Xu Hướng 2/2024 # Văn Mẫu Lớp 12: Nghị Luận Về Vai Trò Của Thơ Ca Trong Cuộc Sống (Dàn Ý + 4 Mẫu) Nghị Luận Về Thơ Ca # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Văn Mẫu Lớp 12: Nghị Luận Về Vai Trò Của Thơ Ca Trong Cuộc Sống (Dàn Ý + 4 Mẫu) Nghị Luận Về Thơ Ca được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Krxx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Dàn ý nghị luận về vai trò của thơ ca trong cuộc sống

I. Mở bài:

– Dẫn dắt vấn đề.

– Nêu vấn đề: Vai trò, tác dụng của thơ ca đối với cuộc sống.

– Chuyển ý.

II. Thân bài:

* Giải thích về chức năng của thơ ca nghệ thuật

– Bất cứ phong cách ngôn ngữ nào cũng có chức năng riêng của nó. Thơ ca thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.

– Nó không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người.

* Bàn về chức năng nhận thức, giáo dục

– Thơ ca gửi gắm những giá trị đạo đức nhân sinh một cách khéo léo, tinh tế.

– Thơ ca góp phần nâng cao tri thức đời sống bằng chính cách riêng của nó mà hiệu quả thì không thua bất cứ hình thức truyền đạt nào.

* Bàn về chức năng giao tiếp, tình cảm

– Chức năng này làm cho thơ ca có sức mạnh và sức sống vượt ra ranh giới không thời gian, tác động mãnh liệt vào trái tim con người.

– Thơ ca bắt đầu bằng những cảm động của tâm hồn thi nhân trước cuộc sống, truyền tải qua đường dẫn là ngôn từ nghệ thuật và rồi đến và lay động tình cảm của người đọc.

* Bàn về chức năng thẩm mĩ

– Thơ ca là một loại hình nghệ thuật nên tính thẩm mĩ là đặc trưng của nó.

– Thơ ca có tác động mạnh mẽ đến năng lực thẩm mĩ của con người.

→ Nó giúp con người nâng cao khả năng cảm thụ cái đẹp, cái đẹp của ngôn từ và qua ngôn từ sẽ cảm nhận những cái đẹp của thế giới khách quan.

III. Kết bài:

– Tổng kết các tác dụng của thơ ca.

– Cảm nghĩ của người viết.

Nghị luận về vai trò của thơ ca trong cuộc sống – Mẫu 1

Trong cuốn Đa-ghe-xtan của tôi, Raxun Gamzatốp viết: Thơ ca, nếu không có người, tôi đã mồ côi. Gamzatốp muốn nói đến sự mồ côi trên phương diện tinh thần và chính điều này khiến chúng ta phải có nhận thức đúng đắn về vai trò, tác dụng của thơ ca đối với cuộc sống con người.

Đã có rất nhiều định nghĩa về thơ nhưng chung quy lại, có thể hiểu thơ là tiếng lòng của mọi con người, thơ khởi phát từ lòng người. Thế giới vẫn đang vận động theo hướng hiện đại hoá nhưng dù loài người có đạt đến trình độ siêu hiện đại hoặc hơn nữa, con người cũng không thể cạn kiệt nguồn xúc cảm trong mình. Đó là lý do tại sao trong các sáng tác của văn học hậu hiện đại, thơ vẫn chiếm vị trí quan trọng.

Chính vì thơ là tiếng lòng, là sự chín đỏ của cảm xúc (Xuân Diệu) nên thơ có ý nghĩa cực kì quan trọng trong cuộc sống này. Nhà thơ làm thơ để giãi bày tình cảm, để thổ lộ nỗi lòng của chính mình. Khi những xúc động mạnh mẽ, những suy nghĩ thầm kín, những tư tưởng sâu sắc và những tình cảm dâng trào, thơ và tâm hồn nghệ sĩ sẽ gặp nhau. Đó là lý do khiến nhiều người chỉ làm thơ cho chính mình, hoặc cho người hiểu mình đọc. Khi Dương Khuê mất, Nguyễn Khuyến dường như không muốn viết thơ nữa bởi Viết đưa ai, ai biết mà đưa? Không gửi được những nỗi niềm, tâm sự trong lòng vào thơ, chắc chắn con người sẽ mất đi những rung cảm tinh tế – như Xuân Quỳnh đã viết trong Nếu ngày mai em không làm thơ nữa:

Thơ trước hết giúp con người giãi bày xúc cảm của mình nhưng nếu xúc cảm đó bị phong kín trên trang giấy thì một điều chắc chắn là sức sống của những vần thơ ấy sẽ không lâu bền. Trong đời sống, con người không chỉ sống và tự chiêm nghiệm về những điều diễn ra trong lòng. Làm thơ không chỉ để tự thoả mãn nhu cầu giãi bày tình cảm của mình mà còn để chia sẻ, là để tìm sự đồng vọng của những tấm lòng đồng cảm. Thơ là điệu hồn của những tâm hồn đồng điệu (Tố Hữu) là bỏi vậy. thế nên kết thúc Độc Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du mới viết:

Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Khi viết Bên kia sông Đuống, chắc chắn Hoàng cầm không chỉ thổ lộ nỗi niềm xúc động tột cùng khi nghe tin quân giặc giày xéo quê hương mình. Nhà thơ còn muốn tìm sự thấu hiểu, chia sẻ từ tất cả những con người đang chung nỗi đau mất nước. Với Từ ấy, niềm vui sướng khi bắt gặp lí tưởng cộng sản của Tố Hữu như được lây lan tới hết thảy mọi người. Trong thơ ca và bằng thơ ca, nỗi buồn sẽ được san vơi và niềm vui, niềm hạnh phúc chắc chắn sẽ được nhân lên gấp bội.

Với người nghệ sĩ đích thực, làm thơ còn là để người khác cùng thưởng thức cách nói, cách thể hiện, phô diễn tình cảm, tư tưởng của mình bằng những hình thức nghệ thuật độc đáo. Xuân Diệu dường như rất hào hứng khi mang đến độc giả những câu thơ mới mẻ, tân kỳ như Tháng giêng ngon như một cặp môi gần hay Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi. Nếu thơ chỉ là thơ mà không chạm khắc theo một cách riêng (Sóng Hồng) thì tình cảm, xúc động của nghệ sĩ này rất dễ bị lẫn với nghệ sĩ khác và dấu ấn cảm xúc đó sẽ không thể đính ghim vào lòng độc giả.

Nếu thơ ca là nơi người nghệ sĩ’ có thể thâu tóm thế giới (hiểu theo nghĩa cả thế giới vật chất và thế giới tinh thần) vào trong đó thì nó cũng là nơi độc giả có thể tìm thấy cả thế giới trong đó. Độc giả có thể thả hồn vào thiên đường trên mặt đất khi đọc Vội vàng của Xuân Diệu, có thể giao chia sẻ với tâm sự về tình yêu của Puskin trong Tôi yêu em. Tâm hồn, trí tuệ con người sẽ giàu có, phong phú hơn khi đến với thơ ca.

Thơ không chỉ khiến tâm hồn, trí tuệ con người giàu có, phong phú mà còn vỗ về, động viên, khích lệ người ta đứng dậy, đi tới… Người đọc có thể cảm nhận muôn vàn cung bậc tình cảm, cảm xúc, muôn vàn tiếng lòng “rất thơ” mà người nghệ sĩ đã phổ trong mỗi con chữ. Tiếp nhận những tình điệu ấy, người đọc như được thanh lọc chính tâm hồn mình. Ta sẽ thấy mình cao thượng hơn, khao khát được sống đẹp, sống có ích hơn… Đó cũng chính là những điều mà Hoàng Trung Thông và tất cả chúng ta cảm nhận được khi đọc thơ của Bác:

Thơ ca đến với cuộc sống từ khi nào, khó có thể trả lời đích xác. Nhưng một điều chắc chắn không ai có thể phủ nhận được là không có thơ, cuộc sống sẽ nghèo nàn, tâm hồn, tình cảm con người sẽ trở nên cằn cỗi vô cùng. Thấm thía vai trò, ý nghĩa của thơ ca, nhà thơ cần có ý thức trách nhiệm hơn trong việc sáng tạo thơ ca. Sứ mệnh, của nhà thơ không chỉ là nói lên tiếng nói của bản thân mà còn phải nói lên tiếng nói của muôn triệu trái tim, muôn triệu con người. Nhà thơ phải đau nỗi đau của nhân loại, buồn nỗi buồn của nhân loại. Có như thế, sáng tác của họ mới có sức sống và sức tác động mạnh mẽ. Không ngẫu nhiên khi Đỗ Phủ, Lý Bạch cách chúng ta hàng ngàn năm mà thơ của họ vẫn trường tồn đến tận bây giờ. Không ngẫu nhiên khi Puskin – mặt trời của thi ca Nga lại có sức lay động khắp địa cầu. Với bạn đọc, trân trọng một thi phẩm nghệ thuật, thấy rõ sức mạnh của thơ ca là điều nên làm nhất. Hơn nữa, mỗi người cũng nên làm giàu tâm hồn mình bằng thơ ca và tự nâng cao khả năng cảm nhận của mình hơn khi đánh giá mỗi bài thơ: thơ hay phải thể hiện được cái riêng của mỗi tâm hồn, phải là tiếng đồng vọng của muôn vạn tấm lòng.

Cảm nhận được vai trò, tầm quan trọng của thơ ca đối với cuộc sống con người, chúng ta sẽ hiểu tại sao Raxun Gamzatốp nói: Cuộc sống sẽ tối sầm nếu không có thơ ca.

Nghị luận về vai trò của thơ ca trong cuộc sống – Mẫu 2

Thơ ca là sáng tạo đặc biệt của con người. Nó là những sợi tơ rút ra từ cuộc sống và quay trở lại trang điểm cho cuộc sống bằng vẻ đẹp muôn màu của nó. Thơ ca đã có mặt cùng với sự phát triển của nhân loại suốt bao thời kì lịch sử và người ta cũng bắt đầu chú ý đến những vai trò, tác dụng kì diệu của nó đối với cuộc sống, đối với tâm hồn con người. Hiểu được vai trò, tác dụng của thơ ca để con người chúng ta nghiêm túc hơn trong sáng tác, trân trọng hơn trong tiếp nhận, để thơ ca có thể phát huy hết vai trò cao quý của nó: làm cho cuộc sống phong phú hơn, đẹp đẽ hơn, nhân văn hơn.

Bất cứ phong cách ngôn ngữ nào cũng có chức năng riêng của nó. Thơ ca thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Nó là ngôn ngữ được tổ chức, sắp xếp, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ đời sống để đạt được giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ cao nhất. Nó không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người.

Chức năng thông tin nói cụ thể chính là giá trị tư tưởng, nhận thức và giáo dục của thơ ca. Bằng những ngôn từ đặc sắc có sắp xếp một cách cách khéo léo, thơ ca dễ dàng tác động đến nhận thức, tư tưởng của con người. Chính vì thế nó gửi gắm những giá trị đạo đức nhân sinh một cách khéo léo, tinh tế. Đó không bao giờ là những tri thức khô khan, giáo điều mà là những lời nhắn nhủ chân thành, gần gũi nhất. Những bài học về lối sống, về cách nhìn nhận thế giới, nhận xét con người, cả những kinh nghiệm trong lao động, trong ứng xử đều thể hiện dưới những hình thức ngôn từ tinh tế, uyển chuyển. Chúng ta hãy lắng nghe lời nhắn nhủ của đại thi hào Nguyễn du từ mấy trăm năm trước:

Đó là một chiêm nghiệm của người đã từng trải qua bao cuộc bể dâu, là triết lý rút ra từ thực tế đời sống, cô đúc thành bài học nhân sinh sâu sắc nhưng rất dễ cảm thông, dễ tác động vào nhận thức của con người. Truyện Kiều còn hàm chứa bao nhiêu bài học nhân sinh sâu sắc nhưng nó chưa bao giờ là một cuốn sách luận lý khô khan. Thế mới biết rằng thơ ca góp phần nâng cao tri thức đời sống bằng chính cách riêng của nó mà hiệu quả thì không thua bất cứ hình thức truyền đạt nào.

Bên cạnh chức năng nhận thức, giáo dục, thơ ca còn có chức năng giao tiếp, biểu đạt và truyền cảm. Chức năng này vô cùng quan trọng vì kể cả khi thơ ca muốn gửi gắm một bài học, một tri thức thì nó cũng gửi gắm bằng cái giọng tình cảm, thiết tha. Giá trị biểu cảm là giá trị đặc trưng của thơ ca. Nó bắt đầu bằng những cảm động của tâm hồn thi nhân trước cuộc sống, truyền tải qua đường dẫn là ngôn từ nghệ thuật và rồi đến và lay động tình cảm của người đọc. Chính vì thế con người chúng ta không chỉ hiểu biết về cuộc đời, lối sống của cha ông mình thuở trước mà còn có những cảm xúc, những tự hào, những căm phẫn theo dòng diễn tả của thi ca. Chức năng này làm cho thơ ca có sức mạnh và sức sống vượt ra ranh giới không thời gian, tác động mãnh liệt vào trái tim con người. Những tác phẩm của Lý Bạch, Đỗ Phủ đâu chỉ tác động đến tình cảm của người Trung Quốc thời đại nhà Đường mà nó còn lay động con tim của độc giả thế giới nhiều thế kỷ sau. Tác động tình cảm của văn chương giúp mối giao tiếp giữa người và người mở rộng đường biên đến vô cùng, vô tận và còn là những mối giao tiếp chân thành nhất, vô vụ lợi nhất, đẹp đẽ nhất.

Cuối cùng và cũng là một vai trò, chức năng quan trọng nhất của thơ ca đó chính là tính thẩm mĩ. Thơ ca là một loại hình nghệ thuật nên tính thẩm mĩ là đặc trưng của nó. Từ đặc trưng này, thơ ca có tác động mạnh mẽ đến năng lực thẩm mĩ của con người. Nó giúp con người nâng cao khả năng cảm thụ cái đẹp, cái đẹp của ngôn từ và qua ngôn từ sẽ cảm nhận những cái đẹp của thế giới khách quan. Khi ta đọc những câu thơ:

Trước hết tâm hồn ta rung cảm trước một bức tranh thiên nhiên tươi tắn, tinh khôi. Rồi chúng ta cảm nhận sự khéo léo tinh tế trong cách dùng từ, cách phối thanh, ngắt nhịp của một bậc thầy ngôn ngữ thi ca. Cái đẹp giúp cho con người rung cảm, thanh lọc tâm hồn và hướng về cái chân, thiện, mỹ. Để làm được điều đó, thơ ca phải chú trọng đến hình thức nghệ thuật của nó. Nó cần sự rung động thật sự của thi nhân, cần tài hoa và cả sự nghiêm túc của người cầm bút. Thơ ca không phải là sản phẩm của những người thợ, nó là đứa con tinh thần của người nghệ sĩ.

Thơ ca đã đồng hành cùng cuộc sống con người từ thuở bình minh của những nền văn hóa. Nó mang đến những hiểu biết về nhiều mặt của đời sống, nó tác động và nâng cao những tình cảm nhân văn, nó làm đa dạng thêm khả năng cảm thụ thẩm mĩ của con người. Những tri thức, tình cảm và cái đẹp mà nó mang đến làm cho cuộc sống thêm phong phú, thêm đẹp đẽ và làm cho con người gần gũi nhau hơn. Chính vì thế, dù thế giới không ngừng vận động và đã có nhiều sản phẩm, nhiều giá trị mai một với thời gian nhưng thi ca thì mãi mãi gắn liền với tâm hồn nhân loại.

Nghị luận về vai trò của thơ ca trong cuộc sống – Mẫu 3

Trong rất nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau, văn chương là một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với mỗi con người. trong mỗi chúng ta, hẳn ai cũng biết văn chương là sự sáng tạo. Đặc biệt đến với thơ ca thì đó là một đòi hỏi không thể không nói tới. Thơ ca là mới mẻ, sáng tạo trên cái nền của hiện thực cuộc sống. Đó là mảnh đất màu mỡ để các nhà thơ gieo mầm tư tưởng, để tác phẩm của họ mãi mãi là của nhân loại.

Nhưng làm được điều đó là không dễ, đã từng có không ít bao thế hệ cầm bút phải nghiêng mình bất lực vì sự sàng lọc nghiệt ngã của văn chương nói chung và thơ ca nói riêng. Như Nguyễn Bính từng than thở:

Và cũng bởi từ đó, ta càng thêm thấu hiểu vai trò to lớn của các nhà thơ trong sự nghiệp cầm bút của mình. Nhà văn R. Gamzatốp khi bàn về vai trò của thơ ca, với cuộc sống cũng từng nói rằng:

“Nếu như các nhà thơ không tham gia vào việc tạo dựng thế giới thì thế giới không trở nên tươi đẹp như thế này…Thiếu thơ ca không gì có thể trở thành chính nó”.

Bằng sự trải nghiệm của mình, nhà văn đã đưa ra một nhận định đầy thuyết phục về vai trò của các nhà thơ với cuộc sống này. Một lần nữa, vị trí của các nhà thơ được nâng lên tầm nhìn mới mẻ, nhiều góc cạnh hơn.

Vâng, có lẽ “ Thơ biểu hiện cuộc sống một cách cao đẹp”(Sóng Hồng). Bởi thế mới nói “Nếu như các nhà thơ không tham gia vào việc tạo dựng thế giới thì thế giới không trở nên tươi đẹp như thế này”.

Cuộc sống thường ngày vẫn diễn ra với những gì vốn có của nó nhưng phải đến với thơ ca, con người mới có thể khám phá ra những cái đẹp thuần túy mà trước đó chưa ai phát hiện được. Nói như Hoàng Đức Lương: “Thơ là sắc đẹp ở ngoài sắc, vị ngọt ở ngoài vị, không thể trồng bằng mắt thường, nếm bằng miệng thường, chỉ có thi nhân thì trông mới thấy đẹp, nếm mới thấy ngon”. Và thơ là như vậy, các nhà thơ tạo dựng nên thế giới này bởi những khám phá mới của họ.

Thơ trân trọng phần thuần túy cao siêu,… nhưng không phải là cái cao siêu của một cõi đạo, cõi vô cùng mà chính là cái cao đẹp ở giữa cuộc đời mà con người cần đấu tranh bảo vệ để có được. Thơ ca vì thế mà có sức lay động đến lòng người.

Từ trong ca dao dân ca, thơ đã làm phong phú thêm tâm hồn người dân lao động. HỌ không chỉ có cuộc sống hàng ngày tẻ nhạt mà còn có những ý niệm về tình yêu đôi lứa đầy thi vị:

Và đến với thơ ca hiện đại, thế giới càng trở nên tươi đẹp hơn biết bao với những trang thơ tuyệt bút in hình bao thế hệ. Thơ ca hướng con người tới cái : chân- thiện- mỹ. Và quả thật nếu như không có các nhà thơ thì thế giới đầy bí ẩn này có được khám phá một cách sâu sắc đến như vậy không? Chắc hẳn không ai là không biết.

Đọc những vần thơ lên, tâm hồn ta như được rộng mở trước thế giới vừa thực, vừa mộng. Chính thế giới ấy mới thực sự là điều để ta vươn tới, từ đó con người có những định hướng đúng đắn trên bước đường của mình.

Chính Xuân Diệu – nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới đã để lại trong trái tim độc giả những ấn tượng khó phai mờ , bởi những khám phá về cuộc sống nơi trần thế – một bữa tiệc ở trần gian mà ít ai thấy được:

Chính những thức say nồng của thiên nhiên vạn vật ban tặng ngay trước mắt nhưng phải đi vào thơ ông , độc giả mới thấy hết cái đẹp của cuộc sống và học được ở nhà thơ quan niệm mới mẻ: phải biết sống vội vàng để hưởng thụ, để cống hiến vì thời gian tuần hoàn nhưng tuổi trẻ thì “chẳng hai lần thắm lại”. Và như thế nhà thơ đã tạo dựng một thế giới mới mà ở đó con người mới có thể thấy hết được giá trị của cuộc sống này. Con người từ đó mà biết sống để cống hiến cho đời.

Mỗi nhà thơ đều đóng góp cho làng thơ ca dân tộc một nốt nhạc và lời ca của riêng mình. ở họ đều có những khám phá riêng và độc đáo, mới mẻ về cuộc sống này. Có thể là sự thoát tục, khép lòng mình dưới cái tục để mở hồn mình với cõi tiên như trong thơ Nguyễn Trãi:

Thì ra nhà thơ “khép cửa phòng văn” chứ không khép cửa tâm hồn mình mà hòa nhập với thiên nhiên, phát hiện ra vẻ đẹp đầy bình dị mà trong sáng. Hay cũng có thể là một hướng đi khác, tìm về chốn “quê mùa”như trong thơ Nguyễn Bính. Ông khám phá tới những nét đẹp của cuộc sống người dân quê chân chất mà mộc mạc, giản dị:

Quả thật, Nguyễn Bính đã dẫn ta về với vẻ đẹp chốn làng quê mà ít ai lui tới. Và cũng đâu đây, ta thấy được vẻ đẹp của sắc thu khi đọc đến những sáng tác của Nguyễn Khuyến được nhìn ở nhiều chiều, nhiều góc độ và cách cảm:

(Thu vịnh)

Và:

(Thu điếu)

Tất cả, mỗi đóng góp của các thi nhân đã tạo dựng nên một thế giới đầy huyền bí trở nên tươi đẹp như thế này. Đến với thơ ca, thế giới này càng thêm sức sống và những bất ngời, vẻ đẹp tuyệt diệu mà phải nhờ đến chiếc cầu nối ấy, nó mới thực sự hé mở và lộ diện, phô diễm.

Bởi thế, tiếp tục nguồn mạch ấy, R. Gamzatốp khẳng định: “Thiếu thơ ca không gì có thể trở thành chính nó”. Thật vậy, các nhà thơ là thư kí trung thành của thời đại. Văn học trong đó có thơ ca là tấm gương phản chiếu đời sống tâm hồn con người.

Có thể nói, vai trò của thơ ca là làm sáng tỏ sự thật, phơi bày sự thật, bởi thế thiếu thơ ca, không gì có thể trở thành chính nó. Chẳng thế mà chúng ta – những con người của thế kỷ XXI có thể thấu hiểu được nỗi niềm tâm tư, tình cảm cuộc đời của bao thế hệ, lớp người đi trước cách đây mấy ngàn năm hay sao? Số phận bi kịch của người phụ nữ – nỗi buồn của một kiếp người trong Truyện Kiều của đại thi hào NGuyễn Du chẳng phải cho đến nay vẫn không khỏi làm rung động bao trái tim độc giả.

Đọc truyện Kiều, ta biết thêm về xã hội ngày ấy, sự bế tắc của thời loạn lạc khiến số phận con người long đong, chìm nổi. Đặc biệt là người phụ nữ, để rồi họ cất lên tiếng than:

Và như thế, từ trong thơ dân gian, trung đại đến những áng thơ hiện đại, thơ ca vẫn không tách rời hiện thực cuộc sống. Mọi thứ vẫn là “chính nó”. Cái khốc liệt của chiến tranh vẫn đi vào thơ ca, cuộc sống khó khăn, gian khổ nơi chiến trường lửa đạn của các chiến sĩ được khắc họa trên từng trang giấy.

Có đến với thơ ca, ta mới thấu hiểu đời lính với muôn vàn gian nan, cực nhọc như thế nào. Họ phải trải qua bao thử thách, hiểm nguy:

(Nhớ – Hồng Nguyên)

Cái chết luôn rình rập, kề cận với họ:

(Đồng chí – Chính Hữu)

Bóc trần sự thực cuộc sống nhưng không vì thế mà thơ ca mất đi chất thi vị và lãng mạn.Nhà văn R. Gamzatốp đã rất đúng đắn khi đưa ra lời nhận định đầy thuyết phục về vai trò của thơ ca đối với cuộc sống. Thơ ca ca ngợi cái đẹp, khám phá, phát hiện vẻ đẹp tiềm ẩn tồn tại ngay trong thế giới xung quanh ta, nhưng các nhà thơ không tô hồng cuộc sống mà họ bám rễ, đi sát vào hiện thực để phản ánh. Câu nói của nhà văn tưởng chừng như mâu thuẫn nhưng lại vô cùng hài hòa, thống nhất với nhau. Gieo vào tâm trí người đọc những suy nghĩ sâu sắc để thơ ca thực sự là chính nó, là người dẫn đường đến xứ sở cái đẹp và giúp ta nhận ra chính mình, chính xã hội mà ta đang sống.

Nghị luận về tình cảm trong thơ ca – Mẫu 4

Nói đến vai trò quan trọng của tình cảm trong thơ ca, trước hết phải nói đến việc tình cảm trong lòng người chính là khởi nguồn của những vần thơ hay và phong phú mà như Lê Quý Đôn đã nhận định rằng “Thơ khởi phát từ lòng người ta” hoặc rõ hơn khi Vũ Duy Thanh viết: “Thơ xuất phát từ tình”. Trong tiếng Hán, thơ có nghĩa là “thi”, theo như nhà văn học nổi tiếng Dương Thụ Đạt thì thi ở đây tức là là “cái gốc và là cái mầm mọc từ trái tim”. Tức là muôn đời thơ ca đều xuất phát từ những biến chuyển trong nội tâm tình cảm con người, nếu chỉ có diễn tả một sự việc đơn thuần mà không có tình cảm thì cho dù có vần có điệu đi chăng nữa người ta cũng chẳng thể xem đó là thơ được mà là một thể loại nào đó khác như phú, ca, vịnh, biện, luận, ký,… chỉ cốt xem trọng việc diễn tả lại những cái gì người ta thấy một cách rườm rà, và thêm chút vần nhạc. Nhưng lại biệp lập hẳn với thơ vì nó bị khuyết thiếu cảm xúc và tình cảm của người viết, đã gọi là thơ mà lại không có tình cảm làm gốc, không truyền đạt được tưởng, tiếng lòng của tác giả, ít thì gây sự xúc động, nhiều thì gây chấn động, thì hẳn đó không thể được gọi là thơ nữa. Bên cạnh việc gốc của thơ là tình cảm, nó sinh sôi và nảy nở ra những câu chữ cô đọng, súc tích và truyền cảm bằng nhiều hình thức. Thì trong thơ ca người ta cũng còn có những yêu cầu nhất định cho tình cảm trong thơ, trong thơ không có chỗ cho thứ tình cảm giả tạo, kém tự nhiên, giới thơ không có chỗ cho những kẻ cố múa bút, rặn ra những chữ khô cứng, hoa mỹ và thừa thãi, nhưng không mang đến cho người đọc những cảm xúc chân thực, đánh động vào tâm lý của con người. Mà thơ ca cần một cái khởi nguồn xuất phát từ tình cảm tự nhiên của con người ví như nỗi đau khổ, trăn trở với tình yêu, nỗi thương cảm trước những cuộc đời bất hạnh, hay một cảm xúc vui sướng, hạnh phúc nào đó xuất phát từ chính trong lòng người nghệ sĩ, trở thành cảm hứng xuyên suốt tác phẩm. Và một người nghệ sĩ tài năng ắt hẳn sẽ có cách ém nó vào từng chữ trong thơ, lúc ẩn lúc hiện, khiến người đọc buộc phải băn khoăn, tìm tòi và khai quật những tình cảm chan chứa tự nhiên ấy. Vậy nên Ngô Thì Nhậm mới không ngại ngùng khi nhận xét về văn chương rằng “loại có khả năng gây hứng thú và cảm xúc cho người ta thì không gì bằng thơ”. Rõ ràng rằng, con người chúng ta có thiên tính tò mò, cái gì càng được ấp ủ, giấu kín, là tình cảm bí mật mà kẻ khác giấu trong thơ lại càng khiến người ta mong mỏi tìm tòi, thưởng thức. Còn nếu như thơ không mang tình cảm, thì cũng chỉ là thể loại tự sự, thuyết minh, ý trên mặt chữ, không nên xếp nó vào thơ.

Thứ hai nữa, tình cảm trong thơ ca chính là những nét phác họa sắc nét nhất về một người nghệ sĩ. Không chỉ bộc lộ tư tưởng, tình cảm, lối sống, mà còn bộc lộ được những tính cách, những góc khuất sâu trong tâm hồn của họ. Tôi lấy ví dụ như đọc thơ Hàn Mặc Tử với những tập Gái quê, thơ Điên,… với những tình cảm hỗn độn vừa trong sáng vừa kỳ dị, người ta đã cảm nhận rõ hơn về cuộc đời của một người nghệ sĩ bất hạnh, khao khát tình yêu, cuộc sống, nhưng lại phải nhận những cô đơn tách biệt với cuộc đời. Hoặc với thơ Hồ Chí Minh như tập Nhật ký trong tù, Vọng Nguyệt, Tức cảnh Pác Pó,… tình cảm với thiên nhiên, với con người, sự lạc quan, ung dung,… thể hiện được sự vĩ đại của một tâm hồn tuyệt đẹp, tấm lòng gắn bó với nhân dân, với Tổ quốc, với cách mạng của Hồ Chủ tịch một cách khéo léo và tinh tế hơn cả, nó lại ở một cái tầm khác hẳn với những bài báo, bài viết tự sự thông thường. Hay với Tố Hữu đi từ Từ ấy đến Việt Bắc, những tình cảm sung sướng khi được đứng dưới lá cờ của Đảng, đến những cảm xúc ngậm ngùi nhân buổi phân ly, đã vẽ nên một hồn thơ lý tưởng, một tấm lòng yêu quê hương đất nước, hòa mình vào cuộc sống của nhân dân, sống và chiến đấu vì nhân dân sâu sắc mà không phải ai cũng có được.

Advertisement

Vai trò quan trọng thứ ba của tình cảm trong thơ ấy chính là thu hút, đánh động những cảm xúc chưa từng có hoặc đang còn ngủ quên, mơ màng trong lòng mỗi độc giả, khiến độc giả không chỉ hiểu được tấm lòng của người thi sĩ trong những hoàn cảnh nhất định mà còn phải thu về được cho mình những tình cảm mới, mở ra những chân trời mới trong tâm hồn, hoặc làm sâu đậm thêm những tình cảm sẵn có. Lấy ví dụ về bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh chẳng hạn:

Trước hết phải khen rằng đây là một bài thơ hay, cô đọng nhiều giá trị nội dung và nghệ thuật, trong đó cái gốc rễ tình cảm của nhân vật trữ tình, của người chiến sĩ cách mạng đã thu hút được độc giả. Những tình cảm lạc quan, yêu đời, chan hòa với thiên nhiên cuộc sống khiến người ta hiểu hơn về tấm lòng của người chiến sĩ cách mạng trong cảnh tù đày khốn khổ, càng thêm cảm phục tấm lòng vì dân vì nước của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đồng thời tác phẩm cũng lại mở ra cho người đọc một nhận thức mới về cuộc đời của người chiến sĩ những năm đầu kháng chiến gian lao, vất vả, nhưng tràn ngập niềm tin và hy vọng vào cuộc sống. Như vậy đọc thơ xong nếu là một người giỏi thường thức và am hiểu họ không chỉ dừng lại ở việc chỉ cảm nhận được tâm hồn của thi sĩ thông qua những tình cảm trong thơ mà còn rút ra cho mình những bài học sâu sắc, ví như trong Chiều tối chính là tinh thần lạc quan, yêu đời không khuất phục trước khó khăn, lòng tin vào cách mạng, yêu nước thương dân,…

Tương tự đến với một đoạn trong Việt Bắc của Tố Hữu:

Xuất phát từ những tình cảm thắm thiết ân tình thủy chung dành cho đồng bào dân tộc miền núi, nhà thơ đã tạo ra một bức tranh tứ bình đa sắc và sinh động, đặc biệt thu hút người đọc, không chỉ ở nhịp điệu, bắt vần, mà còn nằm ở cả những vẻ đẹp ẩn chứa trong từng vần thơ. Gợi mở ra trong lòng người đọc những tình cảm quý mến, thân thiết với núi rừng Việt Bắc và con người nơi đây, cung cấp cho họ những hình dung mới lạ về vùng đất được mệnh danh là cái nôi của kháng chiến. Ta cũng nhận rõ được một sự chuyển dịch tình cảm trong đoạn trích, nghĩa là tình cảm trong thơ của Tố Hữu không chỉ riêng mình ông mà nó còn có sức lan truyền mạnh mẽ sang độc giả, khiến họ cũng có những cảm nhận tương tự về một thời xa xăm oanh liệt của đất nước. Khiến họ yêu thương hơn vùng trời phía Bắc của Tổ quốc, yêu thêm những con người đã sánh bước cùng cách mạng trong những năm tháng kháng chiến gian lao. Quả thực rằng tình cảm trong thơ đã dẫn người ta từ chỗ không có tình cảm gì đặc biệt đến thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc. Một tác phẩm thơ mà có khả năng truyền tải được những tình cảm nó mang thì không chỉ dựa vào cách viết của tác giả mà còn dựa vào cái gốc rễ tình cảm ấy nó chứa đựng bao nhiêu phần ý nghĩa, có đủ sức nặng hay không.

Phải nói rằng thơ ca muôn đời vẫn luôn là một món ăn tinh thần, một trong những sáng tạo cao quý và đỉnh cao của văn chương. Trong đó tình cảm vừa là gốc rễ của thơ ca, là yếu tố chính yếu làm nên giá trị của một tác phẩm, đồng thời phác họa chân dung tâm hồn của người nghệ sĩ. Không chỉ vậy tình cảm trong thơ còn gợi mở, thức tỉnh những cảm xúc nội tâm của con người khiến cho lòng người thêm phong phú và tốt đẹp hơn.

Văn Mẫu Lớp 9: Nghị Luận Về Tình Trạng Nói Dối Ở Giới Trẻ (Dàn Ý + 5 Mẫu) Văn Nghị Luận Lớp 9

1. Mở bài

Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Tình trạng nói dối ở giới trẻ ngày nay. (Học sinh tự lựa chọn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp cho bài làm phù hợp với năng lực của bản thân mình).

2. Thân bài

a. Thực trạng

Nhiều bạn trẻ có hành động lừa dối những người xung quanh hòng trục lợi cá nhân, có hành vi lừa đảo người khác để đạt được mục đích của mình.

b. Nguyên nhân

Chủ quan: do chính bản thân mỗi người có suy nghĩ và hành động lệch lạc, vì những thú vui phù phiếm phía trực mà không màng đến những hậu quả phía sau nó.

Khách quan: do thiếu sự quan tâm, chăm sóc, dạy bảo của cha mẹ, sự lỏng lẻo của nhà trường mà môi trường xung quanh nhiều người xấu, có thói quen nói dối tác động vào và hình thành thói quen xấu này cho các em.

c. Hậu quả

Các em dần hình thành tính cách xấu, thói quen nói dối ban đầu là nói dối những điều nhỏ nhặt, sau lớn dần thành nói dối những việc lớn hơn thậm chí là lừa đảo.

Bản thân người đó sẽ không nhận được sự tin tưởng và tôn trọng của những người xung quanh và khi gặp bất kì khó khăn nào trong học tập hay trong công việc và cuộc sống nói chung, cũng sẽ không nhận được bất kì sự giúp đỡ hay hỗ trợ nào từ người khác.

Một khi ta đã làm sai chuyện gì, ta vẫn không thể thoát khỏi cảm giác tội lỗi, dằn vặt, day dứt lương tâm.

d. Giải pháp

Mỗi người cần tự điều chỉnh bản thân mình, thành thật với bản thân cũng như người khác, hướng đến những điều tích cực, tốt đẹp.

Gia đình cần quan tâm đến con em mình nhiều hơn, giáo dục chúng đức tính thật thà, trung thực.

Nhà trường có biện pháp quản lí học sinh hợp lí, xử lí những học sinh nói dối vi phạm nội quy trường lớp.

3. Kết bài

Khái quát lại vấn đề nghị luận (tình trạng nói dối ở giới trẻ ngày nay) và rút ra bài học, liên hệ bản thân.

Một trong những vấn đề nổi cộm nhận được sự quan tâm của toàn dư luận ngày nay chính là hiện tượng gia tăng tình trạng nói dối ở giới trẻ.

Nguyên nhân của tình trạng này không thể không nhắc đến đầu tiên đó là do chính bản thân mỗi người có suy nghĩ và hành động lệch lạc, vì những thú vui, lợi ích phù phiếm phía trước mà không màng đến những hậu quả phía sau nó. Nguyên nhân khách quan là do các bạn thiếu sự quan tâm, chăm sóc, dạy bảo của cha mẹ, sự lỏng lẻo của nhà trường mà môi trường xung quanh nhiều người xấu, có thói quen nói dối tác động vào và hình thành thói quen xấu này cho các bạn.

Hậu quả của việc nói dối vô cùng khó lường. Các bạn trẻ sẽ dần hình thành tính cách xấu, thói quen nói dối ban đầu là nói dối những điều nhỏ nhặt, sau lớn dần thành nói dối những việc lớn hơn thậm chí là lừa đảo. Khi nói dối, bản thân người đó sẽ không nhận được sự tin tưởng và tôn trọng của những người xung quanh và khi gặp bất kì khó khăn nào trong học tập hay trong công việc và cuộc sống nói chung, cũng sẽ không nhận được bất kì sự giúp đỡ hay hỗ trợ nào từ người khác. Hơn nữa, mỗi người khi nói dối, dù có hối hận cũng không thể thoát khỏi cảm giác tội lỗi, dằn vặt, day dứt lương tâm.

Để khắc phục cũng như sửa chữa “căn bệnh” nói dối, trước hết mỗi người cần tự điều chỉnh bản thân mình, thành thật với bản thân cũng như người khác, hướng đến những điều tích cực, tốt đẹp. Bên cạnh đó, gia đình cần quan tâm đến con em mình nhiều hơn, giáo dục chúng đức tính thật thà, trung thực. Nhà trường có biện pháp quản lí học sinh hợp lí, xử lí những học sinh nói dối vi phạm nội quy trường lớp.

Mỗi con người một hành động nhỏ, cùng chung tay đẩy xa tình trạng nói dối sẽ khiến cho cuộc sống này trở nên tốt đẹp hơn, lan tỏa được những thông điệp tích cực và các bạn trẻ sẽ trở nên hữu ích hơn cho xã hội.

Trung thực, thật thà luôn là đức tính vô cùng đáng quý của mỗi người trong cuộc sống, tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác nhau, chúng ta luôn gặp phải những lời nói dối. Đa phần những lời dối trá đó đều mang hại và hoàn toàn sai trái, và thật đúng khi nói rằng: Nói dối có hại cho bản thân.

Nói dối là nói những lời không chân thật, sai lệch với sự thật đối khi trái hẳn với thực tế một cách vô tình hoặc cố ý. Thực tế cuộc sống, ta đã gặp nhiều trường hợp con người nói dối có chủ đích, đó là lời bác sĩ nói dối bệnh nhân ung thư về bệnh tình của anh ta, rằng bệnh của anh không đáng lo ngại và anh hãy lạc quan lên, sắp được ra viện rồi… Ở đây, lời nói dối nhằm mục đích giúp người bệnh có tâm lí thoải mái hơn khi chữa bệnh, không căng thẳng, lo lắng, tránh ảnh hưởng đến việc điều trị. Lại có những lời nói dối thể hiện tình yêu thương và sự vị tha, đó là lời của người mẹ nghèo, đói đến xơ xác nhưng vẫn cố gắng chịu đựng mỉm cười nói với những đứa con “Mẹ ăn no rồi!” để nhường cho con phần cơm còn lại. Những lời nói dối này không nhằm mục đích xấu mà đây chỉ là một phương pháp làm giảm đi gánh nặng tâm lí cho người nghe mà thôi.

Vậy tại sao nói dối có hại cho bản thân? Trước hết, có thể thấy nói dối để che giấu những điều sai trái, lỗi lầm có thể giúp con người thoát khỏi những tình huống bất lợi tức thời nhưng về lâu dài sẽ trở thành thói xấu, mang hại cho bản thân người nói dối. Người xưa có câu “Cái kim trong bọc cũng có ngày lòi ra” ý chỉ dù có che đậy kĩ càng bằng những lời nói dối hoàn hảo đến đâu, sẽ có một ngày sự thật sẽ được phơi bày ra và khi đó người nói dối sẽ là người đầu tiên phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất. Bản thân người đó sẽ không nhận được sự tin tưởng và tôn trọng của những người xung quanh và khi gặp bất kì khó khăn nào trong học tập hay trong công việc và cuộc sống nói chung, cũng sẽ không nhận được bất kì sự giúp đỡ hay hỗ trợ nào từ người khác. Dần dần, bạn sẽ bị tách biệt, bị cô lập khỏi thế giới và thật bất hạnh cho những người nào gặp phải trường hợp như vậy. Không chỉ có vậy, một khi ta đã làm sai chuyện gì, ta vẫn không thể thoát khỏi cảm giác tội lỗi, dằn vặt, day dứt lương tâm, tâm lí sẽ luôn hoảng loạn và không yên ổn. Liệu chúng ta có thể yên tâm sống một cuộc sống lúc nào cũng trong trạng thái nơm nớp lo sợ hay không?

Đối với những lời nói dối mang tính chất trêu chọc, nhằm thỏa mãn thú vui nào đó của bản thân mình cũng thật sự nguy hiểm. Chắc hẳn bạn vẫn còn nhớ câu chuyện Cậu bé chăn cừu, cậu bé đột nhiên nảy ra ý muốn trêu chọc các bác nông dân nên hai lần nói dối có sói đến ăn cừu của mình khiến cho mọi người đang bận rộn làm các công việc của mình vội vàng chạy đến giúp cậu đuổi sói. Chứng kiến cảnh các bác nông dân như vậy, cậu ta thích chí ôm bụng cười nhưng khi đến lần thứ ba, khi sói đến thật, cậu bé gào khản cổ nhưng chẳng có một ai tin và đến cứu vì họ đã mất niềm tin ở cậu. Và hậu quả là sói đã ăn thịt hết đàn cừu của cậu và từ đó trở đi, cậu bé không bao giờ được mọi người tin tưởng nữa. Qua câu chuyện này, người xưa muốn khuyên răn chúng ta, bất kể là chuyện gì cũng không được nói sai sự thật bởi một lần nói dối sẽ làm người khác không tin tưởng bạn nữa, và về sau nếu có nói thật, mọi người cũng sẽ luôn nghi ngờ bạn.

Hầu hết, những lời nói dối đều mang lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng và đều là những lời nói dối có hại cho bản thân cũng như những người xung quanh. Nếu vậy, chúng ta cần làm gì để bản thân không nói dối? Trước hết, chúng ta cần tự mình nhận thức rõ ràng về tác hại của việc nói dối cũng như hậu quả xấu mà nó mang lại. Bên cạnh đó, rèn luyện cho mình đức tính trung thực, ngay thẳng, thật thà, không nói sai sự thật, đặc biệt là không dựng chuyện, bịa chuyện để nói xấu hay bôi nhọ người khác. Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta cũng cần sáng suốt, biết cân nhắc để nói năng hay ứng xử cho phù hợp với từng hoàn cảnh, từng trường hợp để có những ứng xử linh hoạt.

Như vậy, nói dối có hại cho bản thân là ý kiến vô cùng đúng đắn và nói dối còn có hại cho người khác nữa, bởi vậy chúng ta cần rèn luyện cho mình đức tính trung thực và cần lên án những lời nói hay hành vi dối trá để xây dựng cuộc sống tốt đẹp, văn minh hơn.

Nói dối, giả dối là một hiện tượng khá phổ biến trong xã hội từ xưa đến nay. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, hiện tượng này ngày càng trở nên trầm trọng. Nói dối, làm giả gây ra nhiều biến đổi mạnh mẽ trong đời sống xã hội ở nước ta. Căn bệnh nói dối, làm giả đang trở thành một vấn nạn của xã hội. Có nhiều định nghĩa khác nhau về nói dối, giả dối. Về cơ bản, nói dối là chủ tâm nói không thật, không đúng với sự thật nhằm che giấu sự thật hoặc mưu cầu một lợi ích nào đó. Cùng nghĩa với nói dối có các từ ngữ khác cũng được sử dụng phổ biến như: nói điêu, nói xạo, nói khoác, nói láo,…

Đôi khi, nói dối chỉ là một hành động tế nhị, nói tránh sự thật để không gây đau lòng, tránh xúc phạm, để cứu người khác. Lúc này, nói dối trở thành một hành động cần thiết. Tuy nhiên, đó chỉ nên xem là ứng xử bất đắc dĩ trong tình thế mà thôi.

Xét dưới góc độ thời gian có ba hình thức nói dối. Thứ nhất là kể không đúng sự thật đã diễn ra. Thứ hai là tường thuật không đúng sự thật. Thứ ba là dự báo không đúng sự thật. Xét dưới góc độ nội dung sự việc có 4 hình thức nói dối: vọng ngữ, nói nước đôi, nói lời hung ác, thêu dệt sự thật.

Ngày nay, hiện tượng nói dối, lừa gặt, làm giả sản phẩm nhằm thu lợi về bản thần ngày càng trở nên phổ biến. Trong buôn bán, hàng giả hàng nhái vốn tràn lan trong đời sống. Vì lợi ích mà người sản xuất bất chấp thủ đoạn, sẵn sàng lừa dối người khác. Lòng trung thực bị xem thường. Thái độ tôn trọng và niềm tin trong buôn bán cũng dần mai một.

Con người sẵn sàng lừa dối nhau vì vật chất hoặc tình cảm. Ban đầu chỉ là một vài trường hợp lẻ tẻ. Giờ đây, nó gần như trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội.

Trong trường học, ngày càng có nhiều học sinh nói dối, gian lận trong học tập. Khi xảy ra sai lầm, học sinh tìm mọi cách tránh né, bịa ra lí do nhằm tránh bị nhắc nhỏ, kỉ luật.

Trước hết, nói dối xuất phát từ đời sống văn hóa thuần nông cử nước ta. Lúc ban đầu nói dối để làm vui, trêu đùa nhau. Đọc truyện Trạng Quỳnh chúng ta thấy rõ bản chất này. Việc nói dối để giải quyết tình huống được đề cao như một trí tuệ dân gian. Từ đó ảnh hưởng sâu rộng vào đời sống con người. Nói dối được xem như một sự khôn khéo trong ứng xử.

Do lối ứng xử cả nể, một vừa hai phải, tránh va chậm nhau của người Việt nhằm xây dựng một cộng đồng hài hòa, bền chặt. Lối ứng xử này chỉ phù hợp với một tổ chức làng xã nhỏ trước đây. Ngày nay, trước xu thế mở rộng hợp tác, lối ứng xử này gây nên không ít khó khăn trong đời sống xã hội.

Việc nói dối bị lạm dụng bởi nhiều kẻ cơ hội, mưu cầu danh lợi cho bản thân. Không ít người sẵn sàng làm chứng gian cho nhau, hoặc ngậm miệng cho qua mọi chuyện để cầu toàn, hưởng lợi… Vì thế giả dối luôn song hành với tâm lý xấu che, tốt khoe và sợ sự thật. Trong các quan hệ ứng xử, một khi người ta thiếu lòng tự trọng và sợ sự thật, thì đó là lúc sự giả dối phát tác và bắt đầu gây hại.

Giáo dục cũng không chú trọng vào việc rèn luyện tư cách cho con người. Những bài học lí thuyết trở nên nhàm chán. Việc thực hành đạo đức ở trường học không được tiến hành mạnh mẽ. Thầy cô giáo thiếu gương mẫu hoặc suy thoái đạo đức trầm trọng. Từ đó tạo ra tấm gương xấu khiến học sinh không còn kính trọng.

Nói dối, làm giả làm suy giảm lòng tin giữa con người với con người.

Nói dối, làm giả gây nên những mâu thuẫn trong xã hội. Thậm chí là những xung đột kịch liệt, để lại hậu quả đáng tiếc.

Hiện tượng nói dối, làm giả gây mất trật tự anh ninh, là một trong những nguyên nhân gây ra tệ nạn xã hội. Việc làm hàng giả gây rối loạn thị trường, ảnh hưởng nghiêm trọng nền kinh tế đất nước.

Người nói dối, giả dối không được người khác tôn trọng và bị pháp luật trừng trị khi xâm phạm đến lợi ích của người khác.

Nói dối, làm giả nêu gương xấu đối với người khác, nhất là đối với giới trẻ.

Trên đời này, có những lời nói dối là cần thiết, thế nhưng đa phần là sự nực cười, là lỗi lầm và sai trái. Con người ta không ai muốn bị lừa dối. Và không ai muốn tha thứ dễ dàng cho kẻ lừa dối mình. Vì thế hãy chân thật với người khác cũng như với chính bản thân mình để không đổi lại sự hối hận về sau.

Tăng cường giáo dục đạo đức, nhân cách, nhân phẩm cho học sinh trong trường học. Tăng cường rèn luyện con người có phẩm chất tốt đẹp, tri thức vững vàng và tự tin trong cuộc sống. Chỉ có giáo dục mới có thể giúp con người nhận thức được bản chất của cuộc sống là phải sống tốt đẹp.

Trong gia đình, người lớn phải gương mẫu. Không nên nói dối trước mặt con cái hay giả dối trong lời nói và công việc. Bởi con cái thường hay học hỏi và làm theo cha mẹ. Gia đình cũng cần đề cao văn hóa ứng xử, đề cao lễ nghĩa, xây dựng truyền thống gia đình tốt đẹp. Văn hóa và truyền thống gia đình có ý nghĩa quyết định nhân cách và lối sống của mỗi con người.

Xây dựng lối sống trong sạch, lành mạnh trong cộng đồng. Tuyên dương cái tốt đẹp, phê phán và bài trừ cái xấu, cái ác. Pháp luật nghiêm minh. Việc xử phạt phải công bằng, triệt để, thể hiện sức mạnh của công lí và chính nghĩa.

Trước sự thay đổi lớn của thời đại, chúng ta cũng cần xây dựng những chuẩn mực mới phù hợp và tiến bộ. Cần đưa ra những bộ quy chuẩn cho từng lĩnh vực trong đời sống. Căn cứ vào đó mà điều chỉnh hành vi con người.

Cần thực hiện công bằng xã hội để tăng cường niềm tin trong nhân dân. Chỉ có lòng tin tương mới giú con người không lừa dối, không gian lận.

Nâng cao cuộc sống, khuyến khích và đề cao lòng tốt, tình thương trong xã hội. Đồng thời nghiêm trị những trường hợp vi phạm để làm gương cho người khác.

Giả dối trong đời sống là một căn bệnh nguy hại. không những gây ra mâu thuẫn, xung đột xã hội mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng cho người khác. Một xã hội văn minh, tiến bộ là một xã hội không có sự giả dối, không ai muốn giả dối. Dối trá luôn mang lại kết quả tai hại. Dối trá là hành động của kẻ ngu xuẩn không đủ can đảm trước sự thật.

Đồng Hoa – một tiểu thuyết gia nổi tiếng của Trung Quốc đã viết trong cuốn sách của mình rằng: “Giành được lòng tin rất khó mà hủy diệt thì dễ lắm, quan trọng không phải là dối gạt chuyện lớn hay nhỏ mà chính việc dối gạt đã là vấn đề”. Câu nói ấy gợi nhắc chúng ta câu chuyện về chú bé chăn cừu, một cậu bé với trò chơi khăm quái đản, luôn cố tình hét lên, cầu cứu với mọi người là có sói đến, nhưng thực tế lại chẳng có con sói nào cả. Trò đùa ấy diễn ra được vài lần, cho đến khi không ai còn tin vào lời của cậu ta nữa, rồi khi có sói đến thật, cậu bé kêu cứu thì đã không còn ai tin tưởng và kết quả đàn cừu của cậu ta bị bầy sói xơi tái bằng hết. Đó là hậu quả của một lời nói dối, một trò đùa tai hại mà cậu bé phải gánh chịu. Vậy trong thời buổi hiện nay thói quen nói dối đã đem lại những tác hại gì?

Trước hết là chúng ta cùng định nghĩa thế nào là nói dối. Nói dối tức là một phát ngôn không đúng với sự thật, nhằm phục vụ cho một mục đích nào đó của người nói và gần như trong tất cả các trường hợp nói dối đều là hành động mang tính tiêu cực, làm ảnh hưởng đến các cá thể khác vì sự sai lệch trong thông tin. Chỉ một số ít những trường hợp lời nói dối là vì mục đích nhân đạo và trở thành lời nói dối vô hại vì nó không mang tới ảnh hưởng xấu cho bất cứ một cá nhân nào. Và lời nói dối lúc nào cũng khoác lên mình một vẻ hào nhoáng, trau chuốt dễ khiến người khác tin tưởng hơn là một sự thật đầy gai góc ví như Albert Camus đã từng nói: “Sự thật, giống như ánh sáng, làm người ta chói mắt. Sự giả dối thì ngược lại, là ánh chiều hôm tươi đẹp bao trùm lên mọi vật”. Và sự dối trá cũng không chỉ riêng lời nói mà nó còn nằm ở hành động của mỗi con người giống như câu “Dối trá không nằm trong ngôn từ; nó nằm trong sự việc, theo Italo Calvino. Hoặc như Robert Southey đã từng nói: “Tất cả sự lừa lọc trong đời thực chất chẳng là gì khác ngoài lời nói dối được thực hành, và sự dối trá chuyển từ ngôn từ vào sự vật”. Chung quy lại sự nói dối là biểu hiện rõ nét nhất của sự suy thoái đạo đức và đánh mất dần bản thân chân chính của một con người.

Trong xã hội hiện nay hiện tượng nói dối hay lừa lọc đã trở nên rất phổ biến ở mọi tầng lớp mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề, mọi tôn giáo. Có thể nói rằng lời nói dối luôn được phát ra mỗi một phút một giây, và trong một giây có hàng triệu con người đang bị những lời nói dối bịp bợm mà họ không hề ý thức được. Những đứa trẻ vài ba tuổi thì bắt đầu biết nói dối rằng chúng đau bụng để không phải ăn những thứ mà chúng ghét, những đứa trẻ đã đến trường thì bắt đầu dối gạt cha mẹ và thầy cô về bài tập của mình, một số đã biết thế nào là quay cóp, gian lận trong thi cử. Những sinh viên thì ngày càng trở nên bạo gan hơn trong việc dối trá, lừa dối cha mẹ về việc tham gia các khóa học tiếng anh, tin học, kỹ năng,… để xin tiền ăn chơi, trong khi thực tế cái họ học được duy nhất chỉ là cách nói dối ngày càng một chuyên nghiệp hơn. Khi bước ra ngoài xã hội, người ta lại tiếp tục lừa dối nhau bằng những lời nói dối tinh vi hơn, một chàng trai hay một cô gái nào đó sẵn sàng lừa dối người yêu của mình để qua lại với vài người khác nữa. Một nhân viên sẵn sàng ăn cắp ý tưởng của đồng nghiệp để tranh công với sếp, những nhà thầu công trình khai sai số lượng vật liệu xây dựng để rút ruột công trình, những nhân viên kế toán tìm cách rút tiền công quỹ bằng cách hóa đơn khống. Những người chồng tìm cách nói dối vợ về các bữa tiệc xã giao để đem thời gian và tiền bạc đi cặp kè với nhân tình. Một số người nông dân dùng vô số loại thuốc bảo vệ thực vật vào rau củ của mình nhưng lại điềm nhiên nói rằng chúng hoàn toàn tươi sạch. Các nghệ sĩ, nhà văn thì ngấm ngầm đạo tác phẩm của đồng nghiệp rồi trắng trợn nói rằng chúng là do mình tự sáng tác,… Và còn rất nhiều những lời nói dối mà dù có liệt kê cả nghìn trang giấy cũng không thể nào cạn được.

Vậy cuối cùng thói dối trá đã đem lại cho con người những gì ngoài sự đổ đốn và mục rữa trong tâm hồn, có thể ngay lúc ấy sự lừa lọc kẻ khác đã đem cho chúng ta những lợi ích nhất định khiến chúng ta thỏa mãn, thế nhưng những hậu quả mà nó đem lại cho người khác thì sao? Những bậc cha mẹ và thầy cô phải phiền lòng vì sự dối trá của những đứa con, và bản thân chúng cũng trở nên mục rỗng thiếu kiến thức, thiếu trách nhiệm, cuối cùng nặng nề nhất ấy chính là thiếu hụt đạo đức, chúng không hề ý thức và ngày càng chìm đắm vào việc nói dối như một đam mê. Những cô gái, những chàng trai, những người vợ, người chồng phải đau khổ vì bị phản bội, bị mọc sừng, hạnh phúc trong tình yêu, trong hôn nhân lập tức sụp đổ ngay trước mắt. Còn những công trình bị rút ruột thì luôn ẩn chứa khả năng giết người tiềm tàng tựa như một cái máy chém sẵn sàng sập xuống bất cứ lúc nào. Còn những thứ rau quả toàn thức bảo vệ thực vật sẽ giết con người bằng lưỡi dao vô hình và khủng khiếp, nó hủy hoại dần con người ta từ bên trong khiến chúng ta chết từ từ với những căn bệnh quái ác như ung thư. Những kẻ đạo văn, đạo nhạc thì đã làm vấy bẩn thế giới nghệ thuật vốn tươi đẹp và thanh cao, làm cho con người ta không còn tín nhiệm vào những thứ để bồi bổ tâm hồn như sách vở và âm nhạc. Chung quy lại quá nhiều lời nói dối và các hành động dối trá diễn ra khiến con người luôn sống trong sự hoài nghi. Cha mẹ không dám tin tưởng con cái rồi vô tình gây ra những tổn thương cho đứa trẻ; người ta sợ hãi tình yêu hôn nhân; không còn tin vào chất lượng của các công trình, ái ngại khi bỏ tiền ra mua nhà cửa. Người ta cũng không dám ăn những thứ được bày bán ngoài chợ vì sợ có độc, sợ nguy hiểm cho bản thân và gia đình. Như vậy xã hội này đã biến thành một xã hội với những kẻ nói dối và những con người luôn hoài nghi, sợ hãi. Và tôi khẳng định rằng đó là một xã hội tồi tệ, khi con người không có niềm tin dành cho nhau, cuộc sống đó là một cuộc sống quá đỗi mệt mỏi.

Không chỉ gây nguy hại cho đời sống xã hội, lời nói dối còn có tác động tiêu cực với chính người đã tạo ra chúng. Trước hết việc lừa dối làm nhân cách đạo đức con người ngày một suy mòn, đi xuống, họ mất đi cái gọi là lòng trung thực, sự chân thành, riết rồi tâm hồn họ chỉ có hai chữ dối trá che mờ tất cả. Bởi một lời nói dối tất sẽ kéo theo những lời nói dối khác để che đậy cho nó, con người nói dối một lần, hai lần rồi nhiều đến mức họ tin rằng những lời nói dối đó là thật và trở nên điềm nhiên trong sự dối trá tệ hại của mình. Và đặc biệt không ai có thể nói dối cả đời như câu nói “Sống để bụng chết mang theo” được, trên đời này chỉ có sự thật là chính nó còn riêng lời nói dối lúc nào cũng như một kẻ phạm tội luôn để lại dấu vết ở khắp nơi. Một khi bị phát hiện là kẻ dối trá người thân, bạn bè, đồng nghiệp, sếp tổng sẽ không còn ai dám tin tưởng và hợp tác với bạn nữa. Hoặc mọi người sẽ tạm tin bạn và luôn đặt bạn dưới tầm ngắm nếu có bất cứ một vấn đề nào xảy ra, lúc này đây bạn cũng chẳng khác mấy so với chú bé chăn cừu tinh quái. Cuộc sống của bạn sẽ trở nên tồi tệ khi mất đi sự tín nhiệm của mọi người, bạn sẽ dần bị xa lánh, ghét bỏ, không chỉ vậy mỗi một hành động của chúng ta đều có ảnh hưởng rất lớn đến con cái của chúng ta sau này. Sẽ khó có đứa trẻ nào ngoan ngoãn khi cha mẹ chúng liên tục nói dối, liên tục làm những trò bịp bợm trước mặt chúng, bởi đơn giản trẻ em là một tờ giấy trắng, tờ giấy ấy là một bức tranh đẹp hay một bức tranh tệ hại chính là phụ thuộc vào ngòi bút của những người lớn đấy các bạn ạ.

Benjamin Franklin từng nói rằng: “dối trá và lừa lọc là hành động của kẻ ngu xuẩn không có đủ trí óc để trung thực”. Ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá. Không một ai cảm tìm thấy được hạnh phúc khi họ sống bằng sự giả dối cả. Thế mà, càng phát triển, con người càng nói dối nhiều hơn và khéo léo hơn. Hiện tượng nói dối của con người thật đáng lo ngại trong cuộc sống này.

Nói dối là chủ tâm nói một điều không đúng với sự thật nhằm thực hiện một mục đích nào đó trong giao tiếp. Một lời nói dối thường là một phát ngôn sai có mục đích, dùng cho việc lừa gạt. Nói dối có thể phục vụ cho nhiều mục đích và chức năng tâm lý khác cho cho những cá nhân sử dụng. Thông thường, thuật ngữ “nói dối” mang hàm ý tiêu cực và tùy vào hoàn cảnh, người nói dối sẽ là đối tượng chỉ trích của xã hội, pháp luật hay tôn giáo.

Lời nói dối có thể nói ra từ một người, một nhóm người hay một chính thể với chú ý tạo nên một sự việc giả dối, không có thực để làm cho người nghe tin là có thực. Đối tượng nói dối luôn luôn có sẵn một mục đích. Hiện tượng nói dối lúc ban đầu có thể chỉ là một câu chuyện vui đơn giản vô hại; cũng có thể là một mưu toan đi đến lường gạt rộng lớn; tội đại hình như: cướp của, giết người ….

Advertisement

“Không có gì che đậy được lâu dưới ánh sáng mặt trời”. Một sự nói dối to lớn còn gọi là sự lường gạt, nếu bị tìm ra thì hậu quả tai hại của nó không thể lường được. Phía sau lời nói dối có thể là những động cơ, nguyên nhân khác nhau: những toan tính, thủ đoạn của kẻ không trung thực; sự yếu đuối, hèn nhát của người không dám đối diện sự thật; né tránh sự thật đau lòng, không muốn làm tổn thương người khác. Dối trá và lừa lọc là hành động của kẻ ngu xuẩn không có đủ trí óc để trung thực“

Nói dối gây ra những hệ lụy không ai mong muốn, những hậu quả khôn lường. Lời nói dối có thể kéo theo những hành động gian dối, làm xói mòn nhân phẩm, niềm tin giữa con người với nhau, gây bất ổn nhiều mặt trong xã hội,… Biết bao nhiêu xung đột do lời nói giả dối gây ra, làm tổn hại tiền của và sinh mệnh. Biết bao nhiêu mối quan hệ tốt đẹp cũng rạn nứt hoặc chấm dứt là bởi những lời nói dối.

Nói dối làm suy giảm niềm tin giữa con người với con người. Không ai lại có thể tin tưởng một kẻ hay nói dối. Càng nói dối, bạn sẽ càng bị người khác xa lánh, ghét bỏ, trừng phạt. Bản thân người nói dối không những không chiếm được thiện cảm của người khác mà còn không nhận được sự trợ giúp. Bởi thế, kẻ nói dối thường thất bại và sống cuộc đời hèn kém trong cuộc sống này. Lời nói dối một khi bị phát hiện sẽ chặn đứng sự gần gũi của người khác, khiến họ đề phòng, xa lánh và lạnh lùng hơn.

Càng nói dối ta càng thêm bất an, hoài nghi và sợ hãi. Khi ấy, ta dành hết cả thời gian và suy nghĩ để che đậy hành vi giả dối của mình, lo lắng người khác phát hiện. Nói dối không những làm tổn hại sức khỏe mà còn tổn hại đến thần kinh vì lo sợ bị trừng phạt.

Kẻ hay nói dối thường không có lòng tin tưởng ở người khác. Họ hay nghi ngờ, đề phòng mọi thứ ở xung quanh. không những không có lòng trung thực, kẻ hay nói dối cũng không có lòng tôn trọng đối với người khác. Kẻ nói dối thường hay biến đúng thành sai, biến trắng thành đen nhằm vụ lợi cho bản thân hoặc hãm hại một ai đó. Bởi thế, kẻ nói dối thường gây mất đoàn kết trong tập thể, tổn hại đến trật tự, an ninh xã hội, làm đảo lộn các giá trị chân thực trong đời sống.

Sự nói dối thường phải được bổ sung bởi một hay nhiều lời nói dối khác. Như vậy người nói dối phải có trí nhớ thật tốt để nhớ tất cả những gì mình đã nói. Hoặc là phải có một chính sách thật tàn bạo để sẵn sàng cưỡng bức, áp chế người nghe. Dần dà sự thật trở thành kẻ thù đáng sợ nhất của sự nói dối. Một khi sự nói dối diễn tiến một cách liên tục, thì nó càng dễ bị khám phá bời vì sẽ đán lúc đầu và đuôi không ăn khớp với nhau nữa. Một khi bị khám phá ra, người nói dối sẽ mất hết tín nhiệm. Tín nhiệm đã mất thì khó mà xây dựng lại được.

Đối với cá nhân, chúng ta chỉ là những con người người bình thường chứ không phải là thánh nhân, nghĩa là sẽ có sai lầm. Không ai trong chúng ta dám nói là chưa bao giờ nói dối hoặc sẽ không bao giờ nói dối. Chúng ta đều hiểu là trong nhiều hoàn cảnh, chúng ta phải cân nhắc xem nói dối hay nói thật cái nào sẽ có hại hoặc mang họa đến cho chúng ta nhiều hơn.

Con người ngày nay thường hay nói dối. Đó không phải là một vài trường hợp đơn lẻ mà dường như đã trở thành một hiện tượng, có tính phổ rộng. Nói dối là phá hỏng niềm tin và làm suy thoái nhân cách con người. Điều đó thật đáng lo ngại.

Nguyên do đầu tiên là vì sợ hãi. Trước cuộc sống đầy biến động, con người thường sống trong nhiều nỗi sợ hãi. Nói dối là cách để họ né tránh trách nhiệm, né tránh công việc, hoặc né tránh hình phạt. Càng yếu đuối, lười biếng, ích kỉ, con người càng nói dối nhiều hơn.

Nguyên nhân thứ hai là nhiều người có thói quen nói dối. Nhiều người trong gia đình có thói quen nói dối, giả dối khiến việc nói dối lây nhiễm. Chuyên lớn, chuyện nhỏ họ đều nói dối. Nói dối đối với họ như một thói quen, bởi thế họ không cho là sai phạm quan trọng.

Nền tảng đạo đức xã hội xuống cấp, con người đề cao đời sống vật chất thực dụng, đề cao giá trị tiền bạc khiến hiện tượng nói dối, lừa lọc trở nên phổ biến hơn. Người lớn không gương mẫu, nhà trường giáo dục đạo đức sơ sài, xã hội thờ ơ, căn bệnh nói dối vì thế ngày càng lan nhiễm nhiều hơn.

Kẻ hay nói dối là vì vụ lợi cho bản thân hoặc nói dối để hãm hại người khác. Nhiều người nói dối để có thể chiếm phần lợi ích cao hơn người khác. Nhiều người dùng lời dối trá để vu khống, hãm hại người khác, làm mất đoàn kết, khiến tập thể rối loạn nhằm một mục đích nào đó.

Lịch sử đã chứng minh nhiều lần là sự thực, chân lý cuối cùng sẽ thắng; kẻ dối trá sẽ phải đền tội xứng đáng. Nếu chúng ta muốn người khác thành thực với mình, thì mình trước hết phải tỏ rõ thiện chí, thành thực với họ trước. Sự giả dối có vô vàn biến thể, nhưng sự thật chỉ có một thể tồn tại duy nhất.

Nói dối là một thói xấu, vì thế con người cần rèn luyện cho mình phẩm chất trung thực, không được nói dối. Cần lên án, phê phán nghiêm khắc những kẻ nói dối cũng như những hành vi gian dối. Nhưng cũng nên có cách nhìn nhận thấu đáo nếu phải nghe những lời nói dối.

Trong tình huống, cảnh ngộ cụ thể, nhất thời, con người có thể buộc phải nói dối. Tuy nhiên, không được lạm dụng lời nói dối. Bởi suy cho cùng, trong cuộc sống không ai muốn nghe hoặc phải nói những lời gian dối và sớm muộn sự thật cũng sẽ được phơi bày.

Sự giả dối là sản phẩm tồi tệ do con người tạo ra. Chỉ có những kẻ không có đủ sự dũng cảm và lòng trung thực mới nói dối. Và càng tồi tệ hơn nếu chúng ta mãi sống với nó. Không có cách nào khác để thành công tốt hơn đó là không bao giờ giả dối. Hãy rèn luyện những phẩm đức tốt đẹp, hãy chiến thắng bằng sức mạnh của niềm tin và ánh sáng. Đó là chiến thắng vẻ vang nhất mà mỗi con người cần hướng tới.

Văn Mẫu Lớp 9: Nghị Luận Về Vai Trò Của Lao Động Đối Với Con Người Bài Văn Nghị Luận Xã Hội Lớp 9 Hay Nhất

1. Mở bài:

Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận: vai trò của lao động đối với con người.

2. Thân bài:

a) Giải thích:

Lao động là làm việc, hoạt động thể chất, trí óc để tạo ra của cải vật chất.

b) Vai trò của lao động đối với con người:

Lao động tạo ra thu nhập cho con người, nuôi sống con người.

Lao động giúp con người khẳng định giá trị xã hội của mình.

Lao động giúp con người phát triển, sáng tạo hơn.

Lao động là bước đệm giúp con người thực hiện ước mơ, chinh phục thế giới mới.

c) Phản đề:

Chây ỳ, lười lao động khiến con người thụt lùi, không phát triển được.

Ngoài lao động, con người cũng cần tập trung phát triển đời sống tinh thần phong phú, đa dạng.

d) Bài học nhận thức và hành động:

Chăm chỉ lao động, cống hiến phục vụ cho cuộc sống của chính mình.

Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình.

3. Kết bài:

Khái quát lại về vai trò của lao động trong đời sống con người.

Maxim Gorki đã từng nói “Lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo”. Thật vậy, lao động có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển của xã hội loài người.

Lao động là hoạt động về thể chất hoặc trí óc của con người. Đây là việc làm có mục đích, có ý thức nhằm tạo ra của cải vật chất, tạo ra tiền bạc, hàng hóa để lưu thông, phục vụ cho đời sống.

Từ xa xưa, người vượn cổ đã biết cầm, nắm công cụ lao động. Trong đời sống hiện đại, con người lao động để tạo ra các giá trị khác nhau cho xã hội. Lập trình viên tạo ra mã code, quản lí và phát triển không gian mạng; người bán hàng ăn tạo những món ăn ngon giúp mọi người no bụng, vui vẻ; bác sĩ thì cứu chữa cho bệnh nhân;… Mỗi cá nhân đều thể hiện giá trị của riêng mình thông qua lao động. Những giá trị đó được quy đổi ra thành tiền bạc, vật chất phục vụ ngược lại cho con người.

Qua đó, ta có thể thấy lao động có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống chúng ta: giúp ta khẳng định bản thân, tạo ra của cải vật chất, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Ngoài ra, con người cũng thể hiện được sức sáng tạo vô hạn của mình trong lao động. Nó giúp ta ngày càng được phát triển, là bước đệm để ta chinh phục ước mơ, khám phá ra thế giới mới.

Lao động quan trọng là vậy nên chúng ta cần phải biết chăm chỉ, cần cù, cống hiến cho sự phát triển của đất nước. Tất cả công dân bình thường đều có thể lao động được. Các em bé có thể phụ giúp bố mẹ làm việc nhà, quét dọn lớp học,… Người trưởng thành cũng cần phải có tinh thần nỗ lực, cầu tiến trong công việc để tạo ra nhiều vật chất, cải thiện cuộc sống.

Nếu không lao động, chúng ta sẽ phát triển ngược lại với thuyết tiến hóa. Ngồi không khiến bụng dần to ra, lưng gù đi, chân tay không còn được nhanh nhạy nữa. Việc chây ỳ, biếng nhác còn khiến cho con người lạc hậu, thụt lùi so với xã hội, không thể phát triển được. Tuy lao động quan trọng nhưng chúng ta cũng cần phải tập trung phát triển tinh thần đa dạng, phong phú. Có như vậy con người mới có thể đạt đến sự toàn diện của đức – trí – thể – mĩ.

Lao động là vinh quang. Hãy dùng sức lực và đôi bàn tay của mình tạo ra thật nhiều giá trị tốt đẹp cho cộng đồng thông qua các hoạt động trong đời sống. Có như vậy, bản thân chúng ta mới hoàn thiện, trở thành một người có ích cho xã hội.

Con người xuất hiện trên trái đất này khoảng bốn triệu năm về trước. Vượt qua một chặng hành trình kéo dài của lịch sử trái đất, con người đã biến đổi hoàn toàn từ loài vượn cổ trở thành người hiện đại với tầm cao vũ trụ. Chính quá trình lao động miệt mài là yếu tố kì diệu để con người phát triển. Nói về lao động, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng khẳng định: “Lao động là vẻ vang và cần thiết, cần thiết cho bản thân mình để sống, lao động là cần thiết cho dân cho nước, lao động là nghĩa vụ”. Câu nói của bác Phạm Văn Đồng làm cho mỗi người chúng ta phải suy nghĩ.

Nhiều người vẫn quen hiểu lao động là dùng sức lực và dụng cụ để sản xuất ra sản phẩm tiêu dùng, như người nông dân sản xuất lúa gạo, người công nhân dệt vải, may thêu… Nhưng ý nghĩa của lao động không dừng lại ở đó. Lao động còn là sự vận dụng khả năng sáng tạo, phát huy trí tuệ của bản thân để cải tiến kĩ thuật, thay đổi phương pháp làm việc để thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy các lĩnh vực của xã hội ngày càng phát triển nhằm phục vụ cho nhu cầu ngày càng đa dạng của con người.

Lao động là việc làm vẻ vang. Nhờ lao động, con người có thể tự kiếm sống bằng chính đôi tay của mình. Nhờ lao động, con người có một cuộc sống tự do không bị lệ thuộc vào bất cứ ai. Tự do là phần thưởng vô giá mà phần thưởng này chỉ dành cho những người biết lao động và quý trọng giá trị đích thực của lao động. Còn gì sung sướng bằng khi ta được làm chủ những đồng lương được làm nên sau những tháng ngày vất vả, làm sao không tự hào khi ta đứng trước một cánh đồng màu mỡ, một mảnh vườn xanh mướt được tạo nên từ đôi bàn tay cần cù chịu khó, từ những giọt mồ hôi chăm chỉ trên mảnh đất trước đây chỉ là sỏi đá khô cằn… Cảm giác sung sướng tự hào ấy chỉ có những người trong cuộc mới cảm nhận hết.

Lao động còn là điều hết sức cần thiết, không chỉ cho bản thân mà còn cho dân cho nước. Lao động nuôi sống bản thân con người, là quá trình hình thành nhân cách, phát huy trí tuệ, tài năng. Lao động là động lực phát triển đất nước. Chúng ta hãy lấy tấm gương lao động của Nhật Bản. Sau Thế chiến thứ hai, nước Nhật vừa chịu tổn thất nặng nề vừa phải đền bù thiệt hại chiến tranh. Thế mà, chỉ vài thập kỉ sau, từ một đống tro tàn đổ nát của cuộc chiến, Nhật đã vươn lên thành một cường quốc kinh tế ở Châu Á. Tất cả đều nhờ bàn tay lao động, khối óc sáng tạo của những con người biết chung vai vì đất nước. Mỗi ngành nghề, mỗi công việc đều đáng trân trọng như nhau, bởi tất cả đều giống nhau ở việc xây dựng và phát triển đất nước.

Lao động còn là nghĩa vụ của mỗi người. Là người công dân trên một đất nước độc lập, ý thức về trách nhiệm của mình, ai ai cũng phải ra sức xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn, một đất nước phồn vinh hơn. Bác Hồ kính yêu đã từng nói:“ Tuổi nhỏ làm việc nhỏ – Tuỳ theo sức của mình…”. Điều đó không chỉ là trách nhiệm mà con là bổn phận của mỗi người chúng ta đối với tập thể. Nếu ai cũng ý thức được điều này, cuộc sống chắc chắn sẽ ngày càng tốt đẹp hơn.

Advertisement

Câu nói của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhắc nhở chúng ta hiểu được ý nghĩa, gia trị của lao động để từ đó có thái độ, hành động, cách nhìn đúng đắn hơn về lao động. Xã hội ta ngày nay đã phát huy những giá trị của lao động bằng những việc làm thiết thực. Các hội thi “Bàn tay vàng người thợ”, hội thi “ Sáng tạo khoa học”… là những minh chứng sinh động nhất. Những giá trị lao động chân chính được tôn vinh, được đề cao nhằm thúc đẩy niềm hăng say lao động sáng tạo.

Tuy nhiên, bên cạnh những tấm gương lao động miệt mài, ta không khỏi buồn lòng trước những hành vi thái độ coi thường lao động chân tay hoặc những quan niệm lệch lạc về lao động. Đó là những con người quen sống hưởng thụ, xa hoa từ những đồng tiền bất chính. Vì không lao động, họ không biết giá trị đích thực của lao động và chắc chắn không bao giờ biết quý trọng thành quả mà mọi người đã tạo ra. Những con người đó thực sự trở thành ung nhọt của đất nước, là lực cản trong tiến trình phát triển của cuộc sống mà chúng ta phải kiên quyết loại trừ.

Tóm lại, hiểu được giá trị của lao động đối với con người và cuộc sống, chúng ta càng có ý thức trân trọng giữ gìn những thành quả lao động mà cha ông ta đã tạo dựng và để lại cho đời sau, đồng thời tự xác định cho mình thái độ lao động tốt bằng những việc làm đích thực, cụ thể. Trước mắt, chúng ta cần phải có thái độ chuyên cần trong học tập, tham gia tốt các ngày Chủ nhật hồng, phong trào trồng cây gây rừng để làm đẹp cuộc sống này.

Văn Mẫu Lớp 12: Nghị Luận Xã Hội Về Tiền Bạc Và Hạnh Phúc Dàn Ý & 7 Bài Văn Mẫu Lớp 12

Văn mẫu lớp 12: Nghị luận về tiền bạc và hạnh phúc gồm có 7 bài văn hoàn chỉnh hay nhất được đánh giá cao. Với 7 bài văn tiền bạc và hạnh phúc được xây dựng đầy đủ, mạch lạc, rõ ràng từng phần các bạn có thể dễ dàng lựa chọn tham khảo cho bài văn của mình sắp viết.

1. Đặt vấn đề

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tiền tài, về hạnh phúc. Có người cho rằng có tiền là có hạnh phúc. Có người lại cho rằng có tiền chưa chắc đã có hạnh phúc. Nhưng cũng có người có ý kiến “người giàu cũng khóc”.

Thế nào là tiền tài? Là hạnh phúc? Tiền tài và hạnh phúc có mối quan hệ với nhau như thế nào? Để hiểu được điều đó, chúng ta cùng bàn về vấn đề này.

2. Giải quyết vấn đề

a. Giải thích từ ngữ:

Tiền tài: Tiền bạc và của cải.

Hạnh phúc: Trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện.

b. Tầm quan trọng của tiền tài và hạnh phúc

– Tiền tài và hạnh phúc đều rất quan trọng, cần phải có quan niệm đúng về hai vấn đề này.

Tiền tài dùng để phục vụ cuộc sống của con người. Nếu thiếu tiền, thiếu của cải, cuộc sống của con người sẽ gặp nhiều khó khăn. Khi bệnh tật, ốm đau, ta sẽ không thể chữa bệnh kịp thời. Khi cần mua sắm phục vụ cuộc sống của con người, thiếu tiền ta không thể thực hiện được.

Nhưng đồng tiền cũng có mặt trái của nó. Nhiều khi vì đồng tiền, người ta đối trắng thay đen, biến giả thành thật, hủy hoại nhân cách con người. Trong xã hội hiện nay, nhiều người vì chạy theo đồng tiền mà không từ một thủ đoạn nào.

– Hạnh phúc chỉ được xây dựng trên những giá trị mang ý nghĩa xã hội và tinh thần chân chính. Hạnh phúc có giá trị về mặt tinh thần. Nó làm cho các thành viên trong gia đình thấy vui vẻ, ấm cúng, làm cho cộng đồng hoà hợp tạo nên sức mạnh thúc đẩy xã hội phát triển.

c. Mối quan hệ giữa tiền tài và hạnh phúc

Nếu chỉ coi đồng tiền là mục đích duy nhất, cao nhất để sống thì nhiều khi chính ta sẽ rơi vào bi kịch. Nhân cách bị huỷ hoại, gia đình tan nát, mọi người sẽ coi thường, xa lánh.

Nhiều khi có tiền tài nhưng con người vẫn không thấy hạnh phúc. Nếu vì đồng tiền mà quên đi tất cả người thân bạn bè thì đồng tiền sẽ chẳng tạo nên giá trị, chẳng tạo nên sức mạnh trong cuộc sống.

Tóm lại: Điều quan trọng là ta phải tạo được sự hài hoà giữa tiền tài và hạnh phúc, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Con người được sống hạnh phúc lại có đầy đủ điều kiện vật chất thì thật là lí tưởng. Hiện nay, có rất nhiều gia đình vừa có điều kiện kinh tế vừa sống rất hạnh phúc. Bởi vì, đồng tiền họ làm ra là bằng sức lao động của chính họ.

d. Làm thế nào để vừa có tiền tài vừa được hạnh phúc

– Muốn tạo được sự hài hoà giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, mỗi người phải nỗ lực phấn đấu không ngừng trong học tập, lao động, rèn luyện đạo đức.

Tạo ra của cải vật chất một cách chân chính. Biết sử dụng nó một cách hợp lí, có ý nghĩa.

Phải trân trọng, giữ gìn hạnh phúc khi đã tạo dựng được. Không vì tiền tài mà tranh giành lẫn nhau, đánh mất đi hạnh phúc đã tạo dựng được.

3. Kết thúc vấn đề

Tiền tài và hạnh phúc có vai trò quan trọng đối với mỗi con người.

Kết hợp hài hoà giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần.

Khi có cuộc sống hạnh phúc phải biết phấn đấu để cuộc sống ngày một đầy đủ, tốt đẹp hơn.

Phê phán những người chỉ biết chạy theo đồng tiền mà chà đạp lên cuộc sống tình cảm gia đình, bè bạn…

Có bao giờ bạn tự hỏi: Tiền bạc là gì mà bao kẻ mù quáng theo đuổi, hạnh phúc là gì mà bao người khát khao, hi vọng. Hai điều đó tưởng chừng không gắn bó gì với nhau nhưng lại tạo nên một mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết trong cuộc sống.

Hạnh phúc là cảm giác sung sướng, mãn nguyện vì cảm thấy hoàn toàn đã được những gi mong muốn, còn tiền bạc là những đồng tiền dùng để chi tiêu và sử dụng. Giữa tiền bạc và hạnh phúc có một mối quan hệ khăng khít với nhau.

Tiền bạc có tầm ảnh hướng lớn đối với chúng ta. Nó là điều kiện cần cho nhiều hoạt động của cuộc sống như học tập, ăn, mặc, ở, đi lại… Mỗi việc chúng ta làm đều cần rất nhiều tiền. Hàng ngày chúng ta phải ăn uống để duy trì sự sống. Phải có tiền thì chúng ta mới có thể mua được những loại thực phẩm mà chúng ta cần dùng hàng ngày. Hãy thử tưởng tượng nếu một ngày chúng ta không có tiền để chi tiêu, không thể mua được những thứ cần thiết cho cuộc sống, lúc đó chúng ta sẽ như thế nào? Không ăn uống, không có những điều tối thiểu để sinh hoạt, chắc chắn sức khoẻ của chúng ta sẽ bị giảm sút theo đó là rất nhiều hệ lụy, việc khám chữa bệnh sẽ gặp nhiều khó khăn, học tập và làm việc sẽ không được đảm bảo.

Bên cạnh những giá trị vật chất, chúng ta còn đáp ứng được những giá trị thần khi có tiền. Chúng ta có thể tổ chức đi chơi vào những ngày hay đơn giản là những hoạt động, dịch vụ như Internet, điện thoại, phải có tiền thì chúng ta mới có thể chi trả cho những hoạt động đó. Chúng ta cần tiền, rất cần tiền mỗi ngày để chi trả cho những vấn đề cần trong cuộc sống. Dường như đồng tiền đã một phần nào chi phối hoạt động và nhu cầu của chúng ta. Mỗi người đều có những nhu cầu thiết yếu cho gia đình, cho bản thân, tuy nhiên với những gì chúng ta có, cần phải biết cách chi cho hợp lý, phải biết tính toán những gì mình cần, mình có. Nếu là một sinh nghèo vừa tốt nghiệp ra trường, cần có một chiếc xe máy để đi làm, với những gì cô có, chỉ có thể mua được một chiếc xe bình thường, không sang trọng, đắt tiền nhưng đã đáp ứng được nhu cầu của bản thân. Hay bên cạnh đó những sinh viên con nhà giàu, có thể mua được chiếc xe đắt tiền, sang trọng… Nhưng dù có nhiều tiền hay ít tiền, với nhu cầu của bản thân, với một sự tính toán, cân đối thì chúng ta có thể thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống tuy có lúc cũng chưa thật sự hài lòng. Tiền bạc là một điều kiện cần của cuộc hạnh phúc nhưng đó không phải là điều kiện đủ của hạnh phúc. Có những người chỉ biết kiếm tiền, họ chi mải làm, tiền đối với họ chẳng bao giờ là đủ nhưng họ lại không quan tâm, không biết trân trọng những gì mình đang có. Đối với họ, họ hạnh phúc ở chỗ họ làm ra tiền. Và khi nhận ra ra rằng mình không có được hạnh phúc thực sự thì có lẽ, đã là quá muộn. Những đồng tiền làm ra không thể đổi lấy hạnh phúc. Khi có tiền, tạo ra những giá trị tinh thần được vui chơi, được hoà mình vào cuộc sống, đó là điều kiện cho hạnh phúc nảy sinh và phát triển.

Như vậy chúng ta có thể nói tiền bạc là một điều kiện cần nhưng chưa đủ hạnh phúc. Khi thức tỉnh lòng mình, có ước mơ nhưng đồng ý tiếp nhận, trân trọng và yêu thương những gì mình có, chấp nhận những gì mình không thể có, có một nhận thức rõ ràng về đồng tiền, lúc đó, chúng ta đã có hạnh phúc. Trong xã hội Việt Nam xưa và bây giờ vẫn còn tồn tại những quan niệm sai trái về quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc:

Trong cái xã hội cũ đó, đồng tiền như một thế lực vạn năng. Hạnh phúc của người có thể đem ra mua bán bằng những giá trị đồng tiền. Còn ngày nay lại có rất nhiều người không biết quý trọng đồng tiền, sinh ra những thói hư tật xấu lười biếng, hư hỏng, trì trệ… Cái gì cũng đã có, không phải làm gì không ai hướng dẫn, họ chỉ biết hưởng thụ những gì tiền có thể đem tới, những thứ cần phải có sự rèn luyện về tinh thần và ý chí, họ không thể có được hạnh phúc. Họ không nghe nhạc để biết thế nào là bản nhạc hay không biết đọc báo để biết ai sướng, ai khổ, họ không có thời gian để chuyện tâm tình thật lâu, thật sâu để hiểu về một người bạn, để hiểu thế nào là một tình bạn…

Và khi có được tất cả, trừ những cái mới như ma túy, thuốc lắc,… thì họ thử. Họ có thế vui khi làm được điều đó, họ có thể hạnh phúc nhưng bố mẹ họ chắc chắn không hạnh phúc, những người thân của họ chắc chắn không hạnh phúc và cái hạnh phúc của họ chỉ là nhất thời. Như vậy những quan niệm trái về ý nghĩa của tiền bạc và hạnh phúc cần phải phê phán, bác bỏ và hướng họ tới những quan niệm tốt đẹp, cho họ biết giá trị của cuộc sống và làm thế nào để có được hạnh phúc thực sự.

Tiền bạc và hạnh phúc? Tiền bạc giúp chúng ta thoả mãn nhu cầu vật chất, một phần nào đó giúp chúng ta đáp ứng về tinh thần. Còn hạnh phúc thực sự thoả mãn về nhu cầu ấy. Với tôi, hạnh phúc không phụ thuộc vào giá trị vật chất mà đồng tiền mang đến, quan trọng là sự nâng niu, trân trọng cuộc sống mà chúng ta có mà thôi.

Tiền bạc là những tài sản vật chất trong cuộc sống, phục vụ cho những nhu cầu tiêu dùng thường ngày của con người. Nó có thể bao gồm tiền, nhà cửa, hay tài sản cá nhân. Hạnh phúc là sự thỏa mãn, hài lòng khi đạt được điều mình mong muốn, thường là những giá trị tinh thần trong cuộc sống. Tiền bạc và hạnh phúc đều là những nhu cầu của con người, tồn tại bên ngoài và trong chính con người.

Tiền bạc và hạnh phúc đều là những thứ có ý nghĩa trong cuộc sống của chúng ta. Tiền để chi tiêu cho sinh hoạt, cho những nhu cầu thiết yếu về ăn ở, đi lại hay những lúc ốm đau cần chữa trị, chăm sóc bản thân. Hạnh phúc với nhiều người chính là có cơm ăn có quần áo mặc, không phải lang bạt khắp nơi. Nhưng tiền không phải là hạnh phúc. Những người giàu có sung túc không phải luôn luôn hạnh phúc, những người nghèo khó cơ cực không phải không bao giờ hạnh phúc.

Những đứa trẻ sống trong gia đình nghèo, phải sống cuộc sống khó khăn kham khổ nhưng có cha mẹ hết mực yêu thương chắc chắn sẽ hạnh phúc hơn những đứa trẻ sống trong gia đình giàu có nhưng cha mẹ bận rộn không quan tâm, chăm sóc. Một doanh nhân thành đạt nhưng mắc phải căn bệnh ung thư có lẽ còn không hạnh phúc bằng một người công nhân nghèo, vất vả nuôi con đến khi về già được con cái chăm lo.

Tiền bạc không phải là tất cả, nó có thể mua được nhiều thứ nhưng không mua được sức khỏe, không mua được đạo đức và hạnh phúc. Tiền bạc đôi khi còn khiến người ta bị cuốn vào những vòng xoáy dơ bẩn, bán rẻ nhân cách và hạnh phúc của chính mình. Có rất nhiều câu chuyện thật nói về cái giá phải trả cho việc coi trọng đồng tiền. Những người tham lam, nghèo nhưng không biết vươn lên, đi vào con đường cướp bóc giết người để nhận lại những bán án đau thương, bỏ lại tương lai sau song sắt nhà tù, bỏ lại cả người cha người mẹ với mái đầu bạc cả đời ngóng trông con. Hạnh phúc bởi vì đồng tiền mà tan biến hư vô, chỉ còn lại sự xót xa và bế tắc đến cuối cuộc đời.

Tuy vậy, không thể sống mà coi thường tiền bạc. Cơm áo gạo tiền và gánh nặng mưu sinh đều cần đến tiền, những mảnh đời bất hạnh, những con người cả đời chăm chỉ vất vả nhưng cuộc sống không khá giả hơn cũng sẽ không bao giờ cảm thấy hạnh phúc. Người cha người mẹ có yêu thương tự hào về con mình đến đâu, khi không lo cho con được bằng bạn bằng bè cũng sẽ cảm thấy không vui vẻ vì bản thân, vì con.

Tiền bạc và hạnh phúc là những giá trị trung hòa trong cuộc sống của mỗi người. Không phải ai có tiền cũng sẽ hạnh phúc và cũng không ai có thể hạnh phúc suốt đời nếu không coi trọng tiền bạc. Bản thân mỗi người cần nhận thức rõ ràng về giá trị của tiền bạc và hạnh phúc. Chúng ta có thể cố gắng học tập, rèn luyện để trở nên thành đạt, giỏi giang và giàu có nhưng đồng thời cũng cần trân trọng những giá trị tốt đẹp khác bên cạnh tiền bạc, thậm chí cao hơn tiền bạc, ví dụ như tình yêu thương.

Đừng bao giờ để tiền bạc và những thứ vật chất là lu mờ bản thân, hãy sống tốt đẹp và chan hòa, trân trọng những mối quan hệ và biết yêu thương nhiều hơn. Trước những bàn tay cầu xin sự giúp đỡ đừng ngại ngần tiếc rẻ tiền bạc mà từ chối, biết đâu bởi vì sự từ chối của bạn, người ta có lẽ sẽ không bao giờ có cơ hội làm lại nữa. Mỗi chúng ta cũng nên trân trọng những gì mình đang có, trân trọng những thứ hạnh phúc nhỏ nhoi như tình yêu thương của cha mẹ hay chỉ đơn giản là có cha có mẹ. Nghe lời cha mẹ và yêu thương cha mẹ nhiều hơn, đừng mải mê chạy theo vòng xoáy, mải mê kiếm tiền để mong ước cuộc sống giàu sang mà trở nên thờ ơ, lạnh lùng.

Hạnh phúc đôi khi không phải thứ gì đó quá xa xôi mà ở gần ngay cạnh chúng ta, tiền bạc cần thiết cho cuộc sống nhưng không phải tất cả. Sống để bản thân và gia đình cảm thấy thoải mái nhất, bạn sẽ thấy hạnh phúc. Hãy cân bằng cuộc sống của chính mình để tìm thấy hạnh phúc thực sự.

Có người cho rằng:”Tiền có thể mua được tất cả, trừ hạnh phúc”, nhận định trên đúng hay sai khi trong thời đại hiện nay, con người buộc mình phải gắn vật chất và trở nên thực dụng hơn. Nhưng song song cùng những giá trị vật chất, cuộc sống tinh thần, những tình cảm cảm xúc không thể thiếu đối với con người. Liệu tất cả đều bị chi phối bởi đồng tiền?

Từ lúc được tạo hoá sinh ra, con người phải gắn liền với vật chất, có nhu cầu đòi hỏi về vật chất. Con người cần ăn, uống, mặc… nhưng lúc bấy giờ, tuyệt nhiên chưa xuất hiện, sự có mặt của đồng tiền. Tiến thêm một bước nữa, khi thế giới nguyên thuỷ đã ổn định, đi vào trật tự, vật chất có dư thừa, con người bắt đầu thực hiện trao đổi vật chất, không có tiền – một đơn vị trao đổi nhất định, người ta chỉ đổi thứ này lấy thứ khác. Đến lúc hình thành xã hội thực sự, đơn vị trao đổi đòi hỏi phải xuất hiện, vật chất trao đổi càng nhiều, nhu cầu trao đổi càng cao. Lúc đầu, đơn giản chỉ là những vỏ ốc, những đồng xu, cắc bạc, đơn vị trao đổi lúc ấy còn rất đơn thuần, chưa thống nhất. Dần dần, xã hội kinh tế hoá, tiền ra đời và thực sự thâm nhập, đi sâu vào xã hội, vào mỗi gia đình, mỗi con người.

Nhu cầu vật chất ngày càng tăng, đồng tiền ngày càng có giá trị. Con người như nhận thức được tầm quan trọng của đồng tiền, càng ra sức kiếm tiền, phục vụ cho nhu cầu vật chất của mình. Đồng tiền không những có giá trị thực dụng, đồng tiền chi phối cả yếu tố tinh thần, tình cảm cảm xúc của con người. Đồng tiền là phương tiện đưa con người có được những trò tiêu khiển, giải trí, những món quà đem lại nụ cười… Đồng tiền đem lại vật chất, những gì người ta muốn: nhà lầu, xe hơi, kim cương… hay những gì quý giá hơn nữa. Đồng tiền là công cụ cho con người làm việc: xây dựng cơ sở vật chất, giải quyết các chi phí… Trong xã hội hiện nay, dường như hầu hết mọi vấn đề đều động chạm đến tiền. Đồng tiền đã ăn sâu vào tiềm thức con người, chi phối tư tưởng con người, thể làm việc gì mà không có tiền hoặc không vì tiền, không dễ dàng gì người ta làm. Người ta làm việc hăng say, hứng thú khi treo trên đầu là một khoản tiền lớn nhận được sau khi hoàn thành công việc.

Càng ngày, đồng tiền càng có thế lực, con người không còn coi đồng tiền là phương tiện làm việc, đồng tiền đã hoá thành mục đích. Trong một xã hội kinh tế như hiện nay, quả nhiên, đồng tiền rất có giá trị. Nhưng, đồng tiền có thực sự mua được tất cả, nắm tiền trong tay liệu ta có thể có được những gì muốn. Đồng tiền mua được vật chất vậy có thể mua được hạnh phúc. Đồng tiền mua được nhà lầu, xe hơi… Vậy có thể mua được nụ cười , niềm vui, tình yêu…?

Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc là những rung cảm chân thành sâu sắc nhất từ tận đáy lòng, là lúc ta muốn ôm cả thế giới vào lòng , ta thấy ấm ngay ngay giữa trời đông băng giá. Hạnh phúc không bắt nguồn từ những giá trị vật chất mà bắt nguồn từ tâm hồn, trái tim. Hạnh phúc chưa chắc có trong xa hoa tráng lệ nhưng tràn ngập trong nụ cười, niềm vui, tình yêu… Người phụ nữ sống trong nhung lụa vàng son mà cô đơn lạnh lẽo liệu có hạnh phúc? Một cái dạ dày no đủ và một trái tim chết đói liệu có hạnh phúc.

Hạnh phúc đến đơn giản nhẹ nhàng, không cần tiền bạc, không xa hoa phù phiếm. Là một buổi sáng ngắm bình minh trên mặt biển, là nhìn ngắm một bông hoa nở muộn đẫm mình trong sương đêm và nắng sớm, là chiếc hôn nhẹ nhàng của người chồng lên trán vợ để xua đi bao mệt mỏi, toan tính trong ngày… Hạnh phúc tràn ngập quanh ta, nhưng hạnh phúc đến rất khẽ, chỉ cần ta im lặng lắng nghe tiếng gõ cửa của hạnh phúc. Tuyệt nhiên đồng tiền không thể xen vào những khoảnh khắc đó mặc dù đồng tiền đã len lỏi đến tận mọi ngóc ngách, ngõ hẻm nhưng đã không thể chạm đến hạnh phúc. Hạnh phúc là những thời khắc con người ta trở nên trong lành, thanh khiết, không toan tính, tính toán chuyện vật chất.

Cuộc sống ngắn ngủi, con người ta lại mãi chạy theo đồng tiền. Vậy đồng tiền có mua được tuổi xuân, nhiệt huyết và sự bất tử? Cho dù y học ngày nay phát triển như thế nào, với đồng tiền ta xây dựng cơ sở vật chất tốt nhất, loại thuốc tốt nhất, điều trị hiện đại nhất cũng không giữ chân được thời gian. Bữa cơm thịt cá ê hề trong căn nhà sang trọng, những thành viên hờ hững với bữa ăn, không có một tiếng nói cười, nếu có chỉ là những lời trách mắng, chửi rủa có sung sướng hơn mâm cơm đạm bạc, gia đình quây quần bên nhau, đầm ấm, hạnh phúc.

Nếu con người ta quay ngược trở lại thời cổ đại nhưng vẫn giữ nếp sống, nếp nghĩ như bây giờ, liệu con người có thể tồn tại không có sự có mặt của đồng tiền. Tổ tiên ta xưa cũng đã tồn tại và phát triển đấy thôi. Nhưng với con người của thời hiện đại có lẽ không dễ dàng , họ đã quá quen với lối sống hiện đại, chạy theo đồng tiền, lối nghĩ “có tiền mua tiên cũng được”, họ đã chạy quá nhanh theo đồng tiền mà ngu ngốc bỏ phí những khoảnh khắc hạnh phúc tuyệt vời, vô giá mà họ không phải tốn một xu nào.

Tuy nhiên, không thể phủ nhận giá trị của đồng tiền. Chúng ta là con người của thời đại mới, thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Không có phương tiện tiền bạc, ta khó lòng đạt được mục đích. Bản thân những học sinh, để ngồi ở ghế nhà trường, tiếp thu tri thức để sau này nên người phải đóng học phí.

Bệnh nhân muốn khoẻ mạnh phải điều trị, thuốc thang, phải thanh toán viện phí. Doanh nhân muốn phát triển, mở rộng công ty phải đầu tư vốn… Những hoạt động đó không bị đồng tiền chi phối mà sử dụng đồng tiền đúng chức năng giá trị, chuyển tiếp từ thứ này sang một thứ tốt hơn trên phương tiện tiền bạc.

Đã từ rất lâu, đồng tiền thâm nhập vào thế giới con người, giúp đỡ con người nhưng cũng điều khiển con người. Giăng-van-giăng bị bỏ tù chỉ vì ăn trộm một chiếc bánh mì cho cháu. Chị Dậu bán con, bán chó lấy mấy đồng cắc về chuộc chồng… Tất cả chẳng phải đều vì đồng tiền, đồng tiền không sai khiến họ, đồng tiền sai khiến kẻ khác dồn ép họ, buộc họ vào bước đường cùng.

Đồng tiền là con dao hai lưỡi, mua hạnh phúc và cũng giết chết hạnh phúc. Liệu có hạnh phúc được khi dạ dày lép kẹp, tâm trí chỉ nghĩ đến miếng ăn, và khi nghĩ đến miếng ăn, miếng ăn choán toàn bộ suy nghĩ, không còn chỗ cho điều gọi là hạnh phúc.Gia đình hạnh phúc ấm êm và không bao giờ phải lo nghĩ vấn đề tiền bạc nhưng sẽ sao nếu vấn đề cơm áo gạo tiền xuất hiện thường nhật trong những bưa ăn, cuộc trò chuyện. Sự bon chen, tính toán đời thường, tính thực dụng che đi cái hạnh phúc ngọt ngào mà mỏng manh.

Ta không phủ nhận đồng tiền và cũng không phủ nhận hạnh phúc. Đồng tiền hay những giá trị vật chất, hạnh phúc hay những giá trị tinh thần đều không thể thiếu đối với con người và cuộc sống. Thiếu một trong hai, con người không thể tồn tại hoặc tồn tại không đúng nghĩa.

Hiểu một cách đơn giản thì “tiền tài” ở đây là tiền bạc, là của cải vật chất nói chung; còn “hạnh phúc” là chỉ sự sung sướng về tinh thần trong cuộc sống. Điều đó có nghĩa là để có được một cuộc sống tốt đẹp thì buộc mỗi con người phải có được: Tiền tài và hạnh phúc.

Vậy hiểu một cách sâu xa hơn thì “tiền tài” là gì? “hạnh phúc” là gì? Và chúng có quan hệ với nhau như thế nào? Như chúng ta đã biết, trong xã hội hiện đại ngày nay thì vật chất là “điều kiện cần” để duy trì cuộc sống, và “hạnh phúc” là “điều kiện đủ” để làm cho cuộc sống đó tốt đẹp hơn và có ý nghĩa hơn. Cho nên, “tiền tài” là cuộc sống vật chất, là cơ sở ban đầu để bắt nguồn, để khởi đầu cho các bước đi tiếp theo của mỗi người. Và “hạnh phúc” là một “chất xúc tác” cần thiết, không thể thiếu để dẫn đến những thành công.

Tuy nhiên, không phải lúc nào “tiền tài” cũng là tất cả. Nó cũng có những mặt tích cực và tiêu cực của nó. Bởi bản chất của mỗi vấn đề đều luôn tồn tại hai mặt. Cũng như con người được tạo nên bởi hai phần: Phần con và phần người. Bởi thế, ai cũng có “cái tôi” đầy ham muốn chế ngự sẵn trong người, nên ai cũng có lòng tham, ai cũng muốn mình có thật nhiều tiền, muốn mình thật giàu có để thỏa mãn mọi sở thích, mọi nhu cầu… và có thể giúp đỡ những người khó khăn hơn, đồng thời để tạo điều kiện cho mình phát triển hơn nữa.

Đơn giản, nếu như bạn muốn có một chiếc xe máy, một ngôi nhà đẹp… mà trong tay bạn không có tiền, thì đó chỉ là một ước muốn viển vông. Khi bạn đã có tiền, rất nhiều tiền thì bạn sẽ làm được rất nhiều việc. Bạn có thể đi du lịch nhiều nơi, có thể mua sắm mọi thứ bạn thích. Hơn thế nữa, bạn sẽ có cơ hội giúp đỡ người khác – những người nghèo khổ, người gặp khó khăn … Lúc ấy, bạn sẽ làm được tất cả những việc mà khi không có tiền, bạn không thể làm được.

Tuy nhiên, khi đã có tiền rồi, bạn cũng cần có kế hoạch chi tiêu cho hợp lí, không nên tiêu bừa bãi vào những việc chẳng đáng tiêu, không nên “vung tay quá trán”. Bởi ai có thể biết trước được tương lai mình sẽ ra sao? Đời người “lên voi xuống chó” là điều tất yếu. Mặt khác, tâm lí của những kẻ lắm tiền là thường muốn thử tất cả những cái lạ nhất, “mốt” nhất, “sành điệu” nhất. Nên đôi khi, tiền bạc lại có thể làm tha hóa, làm hư hỏng con người, thậm chí là dẫn họ tới con đường phạm pháp. Và rồi, chính bản thân bạn sẽ đưa bạn vào chỗ sa ngã, nhấn chìm bạn vào đống bùn nhơ, hủy hoại cuộc đời, hủy hoại tương lai của bạn. Chính vì thế, dù là người giàu có, hay người nghèo túng, bạn cũng hãy sống lạc quan lên, và bạn phải biết rằng: Tiền không phải là tất cả.

Còn “hạnh phúc” – nó thuộc về đời sống tinh thần, nó là sự thanh thản trong cuộc sống, thoải mái trong công việc, là niềm tin và là hi vọng… Một khi con người có được hạnh phúc thì họ sẽ sống tốt, sống có ý nghĩa và luôn vươn tới những cái tốt đẹp hơn. Hạnh phúc sẽ là chỗ dựa vững chắc về mặt tinh thần để bạn có một động lực hoàn thành tốt mọi việc và tạo ra những thành công nối tiếp thành công. Tuy mỗi người đều có một hoàn cảnh riêng, không ai giống ai, có những niềm hạnh phúc rất riêng, rất độc lập, nhưng chúng đều giống nhau ở chỗ là làm cho người ta thêm yêu cuộc sống, yêu công việc mình làm và luôn muốn hoàn thành nó một cách tốt nhất. Đồng thời, khi có được một niềm hạnh phúc dù chỉ là rất nhỏ bé cũng làm cho người ta thấy “hưng phấn” hơn và cố gắng để làm cho niềm “hạnh phúc” đó được nhân lên mãi.

Nhưng, liệu hạnh phúc sẽ có không nếu như thiếu đi “tiền bạc”? Vâng, để có được một niềm hạnh phúc cho mình thật không phải đơn giản, mặc dù nhiều khi “hạnh phúc” không hề xuất phát từ vật chất. Liệu bạn sẽ có được một niềm hạnh phúc trọn vẹn không, nếu như cuộc sống của bạn quá ư thiếu thốn? Một gia đình có thể thực sự vui vẻ, thực sự hạnh phúc và có nhiều thời gian quan tâm đến nhau không? Nếu như họ sống trong cảnh, “ăn bữa nay lo bữa mai”. Khi không có tiền thì sẽ không có ăn, mặc … rồi có thế sẽ đẩy người ta vào con đường bất chính, trộm cắp, lưu manh … để giành giật lấy “miếng cơm manh áo” trong lúc cùng quẫn nhất.

Tuy nhiên, không phải lúc nào “tiền tài” cũng tạo nên “hạnh phúc”, không phải “có tiền mua tiên cũng được”. Trong cuộc sống mỗi con người, thì tiền bạc chỉ có thể mua được vật chất, danh vọng, địa vị chứ không mua được tình cảm, không mua được niềm hạnh phúc trọn vẹn. “Tiền tài” nào có thể mua được tình yêu, mua sao được lòng nhân ái … Những người có nhiều tiền nhiều khi lại không có được hạnh phúc xứng với “đồng tiền” của họ. Hay có người chỉ vì tiền mà làm mất đi “hạnh phúc chân chính” … Vì thế, cho nên “tiền tài” chỉ tạo nên “hạnh phúc” khi con người biết chia sẻ nó cho những người khác, nghèo khổ … khi con người biết kìm hãm lòng tham, trân trọng những niềm vui dù là nhỏ bé nhất. Bởi đôi khi, hạnh phúc chỉ là: “Làm cho một nụ cười nở trên môi một người”. Giống như, chỉ nhờ “bát cháo hành”, lòng bao dung của thị Nở đã làm cho “con quỷ dữ” trong Chí Phèo chết đi, khiến hắn muốn trở lại làm người lương thiện, để được sống và được yêu, được đối xử theo đúng bản chất một con người.

Theo cuộc điều tra mang tính toàn cầu của TV Networks International trong tổng số 5400 người trẻ đến từ 14 quốc gia phát triển thì chỉ có 43% tỏ ra hạnh phúc với cuộc sống hiện tại của mình. Giới trẻ Ấn Độ là những người hạnh phúc nhất trong khi Nhật Bản đứng cuối bảng xếp hạng với chỉ 8% cảm thấy dễ chịu với những gì đang diễn ra. Kết quả điều tra này có thể cho chúng ta thấy được nhiều điều dáng suy ngẫm. Một trong những điều căn bản đó là mối quan hệ không tương xứng giữa tiền tài và hạnh phúc, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của mỗi con người, đặc biệt là những người trẻ.

Chúng ta đang sống trong một xã hội văn minh nơi giá trị vật chất được xem như ngang bằng với những giá trị tinh thần – đã qua rồi cái thời của Balzac, Vũ Trọng Phụng, nơi đồng tiền chiếm vị trí độc tôn và có sức mạnh thống lĩnh, kiểm soát, thậm chí làm biến đổi những thước đo xã hội. Nhưng hãy giật mình ngẫm nghĩ câu nói này, nó vẫn không xa lạ với hiện tại: Không có Giới, Phật, chỉ có đồng tiền là đáng kính thờ vì nó sai khiến được mọi người, ai ai cũng phải kính thờ nó mới sống được. Lương tâm à? Chưa bằng đồng tiền. Giời Phật à? Còn kém đồng tiền. Chỉ có đồng tiền là ai ai cũng phải kính thờ, chi có những cách xoay tiền là đáng cho người ta tụng niệm (trích kịch Không một tiếng vang (1931) – Vũ Trọng Phụng). Đồng tiền luôn có một sức mạnh ghê gớm trong bất kì hoàn cảnh nào, thời đại nào. Không hiếm những trường hợp chỉ vì đồng tiền mà con người sẵn sàng bán rẻ nhân cách, làm những chuyện phi pháp, làm tay sai cho kẻ xấu. Tại sao tiền lại có ma lực đến vậy? Bởi vì nó giúp ta thoả mãn gần như tất cả những nhu cầu về vật chất và tinh thần, tạo ra những giá trị về nhân phẩm, văn hoá và tình nghĩa. Tiền còn là thước đo giá trị con người. Anh càng giàu có thì cuộc sống anh càng sung sướng, phong phú, đầy đủ, vô hình chung trong mắt người khác anh cùng trở nên cao sang, quyền quý và được họ nể trọng; anh cứ thế tiến dần đến những nấc cao của danh vọng. Nhưng danh vọng có bao giờ đủ? Lòng tham con người có bao giờ cạn? Lợi dụng điều đó, đồng tiền đã nhanh chóng chế ngự, quyến rũ, mê hoặc một số người không có bản lĩnh vững vàng trước cám dỗ vật chất, biến họ thành tay sai đắc lực cho nó. Đó là nguồn gốc của những loại tội phạm mà ta vẫn thường thấy trên phương tiện thông tin đại chúng hằng ngày như: Tham nhũng, buôn lậu, buôn ma túy, đâm thuê, chém mướn, cờ bạc… gây bao thiệt hại nặng nề cho đất nước. Chúng ta cần thừa nhận sức mạnh ghê gớm của đồng tiền – ghê gớm chứ không phải vạn năng. Bởi có một thứ trên đời anh có nhiều tiền đến đâu cũng không thể mua nổi, đánh đổi cả cuộc đời mình cũng không thể có được, đó là những giá trị thuộc về tinh thần như trí tuệ, tình yêu, lòng nhân ái. phẩm chất, óc sáng tạo… và nhất là hạnh phúc.

Ngược lại với tiền – một khái niệm dễ dàng định nghĩa, hạnh phúc là một khái niệm cực kì khó nắm bắt, nó mong manh tựa như những bí ẩn của đời sống tâm hồn. Nhưng đó là điều con người trong xã hội nào cùng hướng đến, bản Tuyên ngôn độc lập của đất nước nào cũng phải có những câu khẳng định quyền vươn tới hạnh phúc chân chính của con người. Vì một cuộc đời chỉ thật sự có ý nghĩa khi cuộc đời đó hạnh phúc. Vậy hạnh phúc là gì? Có thể hiểu đơn giản: Hạnh phúc là trạng thái sung sướng khi hoàn toàn đạt được những điều mình mong muốn. Ở đây, hạnh phúc cần được hiểu theo nghĩa rộng là hạnh phúc trong gia đình, hạnh phúc trong quan hệ bạn bè, hạnh phúc trong cuộc sống hằng ngày. Theo cách hiểu đó, tiền bạc không thể làm cho người ta hạnh phúc, nếu làm được điều ấy, thì thứ hạnh phúc đó chỉ là dục vọng được thỏa mãn về vật chất của một cá nhân ích kỉ, tầm thường. Hạnh phúc thật sự phải là những điều đẹp đẽ, cao thượng, chân thành nằm sâu trong tâm hồn – những tầng sâu không thể dò đến được của chúng ta mà không thế lực nào, kể cả đồng tiền có thể mua chuộc được. Hạnh phúc của một bà mẹ quanh năm tần tảo, không có lấy một ngày nghỉ, không có lấy một chiếc áo mới, để đổi lấy cho con mình được ăn học – bằng bạn bằng bè – có ai hiểu nổi?

Chính vì tình yêu con khiến cho người mẹ quên đi những nỗi nhọc nhằn của mình. Hạnh phúc của một gia đình lao động bình thường, tối tối sum vầy quanh mâm cơm, tiếng cười con trẻ trong veo – thứ hạnh phúc giản dị ấm áp của đời thường mà đánh đổi cả kho vàng cũng không có được. Chúng ta không quên một câu nói nổi tiếng rằng: “Hạnh phúc lớn nhất của đời người là yêu và được yêu. – George Sand”. Vậy cơ sở của hạnh phúc chính là tình yêu. Trên cơ sở ấy, điều xây dựng nên hạnh phúc là tình cảm, là những giá trị mang ý nghĩa xã hội và tinh thần chân chính. Hạnh phúc chính là mục đích cao đẹp của cuộc đời.

Tiền chỉ là phương tiện nhanh chóng và hữu ích đưa ta đến cái đích đẹp đẽ ấy. Đời người chỉ hạnh phúc trọn vẹn khi được thỏa mãn cả về vật chất lẫn tinh thần, vậy đồng tiền gắn vai trò rất lớn. Nó kích thích sự sáng tạo, nỗ lực trong đời sống, là thước đo năng suất lao động, là giải pháp nhanh chóng và hiệu nghiệm cho những trường hợp khó khăn, quẫn bách. Một tháng lương được trả cao làm cho con người ta hăng hái làm việc hơn bình thường. Một suất học bổng có thể khiến cho một cậu học sinh nghèo được đi du học. Một số tiền lớn cho ca phẫu thuật có thể cứu sống được một mạng người… Tuy nhiên, nếu coi đồng tiền là mục đích cao nhất của cuộc đời, làm tất cả để có được nó thì sớm muộn gì anh cũng phải trả giá rất đắt: Bị huỷ hoại nhân cách, gia đình tan nát, mọi người khinh bỉ, xa lánh,… Chẳng ai muốn sống một cuộc đời như thế cả. Bởi vậy, phải tạo được sự hài hoà giữa tiền tài và hạnh phúc, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, trên cơ sở đó hạnh phúc được xây dựng nên mới vững chắc.

Advertisement

Để làm được điều này, mỗi con người trong chúng ta phải luôn cố gắng, phấn đấu trong cuộc sống, trong lao động và học tập, trong rèn luyện đạo đức để trở thành một con người có trí tuệ, tài năng, nhân cách, đồng thời có bản lĩnh vững vàng trước những cám dỗ ngoài xã hội. Bởi có thể khẳng định rằng: “Trong các con đường dẫn đến hạnh phúc, không có con đường tắt, chỉ có một con đường chắc chắn hơn cả là lao động và kiên trì” — L.Raybo.

Tiền bạc thường được coi là một thước đo quan trọng để đánh giá thành công và năng lực của một người. Tuy nhiên, quan niệm này đang dần được thay đổi và chúng ta cần điều chỉnh quan niệm về tiền bạc. Thay vì coi tiền là thước đo năng lực, chúng ta nên nhìn nhận tiền bạc như một công cụ hỗ trợ để đạt được những mục tiêu và sự hạnh phúc trong cuộc sống.

Đầu tiên, tiền bạc không phải là một chỉ số đánh giá về giá trị của một con người. Một người có nhiều tiền không nhất thiết là một con người tốt và có năng lực, bởi vì tiền bạc không thể đo đạc được các giá trị về đạo đức, tình cảm và sự thông minh của một người. Thay vào đó, chúng ta nên đánh giá một người dựa trên những phẩm chất và kỹ năng mà họ sở hữu.

Thứ hai, tiền bạc chỉ là một công cụ để đạt được những mục tiêu trong cuộc sống, như vật chất, tình cảm hay giáo dục. Tiền bạc không thể mua được hạnh phúc và sự thỏa mãn trong cuộc sống, chỉ có những giá trị vô hình và không thể đếm được mới có thể đem lại sự thoải mái và trọn vẹn. Chúng ta cần nhìn nhận việc có tiền bạc là một lợi thế để thực hiện những hồi ức, ước mơ và kế hoạch tiên tiến hơn, thay vì xem tiền bạc là điều kiện tiên quyết để đạt được mục tiêu cuối cùng.

Cuối cùng, để điều chỉnh quan niệm này, chúng ta cần truyền tải thông điệp cho những người xung quanh ta. Để chia sẻ quan niệm và kiến thức về tiền bạc, chúng ta có thể dùng những thí dụ sống động từ cuộc sống hiện thực để minh họa và thuyết phục người khác. Chúng ta cũng nên cung cấp các lời khuyên, hướng dẫn và hỗ trợ cho người thân của mình để họ biết cách sử dụng tiền bạc một cách hợp lý và hiệu quả.

Tóm lại, tiền bạc không nên là thước đo năng lực và giá trị sống của con người. Chúng ta cần nhìn nhận tiền bạc như một công cụ hỗ trợ để đạt được những mục tiêu và sự hạnh phúc trong cuộc sống. Cùng nhau, chúng ta có trách nhiệm truyền tải thông điệp này cho những người xung quanh để cùng nhau xây dựng một quan niệm và thái độ đúng đắn về tiền bạc trong xã hội.

Thỏa mãn về vật chất và đời sống tình cảm hạnh phúc là hai nhu cầu lớn nhất của con người. Có thể nói trọn cuộc đời người luôn xoay quanh hai giá trị ấy. Bởi thế, tiền bạc và hạnh phúc có mối quan hệ chặt chẽ. Thiếu một trong hai thứ ấy, con người sẽ không thể sống trọn vẹn cuộc đời ý nghĩa.

Tiền bạc là phương tiện để mua bán, trao đổi. Nói rộng ra, nó là của cải vật chất mà con người có được. Tiền bạc tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau như: vàng bạc, tiền giấy, tài khoản hay các vật chất có giá trị khác. Hạnh phúc là trạng thái hoàn toàn mãn nguyện trong tâm hồn về mọi phương diện trong cuộc sống. Hạnh phúc là một khát vọng tự nhiên và chính đáng của con người.

Giữa tiền bạc và hạnh phúc có mối quan hệ khăng khít với nhau. Tiền là phương tiện gây dựng hạnh phúc. Hạnh phúc là giá trị quan trọng cần hướng đến trong cuộc đời con người. Tiền bạc giúp thỏa mãn những nhu cầu vật chất tối thiểu của con người trong cuộc sống như thực phẩm, áo quần, nhà ở, dịch vụ chăm sóc sức khỏe… Nếu những nhu cầu tối thiểu này không được đáp ứng, chúng ta sẽ không thể sống bình thường được.

Tiền bạc giúp sống tinh thần thoải mái, không lâm vào cảnh túng thiếu, nợ nần, nghĩa là tránh được nỗi lo lắng về tài chính; và khi cần, nó có thể giúp ta chia sẻ, tương trợ cho những ai đang gặp hoàn cảnh khó khăn, khổ sở. Chính điều này mới mang lại cho ta cảm giác hạnh phúc.

Tiền bạc giúp ta tự tin thực hiện được những mong muốn của mình, giúp ta cảm thấy được tôn trọng, được độc lập, có bạn bè và công việc ưa thích. Đối với những người có xu thế hướng ngoại, thích khám phá và hưởng thụ cuộc sống bên ngoài, thích hội họp, ngoại giao, coi tiền bạc là một giá trị của cuộc đời thì càng kiếm được nhiều tiền họ càng hạnh phúc. Khi con người ta hạnh phúc, tinh thần thoải mái, đầu óc sáng suốt sẽ nảy sinh nhiều ý tưởng hay, nhiều kế hoạch thiết thực, và do đó sẽ kiếm được nhiều tiền hơn.

Tiền bạc và hạnh phúc không lệ thuộc với nhau. Tiền bạc không mang lại hoặc không thể mua hạnh phúc trọn vẹn. Hạnh phúc không tùy thuộc vào số tiền ta nắm trong tay, mà ở những cảm nhận ta có được qua từng ngày sống của mình. Đối với những người sống nội tâm, chủ trương đi theo lối sống tinh thần thanh cao chẳng màng đến những lợi lộc vật chất tầm thường, đam mê trong công việc, coi công việc là giá trị cuộc sống, thì việc kiếm nhiều tiền bạc không phải là niềm hạnh phúc của họ, thậm chí nó còn trở thành một nỗi phiền toái.

Nếu làm việc chỉ vì tiền thì công việc đó mất đi tính thú vị và còn tạo nên sự mặc cảm, dằn vặt và do đó không còn cảm thấy hạnh phúc. Nếu cứ hùng hục làm việc bất kể ngày đêm để theo đuổi giàu sang và danh vọng thì cũng sẽ chẳng bao giờ hiểu được cái giá trị của hạnh phúc đích thực. Bởi một khi có tiền rồi, chúng ta vẫn muốn có nhiều hơn nữa vì ít có ai cảm thấy hài lòng với những gì mình đang nắm giữ trong tay.

Tiền bạc cũng tạo nên những áp lực nặng nề, gây những stress và làm cho các mối quan hệ của con người trở nên tồi tệ, đôi khi làm cho nhiều người trở thành cô đơn, khổ sở. Không nhất thiết cứ phải có thật nhiều tiền bạc, chỉ cần say mê với một thú vui tinh thần nào đó, bạn cũng đã tìm thấy được nhiều hạnh phúc. Tiền là gốc rễ của quỷ dữ, nó có thể phá hủy bất cứ mối quan hệ nào trong xã hội, dù là bạn bè, gia đình, đồng nghiệp hay vợ chồng.

Hạnh phúc không phải là chúng ta có bao nhiêu tiền, cũng không phải những tươi đẹp trôi qua trong quá khứ hay những hi vọng hão huyền vào tương lai. Hạnh phúc thật sự là ở chỗ ta sống với hiện tại và ta đang có hạnh phúc như thế nào. Chính tiền bạc đã tạo nên sự bất bình đẳng trong mối quan hệ giữa người và người, triệt tiêu tình người, làm con người trở nên xa lạ với nhau, do người có tiền tự kiêu, người không có tiền tự ti, tự ái.

Tiền bạc là nguyên nhân của mọi xích mích, bất hòa triền miên trong gia đình: tranh giành của cải nhau giữa cha mẹ và con cái, giữa anh em, giữa vợ chồng… Trong cuộc sống, có nhiều người quá đề cao tiền bạc mà xem thường tình nghĩa. Vì tiền bạc họ bất chấp thủ đoạn để đoạt lấy được nó. Họ cố thâu tóm thật nhiều tiền bạc và sống xa hoa, lãng phí. Những người như thế thật đáng chê trách.

Cần có được một thái độ đúng đắn đối với tiền bạc: Phải nhận ra được ranh giới và sự khác biệt giữa muốn và cần. Chúng ta cần tiền bạc, chứ không phải lúc nào cũng muốn tiền bạc. Không nên đánh đồng giá trị tài chính với giá trị của chính mình. Coi tiền bạc là phương diện chứ không phải mục đích của con người của cuộc đời. Cũng đừng để tiền bạc trở thành phương tiện điều khiển chính trong quan hệ với mọi người. Hạnh phúc có thể làm nên tiền bạc. Tiền bạc chưa hẳn đã mua được hạnh phúc trong cuộc đời này.

Cũng không nên quan niệm phi thực tế: Một túp lều tranh hai trái tim vàng. Cuộc sống luôn cần có tiền bạc để giữ vững đời sống tinh thần. Không ai có thể tồn tại một cách tự nhiên mà có được hạnh phúc đích thực.

Để sống cuộc đời có ý nghĩa hãy biết cân đối giữa tiền bạc và tình cảm. Không vì lòng tham tiền bạc mà đánh đổi cả hạnh phúc của mình và của người khác. Cũng không nên vì xem trọng tình cảm mà xem thường giá trị của tiền bạc.

Văn Mẫu Lớp 8: Dàn Ý Nghị Luận Hãy Nói Không Với Các Tệ Nạn Xã Hội (4 Mẫu) Lập Dàn Ý Nghị Luận Xã Hội Lớp 8

Các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma túy, mại dâm, mê tín dị đoan… đang diễn ra hết sức phức tạp ở hầu hết các địa phương trong cả nước. Vậy mời các em cùng tải miễn phí để có thêm nhiều vốn từ, nhanh chóng hoàn thiện bài viết số 7 lớp 8 đề 3 của mình.

1. Mở bài

Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề nói không với tệ nạn xã hội bằng hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp.

2. Thân bài

a. Giải thích

Tệ nạn xã hội là những thói hư tật xấu ảnh hưởng đến tiền bạc, sức khỏe thậm chí là cả mạng sống của người đó và còn có nhiều nguy cơ gây hại cho những người xung quanh. Tệ nạn xã hội bao gồm: cờ bạc, ma túy, mại dâm, mê tín dị đoan,… diễn ra phức tạp ở hầu hết các địa phương và rộng rãi trên cả nước.

b. Phân tích

Số người rơi vào tệ nạn xã hội ngày càng tăng, lứa tuổi chủ yếu là các bạn thanh niên đang trong độ tuổi lao động và diễn biến phức tạp ở khắp các tỉnh thành với những biến tướng và những dạng khác nhau rất khó kiểm soát.

Nguyên nhân của việc gia tăng tệ nạn xã hội đầu tiên là do ý thức của con người còn kém, do chịu sự tác động, khiêu khích từ yếu tố bên ngoài,…

Tệ nạn xã hội gây tốn kém về của cải vật chất, tha hóa về đạo đức; thiệt hại về sức khỏe: sức khỏe nhanh giảm sút thậm chí là chết người và khiến con người lệ thuộc vào tệ nạn đó. Nó còn gây mất trật tự và làm giảm lối sống văn hóa tại địa phương nơi có tệ nạn xã hội.

Để hạn chế sự gia tăng của các tệ nạn xã hội, bản thân mỗi người cũng như địa phương, cơ quan nhà nước cùng chung tay ngăn chặn những hành vi vi phạm tệ nạn xã hội góp phần giúp xã hội văn minh hơn.

Mỗi bạn trẻ khi còn ngồi trên ghế nhà trường cần có những nhận thức được tác hại to lớn của tệ nạn xã hội đối với đời sống, tránh xa những tệ nạn xã hội và hướng đến những điều tốt đẹp nhất để trở thành công dân có ích.

d. Phản đề

Tuy nhiên trong xã hội vẫn còn có nhiều người có lối sống thanh cao, tốt đẹp theo chuẩn mực đạo đức của xã hội,… Những người này xứng đáng là tấm gương để chúng ta học tập và noi theo.

3. Kết bài

Khái quát lại vấn đề nghị luận: Hãy nói không với tệ nạn xã hội; đồng thời rút ra bài học cho bản thân.

I. Mở bài:

Nêu khái quát vấn đề để dẫn vào bài (VD: Đất nước chúng ta đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hóa để tiến tới một xã hội công bằng dân chủ văn minh. Để làm được điều đó, chúng ta phải vượt qua các trở ngại, khó khăn. Một trong những trở ngại đó là các tệ nạn xã hội. Và đáng sợ nhất chính là ma tuý, mối nguy hiểm không của riêng ai).

II. Thân bài

1. Giải thích thuật ngữ

– Tệ nạn xã hội: Tệ nạn xã hội là những hành vi sai trái, không đúng với chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức, pháp luật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng. Tệ nạn xã hội là mối nguy hiểm, phá vỡ hệ thống xã hội văn minh, tiến bộ, lành mạnh. Các tệ xã hội thường gặp là: Tệ nạn ma tuý, mại dâm, đua xe trái phép…và trong đó ma túy là hiện tượng đáng lo ngại nhất, không chỉ cho nước ta mà còn cho cả thế giới.

– Ma tuý: Là một chất gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp. Khi ngấm vào cơ thể con người, nó sẽ làm thay đổi trạng thái, ý thức, trí tuệ và tâm trạng của người đó, khiến người sử dụng có cảm giác lâng lâng, không tự chủ được mọi hành vi hoạt động của mình, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ.

– Ma tuý tồn tại ở rất nhiều dạng như hồng phiến, bạch phiến, thuốc, lắc … dưới nhiều hình thức tinh vi khác nhau như uống, chích, kẹo…

2. Làm rõ tác hại của ma tuý

a. Đối với cá nhân người nghiện (có thể trình bày theo ba vấn đề: Sức khỏe, tinh thần, thể chất)

Gây suy giảm hệ miễn dịch, giảm khả năng đề kháng làm cho người bệnh dễ mắc các bệnh khác;

Ma tuý chính là con đường dễ dàng đi đến những căn bệnh nguy hiểm dễ lây lan đặc biệt là HIV/AIDS;

Người nghiện ma tuý sức khoẻ yếu dần, không có khả năng lao động, trở thành gánh nặng cho gia đình, xã hội.

Nghiện ma túy khiến cho con người u mê, tăm tối; từ người khoẻ mạnh trở nên bệnh tật, từ đứa con ngoan trong gia đình trở nên hư hỏng, từ công dân tốt của xã hội trở thành đối tượng cho luật pháp. Khi đói thuốc, con nghiện sẽ làm bất cứ điều gì kể cả tội ác: Cướp giật, trộm cắp, giết người…

b. Đối với gia đình

Làm cho kinh tế gia đình suy sụp

Làm tan vỡ hạnh phúc gia đình …

c. Đối với xã hội

Là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác như trộm cắp, cướp giật, mại dâm … làm cho an ninh xã hội bất ổn.

Làm hao tiền tốn của của quốc gia (do phải phòng chống, lập trại cai nghiện, …)

Những con nghiện mà không được gia đình chấp nhận sẽ đi lang thang làm mất vẻ mỹ quan, văn minh lịch sự, vật vờ trên những con đường của xã hội.

Làm suy giảm giống nòi …

3. Từ việc nêu và phân tích tác hại cần khẳng định: Phải nói “không” với ma tuý

4. Biện pháp(Sau khi khẳng định nói “không” cần dẫn để nêu lên biện pháp phòng chống ma tuý):

Có kiến thức về tác hại, cách phòng tránh ma tuý, từ đó tuyên truyền cho mọi người về tác hại của nó.

Hãy tránh xa với ma túy bằng mọi cách, mọi người nên có ý thức sống lối sống lành mạnh, trong sạch, không xa hoa, luôn tỉnh táo, đủ bản lĩnh để chống lại mọi thử thách, cám dỗ của xã hội.

Nhà nước cần phải có những hình thức xử phạt nghiêm khắc, triệt để đối với những hành vi tàng trữ, buôn bán vận chuyển trái phép ma tuý.

Đồng thời cũng phải đưa những người nghiện vào trường cai nghiện, tạo công ăn việc làm cho họ, tránh những cảnh “nhàn cư vi bất thiện”, giúp họ nhanh chóng hoà nhập với cuộc sống cộng đồng, không xa lánh, kì thị họ.

Tham gia các hoạt động truyền thống tệ nạn xã hội …

III. Kết bài:

Rút ra kết luận: Ma túy kinh khủng là thế nên mỗi chúng ta phải biết tự bảo vệ mình, tránh xa những tệ nạn xã hội, tránh xa ma túy.

1. Mở bài

Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: tệ nạn xã hội. (Một trong những vấn đề nóng bỏng nhận được sự quan tâm của toàn dư luận nhiều năm nay chính là vấn đề tệ nạn xã hội).

2. Thân bài

a. Thực trạng

Tệ nạn xã hội bao gồm: cờ bạc, ma túy, mại dâm, mê tín dị đoan,… diễn ra phức tạp ở hầu hết các địa phương và rộng rãi trên cả nước.

Số người rơi vào tệ nạn xã hội ngày càng tăng, lứa tuổi chủ yếu là các bạn thanh niên đang trong độ tuổi lao động.

b. Nguyên nhân

Chủ quan: do ý thức của con người còn kém, hiểu biết hạn hẹp không biết hết được tác hại của những tệ nạn; do tính hiếu thắng muốn chứng minh bản thân mình là một “dân chơi” của một số bộ phận giới trẻ,…

Khách quan: do bị người khác tiêm nhiễm vào đầu và làm quan trọng hóa, thần tượng hóa những tệ nạn khiến nó trở nên tốt đẹp, do môi trường xung quanh nhiều người mắc vào tệ nạn và do không được dạy dỗ chi tiết về những tệ nạn đó,…

c. Hậu quả

Tốn kém về của cải vật chất (tốn kém tiền để mua ma túy, mại dâm,…), dẫn đến tha hóa về đạo đức vì những hành vi: trộm cắp, cướp giật, thậm chí là giết người.

Gây thiệt hại về sức khỏe: người sử dụng chất gây nghiện sức khỏe nhanh giảm sút thậm chí là chết người.

Khiến con người lệ thuộc vào tệ nạn đó (ma túy).

Gây mất trật tự và làm giảm lối sống văn hóa tại địa phương nơi có tệ nạn xã hội.

d. Giải pháp

Bản thân mỗi người cần nâng cao nhận thức về tác hại của các tệ nạn xã hội, tránh xa những tệ nạn đó và giữ cho bản thân mình một lối sống trong sạch.

Địa phương cần tuyên truyền, dạy dỗ người dân về những tai hại của tệ nạn đồng thời đưa ra các giải pháp để làm giảm tệ nạn cũng như ngăn chặn chúng và xử lí nghiêm những hành vi tệ nạn xã hội.

3. Kết bài

Khái quát lại tác hại của tệ nạn xã hội đồng thời rút ra bài học, liên hệ bản thân.

1. Mở bài

Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: tệ nạn cờ bạc.

Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn cách viết mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân mình.

Advertisement

2. Thân bài

a. Khái niệm

Cờ bạc là những may rủi trong tiền bạc, là một cách kiếm tiền ăn may, nhưng không phải kiếm tiền bằng chính công sức, mồ hôi và nước mắt mà chỉ là bằng vận may của mình.

Cờ bạc còn được xem là một trò chơi kích thích, gây nghiện, những ai dính vào tệ nạn này đều bị sức hút của nó mê hoặc.

b. Thực trạng

Cờ bạc được diễn ra dưới nhiều hình thức như: đánh lô, đánh đề, tổ tôm, cá độ đá banh…

Tệ nạn cờ bạc hiện nay diễn ra rất nhiều nơi, nhiều khu vực rất khó kiểm soát. Từ việc chơi những canh bạc nhỏ sẽ dẫn đến những canh bạc lớn.

Những người tham gia thường ở trong những độ tuổi từ thanh thiếu niên đến trung niên, và đặc biệt thường là những người đàn ông, con trai.

Hiện nay, với sự phát triển của Internet, hình thức đánh cờ bạc ngày càng tinh vi hơn, đó là đánh bài bạc qua mạng.

c. Nguyên nhân

Chủ quan: do ý thức của con người chưa cao, chưa hiểu về tác hại của cờ bạc, thậm chí có những người hiểu về tác hại của nó nhưng vẫn tham gia vì để muốn chứng minh bản thân mình hoặc muốn “gỡ lại những gì đã mất”.

Khách quan: do bị người khác lôi kéo, dụ dỗ,…

d. Hậu quả

Gây thiệt hại nặng nề về tiền của khiến nhiều người rơi vào cảnh nợ nần, bần cùng.

Chia rẽ tình cảm gia đình: gia đình phản đối đánh bạc sẽ gây ra xung đột, cãi vã.

Ảnh hưởng đến nhân cách, suy nghĩ, hành động của người tham gia đánh bạc,…

e. Giải pháp

Mỗi cá nhân tự ý thức được tác hại to lớn của cờ bạc và tránh xa chúng.

Gia đình và nhà trường cần xây dựng tư tưởng cho con em mình ngay từ nhỏ.

Nhà nước cần đặt ra nhiều quy định nghiêm khắc hơn.

3. Kết bài

Khẳng định lại tác hại của tệ nạn cờ bạc và rút ra bài học cho bản thân.

Văn Mẫu Lớp 12: Đoạn Văn Nghị Luận Về Đức Hi Sinh (Dàn Ý + 15 Mẫu) Viết Đoạn Văn Về Đức Hi Sinh Thầm Lặng

Viết đoạn văn về đức hi sinh gồm có dàn ý và 15 đoạn văn hoàn chỉnh hay nhất được đánh giá cao. Với dàn ý chi tiết bài văn được xây dựng đầy đủ, mạch lạc, rõ ràng từng phần các bạn lớp 12 có thể dễ dàng lựa chọn tham khảo cho bài văn của mình.

Dàn ý viết đoạn văn về đức hi sinh

Viết đoạn văn nghị luận về đức hi sinh

Viết đoạn văn về sự hy sinh thầm lặng của mẹ

Đoạn văn về đức hi sinh

Viết đoạn văn về đức tính hi sinh

1. Mở đoạn

Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận: Đức hi sinh trong cuộc sống

2. Thân đoạn

* Giải thích:

“Đức hi sinh” là sự nhường nhịn, chấp nhận sự thiệt thòi về bản thân vì lợi ích của người khác.

Người có đức hi sinh là luôn suy nghĩ vì người khác, đó còn là những người sẵn sàng giúp đỡ người khác mà không suy tính thiệt hơn, đặt lợi ích của người khác lên trên lợi ích của bản thân mình.

* Ý nghĩa của đức hi sinh:

Mang đến những cơ hội sống tốt đẹp cho người khác.

Lan tỏa những điều tốt đẹp, ý nghĩa trong cuộc sống.

Người có đức hi sinh sẽ nhận được sự tôn trọng, yêu quý từ những người xung quanh.

* Phản đề:

Có nhiều những người ích kỉ, chỉ biết đến bản thân mà vô cảm trước nỗi đau của đồng loại.

Cũng có những con người sẵn sàng hi sinh lợi ích của người khác để đạt được những lợi ích tầm thường của bản thân.

Hi sinh một cách mù quáng vì người khác, vì những điều không xứng đáng mà bỏ lỡ những cơ hội tốt đẹp của bản thân.

* Bài học

Cần biết yêu thương, biết sẻ chia, đồng cảm với những người kém may mắn hơn mình;

Không quên đi sự giúp đỡ, công lao của những người đã hi sinh vì mình.

3. Kết đoạn

Rút ra kết luận chung

“Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”. Đúng vậy, trong cuộc sống chúng ta muốn có được những điều tốt đẹp thì chúng ta cần phải biết cho đi, yêu thương mọi người. Trong cuộc sống này, vẫn còn có những người âm thầm hi sinh, cống hiến mà không hề đòi hỏi, đây là một đức tính tốt đẹp mà chúng ta cần học tập theo. Đức hi sinh là sự nhường nhịn, chấp nhận phần thiệt thòi hơn về mình (có thể là vật chất, tinh thần hoặc thậm chí là cả mạng sống) để người khác có được cuộc sống và những điều tốt đẹp hơn. Sự hi sinh thầm lặng còn là việc chúng ta giúp đỡ người khác, làm cho họ tốt mà không đòi hỏi công lao. Mỗi chúng ta ai cũng sẽ gặp phải những khó khăn, thử thách nhất định trong cuộc sống của mình. Nếu trong trường hợp đó, có người hi sinh giúp đỡ chúng ta, chúng ta sẽ trở nên tốt hơn. Ngược lại khi người khác gặp hoàn cảnh tương tự, chúng ta có thể giúp đỡ được họ thì hãy cố gắng nhất có thể. Nếu xã hội không có sự hi sinh con người sẽ trở nên ích kỉ, vô cảm chỉ muốn vơ vét những tư lợi về mình, dần dần sẽ dẫn đến tình trạng suy thoái đạo đức, xã hội sẽ đi xuống. Bên cạnh đó, nếu chúng ta sống với đức hi sinh ta sẽ được người khác yêu mến, kính trọng và học tập theo, lan tỏa được nhiều thông điệp tích cực ra cộng đồng. Một thực tế chúng ta có thể nhận ra đó là trong cuộc sống hiện nay vẫn còn nhiều người có tính ích kỉ chỉ biết nghĩ đến bản thân mình và lợi ích của mình mà không quan tâm đến những người xung quanh, cho rằng khi hi sinh là thiệt thòi, là không đáng,… những người này đáng bị phê phán, chỉ trích. Sống trong đời sống, chúng ta cần có một tấm lòng, cần có sự hi sinh cho nhau, cùng giúp nhau tiến bộ, phát triển, như vậy cuộc sống sẽ tốt đẹp và bền vững hơn.

Đã gần 8 năm kể từ ngày thảm kịch chìm phà Sewol xảy ra. Sự mất mát, đau thương của những người ở lại không gì có thể kể xiết. Thế nhưng, cùng với nỗi đau, trong thảm kịch chúng ta vẫn thấy được những câu chuyện thật đẹp về tình thương, về đức hi sinh cao cả. Khi tai họa ập đến, một người thầy giáo đã không do dự mà nhường phao cứu sinh của mình cho những người học trò, nhường đi chính cơ hội được sống của chính mình. Đó là câu chuyện thật buồn nhưng cũng thật đẹp về đức hi sinh. “Đức hi sinh” là việc nhận về mình những thiệt thòi có thể là vật chất hoặc tinh thần để mang đến những điều tốt đẹp hơn cho người khác. Đức hi sinh là kết tinh của tình thương và tấm lòng đồng cảm, ý thức sẻ chia. Sự hi sinh mang đến những cơ hội phát triển và cuộc sống tốt đẹp hơn cho người khác. Người có đức hi sinh sẽ nhận được yêu quý, kính trọng của những người xung quanh, mặt khác, sự hi sinh ấy không bao giờ là vô nghĩa vì nó được mọi người trân trọng, học tập và lan tỏa ra cộng đồng bằng những hành động ý nghĩa. Đáng buồn thay, cuộc sống của chúng ta vẫn tồn tại rất nhiều người sống ích kỉ, vụ lợi, chỉ biết đến bản thân. Cũng có những người luôn hi sinh một cách mù quáng vì người khác mà bỏ lỡ những cơ hội tốt đẹp của bản thân. Để đức hi sinh phát huy được hết ý nghĩa cao đẹp của nó, chúng ta cần có những suy nghĩ và hành động đúng đắn, cần cân bằng giữa hoạt động cho và nhận. Có trách nhiệm với cuộc sống của bản thân là điều đáng quý, mọi hành động nỗ lực, cố gắng vì bản thân đều đáng được trân trọng. Thế nhưng, giữa bộn bề của cuộc sống, bên cạnh việc sống vì mình, chúng ta hãy học cách yêu thương, sẻ chia với những người xung quanh, bởi “Sống vì người khác mới là cuộc sống có ý nghĩa nhất”.

Nếu sự tham lam, vụ lợi khiến cho con người trở nên ích kỉ, thấp hèn thì sự hi sinh vì người khác lại làm cho con người ta trở nên cao thượng, đáng quý. “Đức hi sinh” là việc chấp nhận giúp đỡ, cưu mang người khác dẫu phải nhận về mình những thiệt thòi, mất mát. Trong cuộc sống, chúng ta không tránh khỏi những lúc gặp phải khó khăn, thất bại khiến chúng ta gục ngã, khi ấy sự giúp đỡ của người khác sẽ khiến chúng ta có thêm niềm tin, động lực để vươn lên, chiến thắng hoàn cảnh. Đức hi sinh không chỉ mang đến những điều tốt đẹp cho cuộc sống của người khác mà còn tạo ra sự rung động mạnh mẽ, nó khơi dậy những tình cảm tốt đẹp, chân thành giữa con người với con người. Người có đức hi sinh sẽ nhận được sự tôn trọng, yêu mến của mọi người xung quanh. Đức hi sinh khi được lan tỏa rộng rãi trong xã hội sẽ làm cho cuộc sống của chúng ta trở nên nhân văn, giàu tình thương. Tuy nhiên, đức hi sinh cũng chỉ thực sự có ý nghĩa nếu nó được xuất phát từ những hành động, suy nghĩ đúng đắn, không đi ngược lại với những chuẩn mực đạo đức xã hội, bởi “Hy sinh vì một tư tưởng chắc chắn là cao quý. Nhưng còn cao quý hơn biết bao nhiêu nếu người ta hy sinh vì tư tưởng đúng!” – Henry Louis Mencken.

Mỗi người trẻ chúng ta được sống trong nền hòa bình và tự do như hiện nay là một điều vô cùng may mắn. Nhưng không vì thế mà chúng ta bàng quang với xã hội mà ngay cả trong thời bình, chúng ta cũng cần có trách nhiệm với quê hương đất nước, và noi theo sự hi sinh thầm lặng trong cuộc sống. Sự hi sinh là những hành động, những con người dũng cảm giúp đỡ người khác từ những hành động nhỏ nhất với tình yêu thương chân thành và cũng là những con người luôn có ý thức vươn lên xây dựng một xã hội tốt đẹp. Mỗi chúng ta hãy sống và lấy những con người có phẩm chất tốt đẹp đó làm gương, sống vì người vì đời. Chúng ta ai cũng hiểu rằng xã hội hiện nay có nhiều vấn đề nan giải, có nhiều tiêu cực xảy ra, mỗi con người chỉ cần có ý thức, sống có ích một chút xã hội này sẽ tốt đẹp hơn. Khi mỗi chúng ta sống có ích và trở thành “người hi sinh thầm lặng” sẽ lan tỏa được nhiều thông điệp tích cực ra xã hội, được mọi người yêu quý, nể phục hơn. Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện nay vẫn còn có những người ích kỉ, sống thờ ơ, vô cảm, bàng quang với mọi thứ xung quanh, chỉ biết đến lợi ích của bản thân mình… những người này đáng bị xã hội thẳng thắn phê phán, chỉ trích. Mỗi người có một ước mơ, hoài bão khác nhau, tuy nhiên nếu tất cả cùng cố gắng, biết hi sinh, cho đi mà không mong nhận lại chúng ta sẽ xây dựng được một đất nước vững mạnh, chan chứa tình yêu thương. Không một ai là hoàn hảo, nhưng khi ta biết cố gắng hoàn thiện bản thân và vươn lên phía trước, chúng ta sẽ đạt được những thành quả xứng đáng với công sức bỏ ra.

Những người mẹ ngày đêm tần tảo, vật lộn với cuộc sống mưu sinh, những người cha hằng ngày vẫn vật lộn với gánh nặng trụ cột gia đình, những chiến sĩ nơi hải đảo xa xôi vẫn cầm chắc tay súng….đó là những hi sinh lặng thầm cho tất cả từ nhỏ bé đến lớn lao vô tận. Hy sinh là hành động đánh đổi một thứ quan trọng của bản thân cho một điều gì đó đáng quý hơn, đó là sự quên mình, cống hiến, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp chung, lợi ích chung. Đức hy sinh đòi hỏi con người sẵn sàng san sẻ những quyền lợi về vật chất, tinh thần cho người khác mà không tính toán thiệt hơn, thâm chí còn xả thân vì người khác. Từ những việc làm rất nhỏ như nhường chỗ cho người già, san sẻ cho những người còn khó khăn đến lý tưởng cao đẹp cống hiến hết mình cho Tổ Quốc của những người lính và còn vô số những sự hy sinh thầm lặng khác mà nhờ đó xã hội chúng ta đã phát triển tốt đẹp và bền vững. Nhưng không phải việc làm, hành động nào cũng đáng biểu dương nếu đó là những sự hy sinh giả tạo, nhằm mang lại danh tiếng cho bản thân, muốn nhận cái hư danh ” người tốt”. Nhiều người còn ích kỉ, sống chỉ biết lợi ích của riêng mình, tham sống sợ chết…đó vẫn là một mảng tối trong xã hội hiện nay. Vì vậy, chúng ta phải biết mở rộng trái tim mình, phải biết sống vì người khác, quan tâm, chia sẻ, đừng ích kỉ, hãy để đôi tay phảng phất hương hoa vì những hành động tốt đẹp của bản thân, để vị ngọt tình người lan tỏa khắp cuộc đời này.

“Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ. Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha’. Lời dạy ấy thật đúng khi nói về sự to lớn của cha mẹ với đức hi sinh lớn lao dành cho con cái. Cha mẹ là người đã sinh ra ta, nuôi ta khôn lớn. Có thể nói, không có cha mẹ thì không có sự tồn tại của những đứa con trên đời. Đó còn là những người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, gánh trên vai trách nhiệm giúp người con trưởng thành, khôn lớn. Cả cuộc đời của các bậc cha mẹ đều là những hi sinh không ngừng nghỉ vì tương lai tốt đẹp của con cái. Và chắc chắn đó là những hi sinh không hề mong đáp trả, những hi sinh lớn lao. Ta chắc chắn không thể quy nó về trách nhiệm mà hơn thế là đức hi sinh, là lòng yêu. Con cái trước hi sinh của cha mẹ cần có thái độ biết ơn, trân trọng và không được cho bản thân quyền nhận hi sinh ấy như một lẽ đương nhiên. Quả thực, hiện nay không ít người con đã và đang sống trên hi sinh ấy bằng sự vô ơn, bạc bẽo và cả những người cha, người mẹ đang dành đức hi sinh một cách làm đường khiến người con lạc lối, sai phạm. Đức hi sinh của cha mẹ lớn lao, nhưng giá trị và ý nghĩa của nó sẽ được thể hiện khi và chỉ khi con người biết chân thành và biết gửi trao trọn vẹn tình cảm cũng như có thái độ sống tốt, tích cực.

Trong các vô vàn các truyền thống quý báu, truyền thống tốt đẹp mà ông cha ta đã để lại trong đó không thể không kể tới đức hi sinh. Trước tiên chúng ta cần đi giải nghĩa đức hi sinh là gì? Đức hi sinh là một đức tính cao đẹp mà chúng ta phải nhìn nhận và học tập, rèn luyện mới có được. Hi sinh được hiểu là sự quên mình để lo cho tha nhân. Sự hi sinh không chỉ cho thấy giá trị của con người mà còn giúp thăng hoa sự giá trị ấy ở bản thân của họ. Hi sinh trước giờ chúng ta được nghe nói đến nhiều nhất là hi sinh cho Tổ quốc, cho đất nước nhưng quên mất rằng sự hi sinh luôn thường trực xung quanh chúng ta. Nghị luận xã hội về đức hi sinh sẽ thấy đó còn là hình ảnh của mẹ hi sinh tuổi thanh xuân để lo lắng, chăm sóc cho mình. Cha hi sinh sức khỏe, thời gian để kiếm tiền nuôi mình ăn học. Là bóng hình thầy cô hi sinh nhiều thứ để truyền đạt những bài học bổ ích, những điều hay lẽ phải. Đức hi sinh thể hiện phẩm chất đạo đức cao đẹp mà mỗi cá nhân chúng ta ai cũng cần phải có, thế nên chúng ta phải hi sinh dù là những chuyện nhỏ nhặt, đời thường. Nghị luận xã hội về đức hi sinh sẽ nhận ra người có đức tính này luôn được mọi người yêu mến, tin cậy, quý trọng. Không chỉ vậy, người có đức tính hi sinh còn thể hiện được sự dũng cảm của bản thân mình, biết giúp đỡ mọi người xung quanh khi họ rơi vào con đường tăm tối. Hi sinh là một trong những đức tính tốt đẹp mà ông cha ta đã truyền lại cho thế hệ chúng ta sau này.

Nếu sự ích kỷ khiến con người trở nên tầm thường, nhỏ bé thì sự hi sinh lại giúp con người trở nên cao thượng. Đức hi sinh luôn hiện hữu và tồn tại trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Nó đã trở thành lẽ sống, lí tưởng sống trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc. Hi sinh là vì người khác mà chịu sự thiệt thòi về bản thân mình. Đó là những suy nghĩ, hành động tự nguyện vì người khác, không vụ lợi cá nhân, đặt lợi ích của người khác lên trên lợi ích của bản thân và có thể hi sinh tính mạng của mình vì sự sống của người khác. Đây là đức tính cao quý của nhân dân ta mà chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp trong cuộc sống hàng ngày. Trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, biết bao người anh hùng đã tham gia chiến đấu để giành lấy hòa bình, tự do cho Tổ quốc. Họ là người anh hùng Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai trong chiến dịch Điện Biên Phủ, anh Bế Văn Đàn lấy vai làm giá súng hay người thanh niên quả cảm Tô Vĩnh Diện đã dùng thân mình để chèn pháo,…Một tấm gương về đức hi sinh mà chúng ta không thể không nhắc đến đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Người đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng. Những năm tháng tuổi trẻ Bác đã bôn ba khắp các nước trên thế giới để tìm ra con đường giải phóng dân tộc, khi trở về Bác lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành thắng lợi. Bên cạnh những anh hùng được tổ quốc ghi công được nhiều người biết đến thì vẫn có vô số những con người vô danh đã ngã xuống vì màu cờ sắc áo của dân tộc. Họ là những người “Không ai nhớ mặt đặt tên/ Nhưng họ đã làm ra Đất Nước” (Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm). Đức hi sinh của họ đã trở thành lý tưởng sống. Đối với họ, sống là cống hiến, là hi sinh để có thể mang lại hạnh phúc cho đồng bào, dân tộc. Bao nhiêu gian nan, khổ cực cũng không thể khiến họ lùi bước.

Hi sinh là chịu thiệt hại, mất mát quyền lợi về vật chất, tinh thần hoặc một bộ phận nào đó trên cơ thể nhằm một mục tiêu cao cả hoặc một lý tưởng tốt đẹp. Nên hiểu, hi sinh là sẵn sàng cho đi một phần lợi ích của bản thân vì người khác. Sự hi sinh cao nhất là hi sinh sự sống vì sự nghiệp bảo vệ, giữ gìn độc lập, tự do của tổ quốc. Người biết hi sinh vì người khác là người luôn sống vị tha, biết yêu thương người khác, sẵn sàng cho đi những lợi ích của mình giúp người khác vượt qua khó khăn, thử thách. người có đức hi sinh luôn được người khác kính trọng và yêu mến. Ngược lại, người không biết hi sinh vì người khác luôn ích kỉ, chỉ biết đến bản thân mình, không bao giờ cảm thông hay chia sẻ với nỗi khổ đau của người khác, sống cuộc đời hèn kém. Đức hi sinh là phẩm chất cao quý của con người. Ai cũng cần có đức hi sinh bởi khi chúng ta biết hi sinh cho nhau, chia sẻ những gì mình có vì lợi ích chung của cộng đồng thì xã hội sẽ không ngừng phát triển, tình người gắn kết bền chặt hơn. Tuy nhiên, chỉ nên hi sinh cho những gì xứng đáng, cao quý và thiêng liêng chứ không phải là hi sinh một cách mù quáng. Hi sinh là cần thiết nhưng đừng để sự hi sinh củ mình bị lợi dụng để làm lợi cho một cá nhân nào đó.

Trong cuộc sống, sự hi sinh chính là biểu hiện của tình yêu thương và sự cho đi trong cuộc sống. Thật vậy, nhờ có đức tính hi sinh mà con người có thể mang đến hạnh phúc cho những người xung quanh cũng như mang đến hạnh phúc cho mình từ những hành động hi sinh ấy. Hi sinh chính là hành động cho đi, cống hiến một thứ gì đó của bản thân để cho người khác được hạnh phúc hơn, để cho cuộc sống xung quanh được tốt đẹp hơn. Đầu tiên, đức hi sinh có thể được biểu hiện ở cấp độ gia đình. Trong gia đình, bố mẹ sẽ là người có đức tính hi sinh cho con cái, sẵn sàng cho đi mọi thứ, tạo mọi điều kiện tốt nhất để con cái mình có thể học hành và có một tương lai tươi đẹp nhất. Mọi hành động dành cho con cái mình, dù rất nhỏ nhưng đều là đức hi sinh cao cả, là tình yêu thương mà cha mẹ dành cho con, chẳng cần nghĩ đến mình vì sự ưu tiên đối với con cái là cao nhất. Thứ hai, đức tính hi sinh có thể được thể hiện ở sự hi sinh đối với đất nước, với cuộc sống, với cộng đồng. Dù trong thời bình hay trong thời chiến, những con người có đức hi sinh, sẵn sàng hi sinh thầm lặng vì cuộc sống chung vẫn là những con người vĩ đại nhất. Đó là anh bộ đội ngã xuống vì độc lập dân tộc, là người cảnh sát hi sinh trước phát súng của tội phạm để bảo vệ nạn nhân, là những y bác sĩ hi sinh vì bình yên của thế giới trong thời kỳ dịch bệnh Covid-19. Cuối cùng, đức hi sinh còn được thể hiện ở việc hi sinh cho những người không quen biết. Đó chính là xuất phát từ trong lòng tốt, từ trong tâm hồn cao đẹp của những người muốn đem đến hạnh phúc cho những người xung quanh và cho chính bản thân mình. Tóm lại, đức hi sinh chính là phẩm chất cao đẹp cần có ở mỗi người.

Dân tộc ta có rất nhiều phẩm chất quý báu và tốt đẹp được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Một trong số đó là sự hi sinh. Hi sinh. Hai chữ tuy ngắn ngọn nhưng chứa đựng biết bao ý nghĩa sâu xa. Hi sinh là phẩm chất tốt đẹp, tự nguyện nhận phần thiệt thòi, mất mát, lớn lao nà về mình vì mục đích chung, lí tưởng cao đẹp…. Chính vì thể người đời vẫn luôn ghi nhớ công ơn biết bao vị anh hùng đã ngã xuống vì quê hương, dân tộc. Điển hình hình ảnh Lê Lai một người đã liều mình cứu chúa, xả thân vì nước để Lê Lợi sống sót. Lê Lai không những hi sinh mạng sống cứu nguy Lê Lợi mà còn cứu nguy cả dân tộc Việt Nam. Không những chúng ta phải ghi nhớ công lao của những vị anh hùng mà phải ghi nhớ công lao hàng vạn chiến sĩ trẻ, thanh niên xung phong đã hi sinh cả thời tuổi thanh xuân, đi mãi không về vì lí tưởng bảo vệ quê hương, đất nước,… Hi sinh ở đây không đồng nghĩa phải chết, mất mạng vì người khác. Đôi khi hi sinh thật đơn giản. Cha mẹ sẵn sàng hi sinh, giành điều tốt đẹp nhất cho con cái. Gia đình nghèo anh chị đành phải nghỉ học nhường em mình,.. Và còn nữa ở đâu đó vẫn còn vô vàn những người đã hi sinh, cống hiến thầm lặng cho đất nước, xã hội này ngày một trở nên tốt đẹp hơn mà ta không hay biết. Thế nhưng ngoài những mảng sáng xã hội bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều loại người ham sống sợ chết, chỉ biết nghĩ cho lòng hẹp hòi bản thân không biết đặt lợi chung cộng đồng trên lợi ích riêng cá nhân. Chính vì thế những người này không được yêu quý, kính trọng. Vì thế nếu những ai tự xét lại bản thân, thấy mình vẫn tồn tại bản tính xấu, cần phải lập tức thay đổi. Biến điểm trừ thành điểm cộng. Có một câu nói của Charles Dickens mà tôi rất tâm đắc: sự quên mình là bi thương nhưng là thứ bi thương do con người tạo ra”. Thật đúng vậy, do đó chúng ta hãy biết sống vì người khác, đừng ích kỉ riêng cá nhân, hãy mở rộng trái tim mình, một khi biết quan tâm đến mọi người xung quanh tức là bạn đã nếm trải được vì ngọt của sự hi sinh là như thế nào rồi đấy.

Advertisement

Con người để hoàn thiện bản thân thì phải không ngừng trau dồi nhiều đức tính quý báu. Một trong những đức tính tốt đẹp mà chúng ta cần có chính là đức tính hi sinh. Vậy thế nào là đức hi sinh? Đức hi sinh chính là sự nhường nhịn, chấp nhận phần thiệt thòi hơn về mình (có thể là vật chất, tinh thần hoặc thậm chí là cả mạng sống) để người khác có được cuộc sống và những điều tốt đẹp hơn. Đức hi sinh là những đức tính tốt đẹp mà chúng ta cần phải rèn luyện. Mỗi chúng ta ai ai cũng sẽ gặp phải những khó khăn, thử thách nhất định trong cuộc sống của mình. Khi người khác hi sinh, giúp chúng ta một điều gì đó, chúng ta sẽ trở nên tốt hơn, chính vì vậy, sự hi sinh của chúng ta đối với người khác cũng sẽ làm cho họ tốt hơn. Nếu xã hội không có sự hi sinh con người sẽ trở nên ích kỉ, vô cảm chỉ muốn vơ vét những tư lợi về mình, dần dần sẽ dẫn đến tình trạng suy thoái đạo đức, xã hội sẽ đi xuống. Bên cạnh đó, sống với đức hi sinh chúng ta sẽ được người khác yêu mến, kính trọng và học tập theo, lan tỏa được nhiều thông điệp tích cực ra cộng đồng. Tuy nhiên trong cuộc sống vẫn còn nhiều người có tính ích kỉ chỉ biết nghĩ đến bản thân mình và lợi ích của mình mà không quan tâm đến những người xung quanh, cho rằng khi hi sinh là thiệt thòi, là không đáng. Lại có những người hi sinh quá nhiều cho người khác mà khiến bản thân mình chịu thiệt thòi, bỏ lỡ những cơ hội tốt trong cuộc sống,… những người này cần xem xét lại những suy nghĩ và hành động của bản thân để có thể cân bằng được cuộc sống giữa cho và nhận.

Đức hi sinh là phẩm chất tốt đẹp, tự nguyện nhận phần thiệt thòi, mất mát lớn lao nào đó vì mục đích, lí tưởng tình cảm cao đẹp. Đức hi sinh còn hi sinh cả thời gian, tình mạng của mình cho người khác. Người đời đã ghi nhớ, khắc tên biết bao nhiêu người đã dũng cảm hy sinh vì lợi ích của đất nước. Trong lịch sử, không quên hình ảnh Lê Lai – một vị tướng thời nhà Lê, đã liều mình cứu chúa. Ông đã hi sinh mạng sống của mình để cứu nguy cho Lê Lợi, cũng là cứu cả dân tộc Việt Nam. Trong kháng chiến, Nguyễn Văn Trỗi đã hy sinh tuổi thanh xuân, hạnh phúc gia đình chọn con đường, đầy khó khăn, nguy hiểm – diệt bộ trưởng Mỹ – để mang lại cuộc sống cho toàn dân. Ngày nay đất nước hòa bình thống nhất, nhiều chiến sĩ công an vẫn làm việc ngày đêm không nghỉ ngơi để đảm bảo trật tự an ninh xã hội cho nhân dân. Họ là những người làm việc thầm lặng, hi sinh quyền lợi của mình cho mọi người. Hi sinh là thước đo đánh giá phẩm chất của con người. Hi sinh không phải chịu thiệt vì mục đích cá nhân mà phải biết vì tập thể quê hương đất nước thì việc hi sinh mới có ý nghĩa. Hi sinh rèn luyện cho chúng ta đức tính dũng cảm, biết vượt qua những khó khăn rào cản trong cuộc sống chúng ta. Người có lòng hi sinh luôn được mọi người ghi nhớ công ơn đã góp phần đem lại cho đất nước phát triển. Người không có lòng hi sinh hay bị rụt rè, sợ sệt trước cái chết, không bản lĩnh thì làm chẳng ra hồn, những việc khó không muốn giải quyết. Nếu như xã hội không có những người biết hi sinh vì mọi người thì làm sao có được cuộc sống bình yên tươi đẹp. Chúng ta cần rèn luyện đức tính hi sinh ngay còn khi là học sinh và phát huy để ngày càng có nhiều người biết “sống vì mọi người” hay ” một người vì mọi người, mọi người vì một người”.

Nhà văn, nhà thơ nổi tiếng người Anh Rudyard Kipling từng khẳng định: “Đức khiêm nhường đến từ tri thức; sức mạnh đến từ sự hy sinh”. Thật vậy, trong cuộc sống, đức hi sinh không chỉ mang đến những điều tốt đẹp cho con người, cho cộng đồng, xã hội mà đó còn là nguồn sức mạnh thiêng liêng, to lớn giúp chúng ta làm được những điều vĩ đại, thiêng liêng. “Đức hi sinh” là sự nhường nhịn, chấp nhận sự thiệt thòi về bản thân vì lợi ích của người khác. Người có đức hi sinh là luôn suy nghĩ vì người khác, đó còn là những người sẵn sàng giúp đỡ người khác mà không suy tính thiệt hơn, đặt lợi ích của người khác lên trên lợi ích của bản thân mình. Trong cuộc sống, chúng ta vẫn bắt gặp rất nhiều những tấm gương đẹp về đức hi sinh, đó là những bậc cha mẹ sẵn sàng nhận về mình những vất vả, khó nhọc để mang đến cho các con cuộc sống đủ đầy, ấm no. Đó cũng là những y bác sĩ tuyến đầu chống dịch đã chấp nhận hi sinh thời gian bình yên bên gia đình, sẵn sàng đối diện với nguy cơ nhiễm bệnh để đi vào tâm dịch, giúp đồng bào vượt qua cơn “nguy khốn” của đại dịch Covid 19. Đức hi sinh là biểu hiện cao đẹp nhất của tình thương, là chất keo gắn kết tạo dựng lên những mối quan hệ tốt đẹp, bền vững mà còn giúp cho người gần người hơn. Người có đức hi sinh luôn sống vì người khác, vì vậy nên họ luôn nhận được sự tôn trọng, yêu quý từ những người xung quanh. Có thể thấy đức hi sinh là một phẩm chất tốt đẹp, một vẻ đẹp đáng quý của con người Việt Nam. Tuy nhiên, trong cuộc sống, chúng ta vẫn bắt gặp rất nhiều những người ích kỉ, chỉ biết đến bản thân mà vô cảm trước nỗi đau của đồng loại. Cũng có những con người sẵn sàng hi sinh lợi ích của người khác để đạt được những lợi ích tầm thường của bản thân. Để phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa, mỗi chúng ta cần biết yêu thương, biết sẻ chia, đồng cảm với những người kém may mắn hơn mình; không quên đi sự giúp đỡ, công lao của những người đã hi sinh vì mình. Hãy học cách cho đi, vì khi cho đi chúng ta sẽ nhận được nhiều điều tốt đẹp, giá trị hơn thế.

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Mẫu Lớp 12: Nghị Luận Về Vai Trò Của Thơ Ca Trong Cuộc Sống (Dàn Ý + 4 Mẫu) Nghị Luận Về Thơ Ca trên website Krxx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!