoa mai. Vẻ đẹp của hoa mai vừa để trang trí cho ngôi nhà thêm tươi mới và rực rỡ, bên cạnh đó, hoa mai còn mang nhiều ý nghĩa, tượng trưng cho may mắn, tài lộc và sung túc, nếu thiếu đi mai vàng thì ngày Tết không còn trọn vẹn.

Hoa mai không chỉ gắn với hình ảnh của ngày Tết mà hơn thế, nó còn có một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân miền Nam nói riêng, cũng như đất nước Việt Nam nói chung.

….

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Chùa Hương (Dàn Ý + 8 Mẫu) Giới Thiệu Danh Lam Thắng Cảnh Chùa Hương

Danh lam thắng cảnh Chùa Hương

1. Mở bài:

* Giới thiệu chung:

Chùa Hương là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam.

Sau Tết Nguyên Đán là dịp chùa Hương mở hội. Hội chùa Hương kéo dài gần như suốt mùa xuân.

2. Thân bài:

* Thuyết minh về chùa Hương.

+ Vị trí của chùa Hương:

Thắng cảnh chùa Hương thuộc xã Hương Sơn, huyện Mĩ Đức, tỉnh Hà Tây cũ. Nay thuộc Hà Nội, cách trung tâm thủ đô khoảng 70 km về phía Tây Nam.

Từ Hà Nội đi qua Hà Đông, đến bến Đục thì dừng xe, xuống đi dọc theo dòng suối Yến Vĩ chừng 3 km là đến đền Trinh.

+ Đặc điểm:

Điều hấp dẫn của chùa Hương là sự kết hợp hài hòa giữa núi non, sông suối và đồng ruộng, tạo nên khung cảnh thiên nhiên đa dạng, đẹp như một bức tranh sơn thuỳ.

Khách hành hương đủ mọi thành phần, lứa tuổi, từ khắp mọi miền đất nước tấp nập đến với chùa Hương.

Các ngôi chùa nằm rải rác từ chân núi lên đỉnh núi.

Động Hương Tích lớn nhất, đẹp nhất, được chúa Trịnh Sâm ban tặng 5 chữ: “Nam thiên đệ nhất động” (động đẹp nhất trời Nam).

Cảnh sắc kì diệu trong lòng động hiện ra trong ánh sáng huyền ảo. Chính giữa động có pho tượng Quán Thế Âm Bồ Tát. Xung quanh là những nhũ đá hình cây vàng, cây bạc, buồng tằm, nong kén, núi Cô, núi Cậu… và đặc biệt là hình chín con rồng trên vòm động.

3. Kết bài:

* Cảm nghĩ của bản thân.

Du khách đi chùa Hương không chỉ để lễ Phật cầu phúc mà còn để hòa mình với thiên nhiên tươi đẹp. Từ đó càng thêm yêu mến quê hương, đất nước.

Tôi có nghe một bài hát mở đầu bằng những câu hát rất dễ thương, tươi tắn như sau:

Tôi cũng lại đọc một bài hát nói của Chu Mạnh Trinh rằng:

Tựu chung lại cả hai tác phẩm ấy đều nói về một địa điểm vô cùng nổi tiếng mà theo cách gọi của dân gian là Chùa Hương, nhưng chính xác nó không chỉ là một ngôi chùa riêng biệt mà là một quần thể di tích văn hóa – tôn giáo lớn gọi là Hương Sơn có tuổi đời lên tới vài trăm năm từ thuở vua Lê-chúa Trịnh. Chùa Hương không chỉ mang trong mình vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình tựa như chốn bồng lai tiên cảnh, mà còn mang trong mình sự thanh tịnh, không khí thâm nghiêm của chốn thiền tu. Một lần bước chân đến Hương Sơn dường như khách lữ hành cũng bỏ lại sau lưng mọi nỗi lo trần thế để được tịnh tâm ngắm nhìn phong cảnh núi non, đền chùa, nơi được mệnh danh là “Nam thiên đệ nhất động” này.

Quần thể di tích chùa Hương được xây dựng vào cuối thế kỷ thế kỷ 17 khoảng những năm 1680-1704, việc ra đời của ngôi chùa cũng có nhiều sự tích, nhiều người thắc mắc rằng tại sao lại có hai ngôi chùa tên Hương Tích, một ở Hà Tĩnh và một ở Hà Nội. Chuyện kể rằng, thuở xưa các phi tần, mỹ nữ của chúa quê gốc phần lớn ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh nên cứ mỗi độ xuân về các bà thường hay ngược về Hà Tĩnh để trẩy hội chùa Hương, dâng hương kính Phật. Đó vốn là chuyện tốt đẹp thế nhưng chúa Trịnh lại có mối nghi ngại, sợ phi tần chịu đường xa cực khổ, và vài lý do tế nhị thế nên chúa quyết định cho xây dựng thêm một chùa Hương Tích ở tại Hà Nội để cho các bà trẩy hội được gần hơn. Hiện nay, quần thể di tích này tọa lạc tại xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, bên cạnh sông Đáy, trong đó trung tâm cụm di tích là chùa Hương nằm trong động Hương Tích, người ta còn gọi là chùa Hương Tích hoặc chùa Trong.

Về kết cấu kiến trúc, quần thể di tích Hương Sơn là nơi quy tụ của hàng chục ngôi chùa lớn thờ Phật, nhiều ngôi đền thờ thần, thánh cùng các ngôi đình thờ khác, điểm độc đáo của khu di tích chính là lối kiến trúc kết hợp giữa phong cảnh thiên nhiên núi xanh, nước biếc, mây trắng lượn lờ cùng với hệ thống hang động tự nhiên và các kiến trúc chùa chiền cổ xưa, tạo nên một không gian vừa mang vẻ đẹp trữ tình thơ mộng vừa mang vẻ thoát tục, thiêng liêng chốn cửa Phật. Men dọc theo thung lũng suối Yến là những công trình kiến trúc tiêu biểu của chùa Hương bao gồm chùa Ngoài, tên khác là chùa Trò hay chùa Thiên Trù.

Bên trong ngôi chùa này có tháp chuông, với lối kiến trúc độc đáo gồm ba tầng mái, trên tầng cao nhất lộ ra hai đầu hồi tam giác, Chu Mạnh Trinh có câu thơ nhắc về tháp chuông này như sau “Thoảng bên tai một tiếng chày kình/Khách tang hải giật mình trong giấc mộng”. Trung tâm của khu di tích chính là chùa Hương, hay còn gọi là chùa Trong, chùa Hương tích, đây không phải là ngôi chùa nhân tạo mà nó thực tế là một hang động lớn, vách động có khắc 5 chữ là bút tích của chúa Trịnh Sâm “Nam thiên đệ nhất động”, thể hiện tấm lòng ngưỡng mộ của ngài với vẻ đẹp của chốn Hương Sơn. Ngoài hai bộ phận kiến trúc chính thì, còn các công trình kiến trúc khác có thể tóm lược trong 2 câu thơ sau:

Trong đó, suối Giải Oan và chùa Cửa Võng là hai địa điểm nằm ở dọc quãng đường từ chùa Thiên Trù đến chùa Hương Tích, am Phật Tích tương truyền là nơi Quan Thế Âm bồ tát độ kiếp, động Tuyết Quynh hay chùa Tuyết Quynh là một ngôi chùa nhỏ tọa lạc gần với động Hương Tích.

Hội chùa Hương chính là một trong những lễ hội lớn nhất ở miền Bắc nước ta, mỗi năm thu hút đến hàng triệu du khách cùng phật tử khắp mọi miền tổ quốc đổ về đây trẩy hội, thăm quan và dâng hương kính phật. Lễ hội bắt đầu từ ngày 6/2 âm lịch hằng năm, kết thúc vào khoảng hạ tuần tháng âm lịch, trong đó chính thức diễn ra trong khoảng 4 ngày từ ngày 15 đến 18 tháng 2 âm lịch. Phù hợp với không khí linh thiêng và thanh tịnh chốn cửa Phật thế nên phần lễ của lễ hội chùa Hương diễn ra một cách đơn giản, biểu hiện rõ rệt nhất ấy là làn khói xanh nghi ngút, hương thơm thoang thoảng của nhang đèn không bao giờ dứt trong những ngày hội, khiến cho không khí nơi đây lại càng thêm phần thanh tao, nhã nhặn. Người đi dâng lễ cũng chỉ chuẩn bị một ít nhang đèn, hoa quả và đồ ăn chay đặt lên điện thờ, thắp nén hương thơm, thành tâm khấn vái đúng với quy cách của một Phật tử giác ngộ rồi đi thăm thú cảnh sắc xung quanh thanh lọc tâm hồn hoặc tham gia vào phần hội.

Phần hội thì cũng giống nhiều cách lễ hội phổ biến khác, gồm có lễ rước và lễ văn, sau đó là các hoạt động vui chơi nhẹ nhàng bên ngoài như bơi thuyền vãn cảnh, hát chèo, hát văn,… Có thể thấy rằng cả phần lễ và phần hội của lễ hội chùa Hương đều thiên về sự nhã nhặn, tinh tế, không quá nô nức, ồn ào phá hỏng cảnh thiêng liêng, mỗi một con người bước chân đến nơi đây đều hưởng một niềm vui hiếm có, ấy là cảm giác thanh tịnh tâm hồn, niềm vui sướng khi bắt gặp cảnh sắc độc đáo tựa chốn bồng lai tiên cảnh.

Di tích chùa Hương và lễ hội chùa Hương đã ăn sâu vào tiềm thức và văn hóa tín ngưỡng tôn sùng đạo phật, đạo giáo và cả nho học của người dân Việt Nam, đặc biệt với vẻ đẹp hiếm có bởi sự kết hợp tinh tế giữa cảnh thiên nhiên và các công trình kiến trúc nhân tạo đã đưa nơi đây trở thành nguồn cảm hứng bất tận của các văn nhân, thi sĩ xưa và nay. Trong bài tôi đã nhắc đến nhiều câu thơ có trong Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh, một bài hát nói được xem là áng văn kiệt tác của văn học trung đại Việt Nam, ngoài ra có thể nhắc đến Hồ Xuân Hương với bài vịnh Động Hương Tích, hay Tản Đà với bài thơ Chơi chùa Hương Tích. Trong âm nhạc có một bài hát nổi tiếng, với giai điệu tươi vui, mang âm hưởng dân ca ấy là bài Em đi chùa Hương, phổ nhạc từ thơ của Nguyễn Nhược Pháp, từng một thời được phát đi phát lại trên ra-đi-ô, mà thế hệ ông bà ta vẫn thuộc trong lòng.

Việt Nam ta tự hào khi sở hữu nhiều kỳ quan của tạo hóa, những di tích ghi dấu ấn tâm linh, cửa nhà Phật. Một trong những danh lam thắng cảnh trung hòa được cả vẻ đẹp thiên nhiên và vẻ đẹp Phật giáo không thể không kể đến chùa Hương.

Chùa Hương là một quần thể di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia, bao gồm nhiều ngôi đền, chùa, hang động đẹp, linh thiêng, nằm gần con sông Đáy, tại xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Về thời gian hình thành, chùa Hương được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVIII thời vua Lê – chúa Trịnh khi chúa Trịnh Sâm còn tại vị. Tuy ngôi chùa này rất nổi tiếng tại nước ta nhưng chùa Hương tại Hà Nội không phải là ngôi chùa Hương gốc, chùa là phiên bản của chùa Hương Tích tại Hà Tĩnh.

Lịch sử ghi chép lại rằng, sở dĩ xây dựng thêm chùa Hương tại Hà Nội vì phi tần của chúa Trịnh, đoạn đường từ kinh đô đến chùa Hương rất xa khiến chúa Trịnh không yên tâm mỗi dịp phi tần đi trẩy hội chùa Hương vì thế chúa Trịnh đã cho xây một ngôi chùa Hương khác tại vùng núi Hà Sơn Bình, góp phần tạo nên một chùa Hương kỳ ảo, thơ mộng.

Có thể nói, chùa Hương là sự giao thao hài hòa giữa nét đẹp thiên nhiên kỳ vĩ và vẻ đẹp tâm linh huyền bí, thiêng liêng. Ấn tượng đầu tiên khi đến với quần thể di tích chùa Hương là suối Yến trải dài, nhẹ nhàng trôi. Từ bến Trò qua một đoạn suối đến đến Trình thuộc quần thể chùa Hương, dâng hương báo cáo với thần Tướng người đến tham quan. Trên dòng suối Yến xuôi về khu vực chính của chùa Hương, du khách đi thuyền khoảng tiếng rưỡi thời gian, hai bên bờ suối có những núi, hòn trải dọc. Khu vực chính của chùa Hương được chia làm hai khu vực: chùa Ngoài và chùa Trong.

Chùa Ngoài tức là chùa Thiên Trù nằm tại chân núi Hà Sơn Bình có kiến trúc kiểu “ Ngũ môn tam cấp”, diện tích chùa rộng, đi sâu vào khu bảo thềm thứ ba là Tam Bảo nơi thờ Phật, dâng lễ, dâng hương. Đi tiếp qua Tam bảo là khu vực điện thờ thánh mẫu, gác tàng thư, nhà Tổ, tháp Thiên Thủy. Từ chùa Ngoài đến chùa Trong trên đỉnh núi là đoạn đường khá xa, khoảng 2 – 3 km, du khách có thể chọn đi bộ hoặc đi cáp treo, đường đến chùa Trong hầu hết là đường đất, có nhiều bậc thang, khá quanh co. Các chùa Giải Oan, chùa Hinh Bồng, chùa Tiên,…. Nằm phân bố trên đoạn đường lên núi.

Khác với chùa Thiên Trù, chùa Trong không phải do bàn tay con người xây dựng nên mà do thiên nhiên, tạo hóa ban tặng, chùa Trong hay “ Nam Thiên đệ nhất động” Hương Sơn động là hang động hùng vĩ ,huyền ảo. Từ chính diện cửa động đi vào là nơi thờ Phật chính, đặt tượng phật Bà Quan Âm, càng khám phá sâu bên trong động, càng thấy nhiều hòn mang hình thù gần gũi với con người như hòn Đụn gạo, núi Cô, núi Cậu,…..

Với vẻ đẹp kỳ ảo như vậy, chùa Hương đã trở thành một trong những điểm đến của nhiều du khách trong và ngoài nước, mỗi dịp lễ hội chùa Hương, mùng 6 tháng Chạp Âm Lịch hàng năm, chùa Hương trở nên nhộn nhịp, có nhiều hoạt động văn hóa truyền thống như hát chèo, hát quan họ trên suối Yến. Không chỉ vậy, chùa Hương chính là nhân chứng của lịch sử, chứng kiến những thăng trầm, thay đổi triều đại, chiến tranh suốt ba thế kỷ, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp chùa Thiên Trù thuộc quần thể chùa Hương đã bị bom Pháp tàn phá nặng nề. Ngoài ra, chùa Hương đóng góp một phần không nhỏ giúp ngành du lịch nơi đây phát triển, mang lại nguồn lợi khổng lồ cho người dân.

Như vậy, quần thể di tích chùa Hương là sự hội tụ của những nét đẹp thiên nhiên, tạo hóa cùng với vẻ đẹp tâm linh, hơi thở Phật giáo, du khách vừa được chiêm ngưỡng vẻ đẹp vừa được sống chậm lại, thư thái, bình yên tại đất linh thiêng.

Chùa Hương một cảnh đẹp, danh lam thắng cảnh nổi tiếng, nhắc đến chùa Hương cũng phải nói đến những lễ hội, trò chơi tổ chức hàng năm thu hút rất nhiều du khách cùng với các phật tử tham gia.

Chùa Hương có vị trí ở xã Hương Sơn, huyện Mĩ Đức, Thành phố Hà Nội. Ngôi chùa xây dựng vào khoảng thế kỉ XVI, trải qua các cuộc chiến tranh kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ chùa đã bị tàn phá. Năm 1988, chùa mới được tu sửa bởi Thượng tọa Thích Viên Thành, diện mạo của Chùa Hương ngày nay dù đã được khôi phục những khó lòng được như xưa.

Quần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến, người hành hương và khách du lịch thường đi theo các tuyến đường khác nhau. Tuyến chính là từ bến Yến, đi thuyền đến bến Trò. Cũng có thể đi bộ theo con đường ven chân núi. Người đến chùa Hương có đủ già, trẻ, gái, trai, lớn, bé…

Khi đi đường từ bến Yến đến bến Trò phải ghé đền Trình trên núi Ngũ Nhạc, diện tích không lớn nhưng ngôi đền đang thờ một vị thần núi. Trên dòng suối Yến có cây cầu gỗ được gọi tên là Cầu Hội. Từ chân cầu đi vào bên trái có thể đi vào ngôi chùa Thanh sơn trong động núi.

Khi đến chùa Thiên Trù bạn phải ghé đến núi Tiên, trong núi lại có chùa Tiên. Trong chùa Tiên hiện có 5 pho tượng phật bằng đá do những người thợ đá ở Kiện Khê (Hà Nam) làm ra vào năm 1907 dựa theo truyền thuyết Bà Chúa Ba Diệu Thiện đã đắc đạo thành Quan Thế Âm Bồ Tát ở Hương Sơn. Giữa đường khi đi từ chùa Thiên Trù đến động Hương Tích là chùa Giải Oan, ở đây có giếng nước trong vắt gọi là “Thiên nhiên thanh trì”. Gần chùa là động Tuyết Kinh và am Phật Tích.

Nhắc đến chùa Hương bạn phải nói đến Lễ hội chùa Hương diễn ra vào ngày mồng 6 tháng Giêng. Lễ hội kéo dài đến hạ tuần tháng 3 âm lịch. Đến ngày lễ sẽ có hàng triệu phật tử và các du khách trẩy hội chùa Hương. Lễ hội này còn có ngồi thuyền và thả mình vào chốn thần tiên. Ngoài ra còn có lễ hội đua thuyền rất hấp dẫn diễn ra hàng năm.

Chùa Hương cảnh sắc đẹp tự nhiên, con người như lạc vào tiên cảnh, nơi đây thu hút nhiều phật tử và các du khách đến khám phá và thành kính cầu mong những điều tốt lành trong cuộc sống.

Lễ hội Chùa Hương

Việt Nam là một cư dân gốc nông nghiệp nên mang những nét đặc trưng của khu vực dân cư này, một trong số đó chính là tín ngưỡng sùng bái thần linh. Bởi vì làm nông nghiệp nên người nông dân luôn mong muốn cho thời tiết ôn hòa, mùa màng bội thu. Nhưng trong thực tế thì mưa bão, lũ lụt vẫn thường xuyên xảy ra làm cho mùa màng thất bát, thiệt hại không chỉ về tài sản mà còn về tính mạng con người. Vì vậy mà trong lịch sử lâu đời của dân tộc Việt Nam, người dân luôn tín ngưỡng, sùng bái các thế lực tự nhiên, thế lực thần tiên siêu nhiên để mong một cuộc sống tốt đẹp không còn khổ đau. Chùa chiền, đền đài được lập nên ở khắp nơi trên đất nước. Nhắc đến những ngôi chùa nổi tiếng của Việt Nam thì không thể không nhắc đến chùa Hương (hay còn gọi là Hương Tích).

Chùa Hương là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất ở Việt Nam, chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mĩ Đức, thành phố Hà Nội. Ngôi chùa này được xây dựng vào khoảng thế kỉ mười bảy, nhưng trải qua cuộc chiến tranh ác liệt trong cuộc kháng chiến chống Pháp thì chùa Hương đã bị tàn phá nặng nề năm 1947. Phải đến năm 1988 chùa Hương mới được phục dựng, tu sửa bởi Thượng tọa Thích Viên Thành. Tuy phụng dựng được những nét đặc trưng nhất, song diện mạo của Chùa Hương ngày nay vẫn không thể giống hoàn toàn như ngôi chùa Hương linh thiêng, tiên cảnh như năm xưa.

Nói về cảnh sắc chùa Hương linh thiêng, lại mang không khí như trên tiên cảnh, nhà thơ Chu Mạnh Chinh đã thể hiện niềm xúc động khôn xiết của mình khi được đặt chân đến mảnh đất Hương Sơn:

Chùa Hương thường được mở hội vào ngày mồng sáu tháng Giêng hàng năm và lễ hội kết thúc vào khoảng hạ tuần tháng ba âm lịch. Vào mỗi dịp Hương Sơn mở hội thì phật tử khắp bốn phương nô nức kéo về đây dâng hương lễ Phật tỏ lòng thành kính, cầu xin những điều tốt đẹp cho gia đình, bản thân. Hương Sơn từ lâu đã được coi là mảnh đất Phật, nơi quan thế âm Bồ Tát hiển linh tu hành, vì vậy mà chùa Hương vô cùng linh thiêng, chỉ cần thành tâm tu hành, cầu nguyện thì những ước nguyện trong cuộc sống của con người sẽ được thần linh giúp đỡ, tương trợ.

Lễ hội chùa Hương là một trong những lễ hội lớn nhất ở khu vực miền Bắc mỗi dịp sau Tết Nguyên Đán, từ ngày mở hội, phật tử kéo về nơi đây nhiều như nước, khiến cho không gian lễ hội vô cùng tấp nập, nhộn nhịp. Từ chân núi Hương Sơn lên đỉnh núi phải đi bằng thuyền qua một con kênh nhỏ nhưng dài, uốn lượn vô cùng thi vị, cảnh sắc trên đường đi cũng khiến cho người ta cảm thấy choáng ngợp, ngỡ ngàng và hiểu được lí do vì sao mọi người lại gọi Hương Sơn là mảnh đất Tiên Phật, bởi nó quá đỗi đẹp đẽ, thoát tục. Hai bên đường đi chính là những cánh đồng cỏ, những cánh đồng lúa chín vàng làm cho bức tranh Hương Sơn thêm tươi đẹp, rực rỡ.

Ngày nay, bên cạnh phương tiện di chuyển chính là thuyền thì chính quyền huyện Hương Sơn còn cho xây dựng hệ thống cáp treo hiện đại, nhằm phục vụ cho mục đích đi lại của du khách thập phương và những du khách nước ngoài. Từ trên cáp treo nhìn xuống, du khách có thể đón nhận trọn vẹn nhất vẻ đẹp linh thiêng, kì vĩ của chùa Hương. Nếu trên đường đi không gian cảnh vật tuyệt vĩ vô thường thì khi đặt chân vào chùa Hương, ta sẽ có một cảm giác khác hẳn, đó chính là không gian linh thiêng của chùa chiền, là những nén nhang khói nghi ngút trong không gian, những mâm lễ đầy được dâng lên lễ phật.

Phật tử bốn phương thành tâm bái lạy khiến cho không gian linh thiêng, cổ kính. Dù có tín ngưỡng hay không nhưng một khi đã đặt chân vào chùa Hương thì mọi người đều có một cảm giác chung nhất đó chính là sự nhẹ nhõm trong tâm hồn. Lúc ấy con người trở về với những cảm xúc tự nhiên nhất, những gánh nặng, áp lực của cuộc sống cũng vô thức được buông bỏ. Mọi người đều thành tâm cầu xin những thứ tốt đẹp, may mắn cho mình và gia đình bằng sự thành tâm, chân thành nhất. Chính những điều kì diệu đó đã khiến cho chùa Hương là một địa điểm thu hút đông đảo du khách thập phương về đây mỗi năm.

Lễ hội chùa Hương đã có tự lâu đời. Hằng năm, cứ sau Tết Nguyên Đán là lễ hội bắt đầu và kéo dài gần như suốt mùa xuân. Khách hành hương từ khắp mọi miền đất nước, Việt kiều và du khách nước ngoài nườm nượp đổ về đây vừa để cầu mong một năm mới tốt lành, vừa để được đắm mình trong khung cảnh thần tiên của Hương Sơn.

Thắng cảnh Hương Sơn thuộc huyện Mĩ Đức, tỉnh Hà Tây cũ, nay là Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô khoảng 70 km về phía Tây Nam. Đi ô tô qua thị xã Hà Đông, Vân Đình, thẳng đến bến Đục thì dừng. Bắt đầu từ đây đã là địa phận Hương Sơn. Du khách xuống đò dọc, lướt theo dòng suối Yến trong xanh chảy giữa hai bên là cánh đồng lúa mơn mởn. Trước mắt là dãy núi trập trùng tím biếc, ẩn hiện trong mây trắng, đẹp vô cùng!

Có thể nói quần thể Hương Sơn là sự kết hợp tuyệt vời giữa kì công của tạo hoá với bàn tay khéo léo, tài hoa của con người. Các ngôi chùa được xây dựng rải rác trên triền núi đá vôi, thấp thoáng dưới rừng cây xanh thẳm. Từ chân núi trèo ngược lên hàng ngàn bậc đá cheo leo, gập ghềnh, khách hành hương sẽ lần lượt thắp nhang ở chùa Ngoài, rồi vào chùa Trong, lên chùa Giải Oan, chùa Thiên Trù với động Hình Bồng. Chùa nào cũng cổ kính, uy nghi, đèn nến chập chờn giữa làn khói hương mờ mờ, ảo ảo, tạo nên không khí huyền bí, linh thiêng. Mỗi người đến chùa Hương với một tâm trạng, một ước nguyện riêng tư, nhưng điều chung nhất là cảm giác trút bỏ được những vướng bận hằng ngày của đời thường, cả thể xác lẫn tâm hồn đều lâng lâng, thoát tục.

Trốn con đường dốc quanh co, dòng người nối theo nhau lên xuống. Già, trẻ, gái, trai đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi miền quê. Lạ hóa thành quen qua câu chào: “Nam mô A Di Đà Phật”. Nhiều cụ bà chít khăn mỏ quạ, áo tứ thân bằng the nâu thắt vạt, tràng hạt đeo trên cổ, tay chống cây gậy trúc, chân bước thoăn thoắt chẳng kém thanh niên. Tiếng “Nam mô” râm ran suốt mọi nẻo đường.

Hương Sơn có rất nhiều hang động nhưng lớn nhất, kì thú nhất vẫn là động Hương Tích. Lên đến đây, du khách phóng tầm mắt nhìn bốn phía, mọi mệt nhọc sẽ tan biến hết, trong lòng lâng lâng niềm hứng khởi lạ thường. Trập trùng núi, trập trùng mây. Trốn triền núi, dưới thung sâu, hoa mơ nở trắng như tuyết điểm, hương thơm thoang thoảng trong gió xuân. Tiếng chim ríu rít, tiếng suối róc rách văng vẳng lúc gần, lúc xa. Quả là một bức tranh thiên nhiên sơn thuỷ hữu tinh. Du khách khoan khoái hít căng lồng ngực không khí thơm tho, trong lành trước khi xuống động.

Động Hương Tích được chúa Trịnh Sâm ca ngợi là “Nam thiên đệ nhất động”. Nhìn từ bên ngoài, cửa động giống như miệng một Con rồng khổng lồ đang há rộng. Động ăn sâu vào lòng núi. Đáy động bằng phẳng, có thể chứa được mấy trăm người. Ánh đèn, ánh nến lung linh. Những nhũ đá, cột đá muôn hình vạn trạng, lấp lánh bảy sắc cầu vồng. Nào hòn Cậu, hòn Cô, nào nong tằm, né kén, nào cây bạc, cây vàng, cót thóc… Khách hành hương muốn cầu phúc, cầu lộc, cầu duyên… cứ việc thắp nhang rồi thành tâm khấn vái, biết đâu Trời sẽ thương, Phật sẽ độ trì cho được như ý.

Đi hội chùa Hương ít nhất phải hai ngày mới thăm hết được các chùa. Ngồi trong động Hình Bồng, lắng tai nghe tiếng gió thổi tạo thành điệu nhạc du dương trầm bổng, ta sẽ đắm mình trong không khí mơ màng của cõi mộng. Trốn đỉnh núi có tảng đá lớn và phẳng, tương truyền rằng đó là bàn cờ tiên. Mỗi năm một lần, các vị Tiên ông lại xuống trần, đọ tài cao thấp ở đó. Còn biết bao huyền thoại khác gắn liền với chùa Hương, tô đậm thêm vẻ kì bí và linh thiêng của danh lam thắng cảnh này.

Tạm biệt chùa Hương, trong tay mỗi du khách đều có vài thứ mang về làm kỉ niệm. Chiếc khánh xà cừ buộc bằng chỉ đỏ đeo vào cổ lấy may, cây gậy trúc đã theo chân suốt cuộc hành trình chuỗi hạt bồ đề, gói trà lão mai hay bó rau sắn xanh mướt mà nhà thơ Tản Đà đã nhắc đến trong thơ ông từ những năm ba mươi, bốn mươi của thế kỉ trước: Muốn ăn rau sắn Chùa Hương. Tiền đò ngại tốn, con đường ngại xa… Du khách lên xe ra về mà lòng bâng khuâng, lưu luyến, mong cho chóng đến mùa lễ hội năm sau. Chẳng ai bảo ai, mọi người cùng ngoái lại nhìn để in đậm thêm trong tâm tưởng bức tranh tuyệt mĩ của phong cảnh Hương Sơn, để càng thêm yêu mến, tự hào về giang sơn gấm vóc.

Nước ta có rất nhiều những danh lam thắng cảnh đẹp chứa đựng những tinh hoa văn hóa của ông cha ta để lại như: Văn Miếu – Quốc Tử Giám, cung đình Huế,….Tiêu biểu trong số đó phải kể đến chùa Hương với nét đẹp đặc sắc, độc đáo để lại ấn tượng khó quên trong lòng du khách tứ phương.

Chùa Hương mang một nét đẹp rất riêng mà không ngôi chùa nào có được bởi nơi đây được tạo nên bởi hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, các ngôi đình, thờ tín ngưỡng nông nghiệp, tọa lạc ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 17 bị hủy hoại trong kháng chiến chống Pháp năm 1947, sau đó được phục dựng lại vào năm 1988.

Tuy được biết đến nhiều nhất nhưng chùa Hương ở Hà Nội lại chỉ là “phiên bản” của chùa Hương Tích ở Hà Tĩnh, sử cũ kể lại rằng chúa Trịnh Sâm vì không muốn những vị phi tần, mỹ nữ của mình phải đi cúng bái xa như vậy nên đã cho người xây dựng quần thể chùa Hương ở Hà Nội.

Nơi đây thờ bà chúa Ba theo tín ngưỡng dân gian, truyền thuyết kể lại rằng Diệu Thiên_ công chúa thứ ba của nước Hương Lâm chính là bà chúa Ba hiện thân của Quan Thế Âm Bồ Tát ,trải qua những thử thách, gian khổ sau chín năm tu hành bà đã đắc đạo thành Phật đi phổ độ chúng sinh.

Có thể nói chùa Hương là sự kết hợp hài hòa giữa nét đẹp tự nhiên của tạo hóa và nét đẹp kiến trúc nhân tạo qua hình ảnh đền chùa nơi đây. Quần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến. Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù.

Chùa nằm không xa bến Trò nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò ở đấy mà lên bộ. Tam quan chùa được cất trên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái. Đây là một công trình cổ, dáng dấp độc đáo vì lộ hai đầu hồi tam giác trên tầng cao nhất.

Tháp chuông này nguyên thủy thuộc chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông, năm 1980 được di chuyển về chùa Hương làm tháp chuông.Chùa Chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên. Ở lối xuống hang có cổng lớn, trán cổng ghi bốn chữ “Hương Tích động môn”. Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá.

Vách động có năm chữ Hán“Nam thiên đệ nhất động” là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm. Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên vách đá.

Lễ hội chùa Hương được tổ chức vào ngày mồng sáu tháng giêng, thường kéo dài đến hạ tuần tháng ba âm lịch. Vào dịp lễ, hàng triệu phật tử cùng du khách tứ phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương. Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng giêng đến 18 tháng hai âm lịch.

Đây là ngày lễ khai sơn của địa phương nhưng ngày nay nghi lễ khai sơn được hiểu theo nghĩa mở- mở cửa chùa. Lễ hội chùa Hương trong phần lễ thực hiện rất đơn giản.

Một ngày trước khi khai hội, tất cả các đền, chùa, đình, miếu đều được thắp hương nghi ngút.Ở trong chùa Trong có lễ dâng hương, gồm hương, hoa, đèn, nến, hoa quả và thức ăn chay. Lúc cúng có hai tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chay đàn rồi mới tiến dùng đồ lễ lên bàn thờ.

Từ ngày mở hội cho đến hết hội, chỉ thỉnh thoảng mới có sư ở các chùa trên đến gõ mõ tụng kinh chừng nửa giờ tại các chùa, miếu, đền. Còn hương khói thì không bao giờ dứt. Về phần lễ có nghiêng về “thiền”. Nhưng ở chùa ngoài lại thờ các vị sơn thần thượng đẳng với đủ màu sắc của đạo giáo.

Đền Cửa Vòng là “chân long linh từ” thờ bà chúa Thượng Ngàn, người cai quản cả vùng rừng núi xung quanh với cái tên là “tì nữ tuý Hồng” của sơn thần tối cao. Chùa Bắc Đài, chùa Tuyết Sơn, chùa Cả và đình Quân thờ ngũ hổ và tín ngưỡng cá thần. Ta có thể thấy phần lễ là tổng hợp toàn thể hệ thống tín ngưỡng, gần như là tổng thể những tín ngưỡng tôn giáo của Việt Nam. Trong lễ hội có rước lễ và rước văn.

Người làng dinh kiệu tới nhà ông soạn văn tế, rước bản văn ra đền để chủ tế trịnh trọng đọc, điều khiển các bô lão của làng làm lễ tế rước các vị thần làng. Lễ hội chùa Hương còn là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hóa dân tộc độc đáo như bơi thuyền, leo núi và các chiếu hát chèo, hát văn.

Có thể thấy nét đẹp của chùa Hương còn nằm ở những giá trị văn hóa tâm linh, lịch sử dân tộc cùng với giá trị sống của con người từ xưa đến nay và giá trị du lịch đang ngày càng phát triển ở nơi đây. Chùa Hương chính là niềm tự hào của bao người con đất Việt, quảng bá đời sống văn hóa tâm linh của người dân ra ngoài thế giới.

Nói về văn hóa tâm linh của người Việt không thể không nhắc đến những đền chùa cổ kính, linh thiêng mang nét đẹp đặc trưng, trầm lắng, nơi bày tỏ niềm thành kính, biết ơn với người xưa, với tín ngưỡng tôn giáo. Một trong những ngôi chùa cổ, nổi tiếng của nước ta phải kể đến chùa Hương _ danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa và tín ngưỡng của Việt Nam.

Chùa Hương hay còn gọi là Hương Sơn là cả một quần thể văn hóa – tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, các ngôi đình, thờ tín ngưỡng nông nghiệp, nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 17 vào thời kỳ Đàng Trong – Đàng Ngoài, sau đó bị hủy hoại trong kháng chiến chống Pháp năm 1947, sau đó được phục dựng lại năm 1988 do Thượng Toạ Thích Viên Thành dưới sự chỉ dạy của cố Hòa thượng Thích Thanh Chân.

Nơi đây gắn liền với với tín ngưỡng dân gian thờ Bà Chúa Ba, theo phật thoại xưa kể lại rằng người con gái thứ ba của vua Diệu Trang Vương nước Hương Lâm tên là Diệu Thiện chính là chúa Ba hiện thân của Bồ Tát Quan Thế Âm, trải qua nhiều thử thách, gian nan với chín năm tu hành bà đã đắc đạo thành Phật để cứu độ chúng sinh.

Advertisement

Dưới đôi bàn tay khéo léo của người xưa cùng với những nét đẹp tạo hóa mà thiên nhiên ban tặng, mà vẻ đẹp của chùa Hương mang một dấu ấn rất riêng, đưa ta đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Quần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến.

Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù. Chùa nằm không xa bến Trò nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò ở đấy mà lên bộ. Tam quan chùa được cất trên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái.

Đây là một công trình cổ, dáng dấp độc đáo vì lộ hai đầu hồi tam giác trên tầng cao nhất. Tháp chuông này nguyên thủy thuộc chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông, năm 1980 được di chuyển về chùa Hương làm tháp chuông.Chùa Chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên.

Ở lối xuống hang động có cổng lớn, trán cổng ghi bốn chữ “Hương Tích động môn”. Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có năm chữ Hán“Nam thiên đệ nhất động” là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm. Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên vách đá.

Lễ hội chùa Hương được tổ chức vào ngày mồng sáu tháng giêng, thường kéo dài đến hạ tuần tháng ba âm lịch. Vào dịp lễ, hàng triệu phật tử cùng du khách tứ phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương.

Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng giêng đến 18 tháng hai âm lịch.Đây là ngày lễ khai sơn của địa phương nhưng ngày nay nghi lễ khai sơn được hiểu theo nghĩa mở- mở cửa chùa. Lễ hội chùa Hương trong phần lễ thực hiện rất đơn giản.

Một ngày trước khi khai hội, tất cả các đền, chùa, đình, miếu đều được thắp hương nghi ngút.Ở trong chùa Trong có lễ dâng hương, gồm hương, hoa, đèn, nến, hoa quả và thức ăn chay. Lúc cúng có hai tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chay đàn rồi mới tiến dùng đồ lễ lên bàn thờ.

Từ ngày mở hội cho đến hết hội, chỉ thỉnh thoảng mới có sư ở các chùa trên đến gõ mõ tụng kinh chừng nửa giờ tại các chùa, miếu, đền. Còn hương khói thì không bao giờ dứt. Về phần lễ có nghiêng về “thiền”. Nhưng ở chùa ngoài lại thờ các vị sơn thần thượng đẳng với đủ màu sắc của đạo giáo.

Đền Cửa Vòng là “chân long linh từ” thờ bà chúa Thượng Ngàn, người cai quản cả vùng rừng núi xung quanh với cái tên là “tì nữ tuý Hồng” của sơn thần tối cao. Chùa Bắc Đài, chùa Tuyết Sơn, chùa Cả và đình Quân thờ ngũ hổ và tín ngưỡng cá thần. Ta có thể thấy phần lễ là tổng hợp toàn thể hệ thống tín ngưỡng, gần như là tổng thể những tín ngưỡng tôn giáo của Việt Nam.

Trong lễ hội có rước lễ và rước văn. Người làng dinh kiệu tới nhà ông soạn văn tế, rước bản văn ra đền để chủ tế trịnh trọng đọc, điều khiển các bô lão của làng làm lễ tế rước các vị thần làng. Lễ hội chùa Hương còn là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hóa dân tộc độc đáo như bơi thuyền, leo núi và các chiếu hát chèo, hát văn.

Không chỉ có vẻ đẹp độc đáo của kiến trúc, phong cảnh chùa cùng với nét đặc sắc của ngày lễ mà chùa Hương còn chứa đựng những giá trị sâu sắc về văn hóa tâm linh, lịch sử dân tộc và còn là giá trị sống của chuỗi phát triển con người từ xa xưa đến ngày nay, cần được bảo tồn, duy trì và gìn giữ di sản mà ông cha ta để lại.

Như vậy, với những giá trị đó, chùa Hương chính là niềm tự hào của người Hà Nội nói chung và người Việt Nam nói riêng, đến với chùa Hương là đến với không gian thanh tịnh, sống chậm lại để cảm nhận sự nhẹ nhõm trong tâm hồn, buông bỏ mọi áp lực, căng thẳng trong cuộc sống ngoài kia.

Chắc hẳn ai cũng biết đến chùa Hương một danh lam thắng cảnh của Việt Nam. Hằng năm cứ đến mùng sáu tháng giêng sau tết Nguyên Đán nơi đây lại tổ chức lễ hội chùa Hương. Khách hành hương từ khắp mọi miền đất nước, việt kiều, du khách nước ngoài nườm nượp đổ về đây vừa để cầu mong mọi điều tốt lành và để đắm mình trong khung cảnh thần tiên của Hương Sơn.

Chùa Hương thuộc huyện Mĩ Đức, tỉnh Hà Tây, cách thủ đô Hà Nội khoảng 70 km về phía tây nam. Từ đây đi ô tô qua thị xã Hà Đông, Vân Đình, thẳng đến bến đục thì dừng. Du khách xuống đò, lướt theo dòng suối Yến Vĩ trong xanh giữa hai bên là cánh đồng lúa. Trước mắt là những dãy núi trung điệp đẹp vô cùng!

Có thể nói cái đẹp của Hương Sơn được tạo nên từ bàn tay khéo léo kì công của con người và sự ban tặng của mẹ thiên nhiên. Các ngôi chùa được xây rải rác trên triền núi đá vôi, thấp thoáng bên dưới là những rừng cây xanh thẳm. Từ chân núi đi ngược lên hàng ngàn bậc đá cheo leo,hành khách sẽ thắp nhang ở chùa ngoài rồi vào chùa trong, lên chùa Giải Oan, chùa Thiên Mụ,với động hình bồng, động Hương Tích. Chùa nào cũng cổ kính uy nghi ẩn hiện trong làn mờ mờ ảo ảo, tạo nên một bầu không khí huyền bí linh thiêng.Mỗi người đến đây đều mang theo một riêng nhưng tất cả mọi người đều cảm thấy trút bỏ được vướng bận hằng ngày, tất cả đều lâng thoải mái.

Trên con đường dốc quanh co, dòng người nối đuôi nhau, già trẻ, gái trai đủ mọi lứa tuổi, miền quê. Tất cả mọi người đều có được sự thân quen như người trong nhà trước câu “Nam mô A Di Đà Phật ”. Hương Sơn có rất nhiều động nhưng lớn nhất, kì thú nhất phải nói đến động Hương Tích. Lên đến đây, mọi mệt nhọc đều tan biến hết, trong lòng lâng lâng niềm hứng khởi. nơi đây hoa mơ nở trắng như tuyết điểm, hương thơm thoang thoảng trong gió. Tiếng chim ríu rít, tiếng suối róc rách lúc gần lúc xa. Đứng tên cửa động, du khách hít căng lồng ngực không khí thơm, trong lành.

Được chúa Trịnh Xâm ca ngợi là “Nam Thiên đệ nhất động”. Từ bên ngoài, cửa động như miệng một con rồng khổng lồ ăn sâu vào trong lòng núi. Đáy rộng và phẳng có thể chứa được mấy trăm người. Ánh đèn nến lung linh huyền ảo. Những nhũ đá, cột muôn hình vạn trạng, lấp lánh bảy sắc cầu vồng.

Muốn tham quan được hết chùa Hương phải mất mấy ngày mới thăm hết được. Ngồi trong động Hình Bồng, lắng tai nghe tiếng gió tạo thành tiếng nhạc du dương trầm bổng ta sẽ được đắm mình vào trong cõi mộng. Trên đỉnh núi có một tảng đá lớn tương truyền dó là bàn cờ tiên. Mỗi năm một lần nơi đây các vị tiên ông thương hay đánh cờ đọ tài cao thấp ở đó. Còn có biết bao những sự tích, huyền thoại gắn liền với chùa Hương, tạo thêm cho vẻ kì bí linh thiêng của chốn phong cảnh hữu tình này.

Khi đi về, trong tay ai cũng đều mang về một thứ gì đó làm kỉ niệm. Du khách lên xe mà lòng bâng khuâng lưu luyến, không ai bảo ai mỗi người đều quay lại ngắm nhìn để in đậm những kỉ niệm về chùa Hương càng thêm tự hào về giang sơn gấm vóc mong sớm đến năm sau để lại có dịp tới thăm chùa Hương một lần nữa.

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Chiếc Nồi Cơm Điện Dàn Ý & 10 Bài Văn Hay Lớp 8 trên website Krxx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!