Xu Hướng 2/2024 # Soạn Bài Chương Trình Địa Phương (Phần Tiếng Việt, Trang 175) Soạn Văn 9 Tập 1 Bài 13 # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Chương Trình Địa Phương (Phần Tiếng Việt, Trang 175) Soạn Văn 9 Tập 1 Bài 13 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Krxx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Soạn bài Chương trình địa phương (phần Tiếng Việt)

Hôm nay, chúng tôi sẽ cung cấp tài liệu Soạn văn 9: Chương trình địa phương (phần Tiếng Việt, trang 175). Mời các bạn học sinh cùng tham khảo.

Chương trình địa phương phần Tiếng Việt – Mẫu 1 I. Bài tập trong SGK

Câu 1. Hãy tìm trong phương ngữ em đang sử dụng hoặc trong một phương ngữ mà em biết những từ ngữ:

a. Chỉ các sự vật, hiện tượng… không có tên gọi trong các phương ngữ khác và trong ngôn ngữ toàn dân.

Một số từ như:

– Móm: lá cọ non, phơi tái dùng để gói cơm nắm, thức ăn các loại.

– Đước: cây mọc ở vùng ngập mặn Tây Nam Bộ, rễ chùm lớn, hạt nảy mầm ngay trên cây.

b. Đồng nghĩa nhưng khác nhau về âm với những từ ngữ trong các phương ngữ hoặc trong ngôn ngữ toàn dân.

Phương ngữ Bắc

Phương ngữ Trung

Phương ngữ Nam

mẹ

mạ

bố

bọ

tía

c. Đồng âm nhưng khác về nghĩa với những từ ngữ trong các phương ngữ khác hoặc ngôn ngữ toàn dân.

Phương ngữ Bắc

Phương ngữ Trung

Phương ngữ Nam

hòm: đồ vật dùng để đựng

hòm: áo quan dùng để khâm liệm người chết

hòm: áo quan dùng để khâm liệm người chết

bổ: có ích

bổ: ngã

bổ: té

Câu 2. Cho biết vì sao những từ ngữ địa phương như ở bài tập 1.a không có từ ngữ tương đương trong phương ngữ khác và trong ngôn ngữ toàn dân. Sự xuất hiện những từ ngữ đó thể hiện tính đa dạng về điều kiện tự nhiên và đời sống xã hội trên các vùng miền của đất nước ta như thế nào?

– Có những từ ngữ địa phương như ở bài tập 1.a không có từ ngữ tương đương trong phương ngữ khác và trong ngôn ngữ toàn dân vì có những sự vật chỉ xuất hiện ở riêng địa phương đó.

– Sự xuất hiện những từ ngữ đó thể hiện nước ta có sự khác biệt giữa các vùng miền về các điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán… Nhưng sự khác biệt đó lại không quá lớn, nên các từ ngữ đó không có quá nhiều.

Câu 3. Quan sát hai bảng mẫu ở bài tập 1 và cho biết những từ ngữ nào (ở trường hợp b) và cách hiểu nào (ở trường hợp c) được coi là thuộc về ngôn ngữ toàn dân.

Các từ và cách hiểu được coi là thuộc về ngôn ngữ toàn dân trong các trường hợp trên là:

Trường hợp b: bố, mẹ

Trường hợp c: hòm (đồ vật có dạng hình hộp, có nắp đậy, dùng để đựng đồ)

Câu 4. Chỉ ra những từ ngữ địa phương có trong đoạn trích. Những từ ngữ đó thuộc phương ngữ nào? Việc sử dụng những từ ngữ địa phương trong đoạn thơ có tác dụng gì?

– Các từ ngữ địa phương: chi, rứa, nờ, tui, cớ răng, ưng, mụ

– Những từ ngữ đó thuộc phương ngữ Trung Bộ, (cụ thể là thuộc vùng Bắc Trung Bộ như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế).

– Tác dụng của việc sử dụng từ ngữ địa phương: Bài thơ “Mẹ suốt” của nhà thơ Tố Hữu viết về một người mẹ Việt Nam anh hùng sống ở vùng đất Quảng Bình. Với những từ ngữ địa phương trên đã góp phần diễn tả chân thực hình ảnh người mẹ với những suy nghĩ, tình cảm của một người mẹ trên vùng quê ấy.

II. Bài tập ôn luyện thêm

Câu 1. Tìm các từ ngữ địa phương trong các câu sau:

a.

“Nghe mẹ nó bảo gọi ba vào ăn cơm thì nó bảo lại:

– Thì má cứ kêu đi.

Mẹ nó đâm nổi giận, quơ đũa bếp dọa đánh, nó phải gọi nhưng lại nói trổng:

– Vô ăn cơm!

Anh Sáu vẫn ngồi im, giả vờ không nghe, chờ nó gọi “ba vô ăn cơm”. Con bé cứ đứng trong bếp nói vọng ra:

– Cơm chín rồi! – Anh cũng không quay lại. Con bé bực quá, quay lại mẹ và bảo:

– Con kêu rồi mà người ta không nghe.”

(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà)

b.

(Bầm ơi, Tố Hữu)

Gợi ý:

a. Các từ ngữ địa phương là: má, ba, nói trổng, vô, kêu

b. Các từ ngữ địa phương: bầm

Câu 2. Tìm các từ ngữ toàn dân tương ứng với các từ ngữ địa phương sau:

– vô

– ghe

– đậu phộng

– kiếng

– la, rầy

Gợi ý:

– vô: vào

– ghe: thuyền

– đậu phộng: lạc

– kiếng: kính

– la, rầy: mắng

Chương trình địa phương phần Tiếng Việt – Mẫu 2

Câu 1. Hãy tìm trong phương ngữ em đang sử dụng hoặc trong một phương ngữ mà em biết những từ ngữ:

a. Chỉ các sự vật, hiện tượng… không có tên gọi trong các phương ngữ khác và trong ngôn ngữ toàn dân.

Nhút : Món ăn làm bằng xơ mít với một số thứ khác, được dùng phổ biến ở Nghệ An – Hà Tĩnh.

b. Đồng nghĩa nhưng khác nhau về âm với những từ ngữ trong các phương ngữ hoặc trong ngôn ngữ toàn dân.

Phương ngữ Bắc

Phương ngữ Trung

Phương ngữ Nam

quả dứa

trái gai

trái thơm

dọc mùng

ráy

bạc hà

quả quất

trái hạnh

trái tắc

b. Đồng âm nhưng khác về nghĩa với những từ ngữ trong các phương ngữ khác hoặc ngôn ngữ toàn dân.

Phương ngữ Bắc

Phương ngữ Trung

Phương ngữ Nam

mắc: hành động treo lên

mắc: bận

mắc: đắt

Câu 2. Cho biết vì sao những từ ngữ địa phương như ở bài tập 1.a không có từ ngữ tương đương trong phương ngữ khác và trong ngôn ngữ toàn dân. Sự xuất hiện những từ ngữ đó thể hiện tính đa dạng về điều kiện tự nhiên và đời sống xã hội trên các vùng miền của đất nước ta như thế nào?

– Những từ ngữ địa phương ở bài tập 1.a không có từ ngữ tương đương trong phương ngữ khác và trong ngôn ngữ toàn dân vì không có hoặc không phổ biến ở nơi khác.

– Sự xuất hiện những từ ngữ đó thể hiện nước ta có sự khác biệt giữa các vùng miền về các điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán…

Advertisement

Câu 3. Quan sát hai bảng mẫu ở bài tập 1 và cho biết những từ ngữ nào (ở trường hợp b) và cách hiểu nào (ở trường hợp c) được coi là thuộc về ngôn ngữ toàn dân.

Các từ và cách hiểu được coi là thuộc về ngôn ngữ toàn dân trong các trường hợp trên là:

Trường hợp b: bố, mẹ

Trường hợp c: hòm (đồ vật có dạng hình hộp, có nắp đậy, dùng để đựng đồ)

Câu 4. Chỉ ra những từ ngữ địa phương có trong đoạn trích. Những từ ngữ đó thuộc phương ngữ nào? Việc sử dụng những từ ngữ địa phương trong đoạn thơ có tác dụng gì?

– Các từ ngữ địa phương: chi, rứa, nờ, tui, cớ răng, ưng, mụ

– Những từ ngữ đó thuộc phương ngữ Trung Bộ, (cụ thể là thuộc vùng Bắc Trung Bộ như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế).

– Tác dụng: Bài thơ “Mẹ suốt” của nhà thơ Tố Hữu viết về một người mẹ Việt Nam anh hùng sống ở vùng đất Quảng Bình. Với những từ ngữ địa phương trên đã góp phần diễn tả chân thực hình ảnh người mẹ với những suy nghĩ, tình cảm của một người mẹ trên vùng quê ấy.

Soạn Bài Chiếc Lược Ngà Soạn Văn 9 Tập 1 Bài 15 (Trang 195)

Soạn bài Chiếc lược ngà

Hôm nay, chúng tôi sẽ cung cấp bài Soạn văn 9: Chiếc lược ngà. Mời tham khảo nội dung chi tiết để giúp ích cho các bạn học sinh.

Soạn bài Chiếc lược ngà – Mẫu 1 Soạn văn Chiếc lược ngà chi tiết

I. Tác giả

– Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932.

– Quê quán: huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

– Từ năm 1954, Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn.

– Những năm chống Mỹ, ông trở về Nam bộ tham gia kháng chiến rồi tiếp tục sáng tác văn học.

– Sau khi đất nước thống nhất, ông là Tổng thư ký Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh.

– Các tác phẩm của ông thuộc nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim…

– Năm 2000, ông được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.

– Một số tác phẩm tiêu biểu: Con chim vàng (tập truyện ngắn, 1956), Nhật ký người ở lại (tiểu thuyết, 1961), Chiếc lược ngà (tập truyện ngắn, 1966), Mùa gió chướng (tiểu thuyết, 1975), Dòng sông thơ ấu (tiểu thuyết, 1985), Paris – tiếng hát Trịnh Công Sơn (1990)…

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

“Chiếc lược ngà” viết năm 1966, tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên.

2. Bố cục

Phần 1. Từ đầu đến “chị cũng không muốn bắt nó về”: Ông Sáu trở về thăm nhà nhưng bé Thu không nhận ra ba.

Phần 2. Tiếp theo đến “vừa nói vừa từ từ tuột xuống”: Bé Thu nhận ra ba và cuộc chia tay của hai cha con.

Phần 3. Còn lại: Ông Sáu hy sinh ở chiến trường và chuyện về chiếc lược ngà.

3. Tóm tắt

Sau nhiều năm xa nhà, ông Sáu được đơn vị cho về thăm vợ con. Nhưng đứa con gái ông là bé Thu lại không nhận ra cha chỉ vì vết sẹo dài trên má của ông. Ông Sáu rất buồn bã trước sự lạnh nhạt của con gái. Trong ba ngày ở nhà, nếu ông Sáu luôn tìm cách để con gọi mình là ba, thì bé Thu lại lẩn tránh. Sau khi được bà ngoại giải thích về vết sẹo, bé Thu nhận ra ba. Cuộc chia tay của hai cha con diễn ra đầy xúc động. Sau này, ông Sáu hy sinh trong một trận càn của giặc, lúc hấp hối, ông trao cho anh Ba chiếc lược ngà mà ông làm tặng bé Thu.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Ông Sáu trở về thăm nhà nhưng bé Thu không nhận ông là ba

– Trong những năm xa nhà, ông Sáu luôn nhớ con, khát khao gặp con.

– Khi được trở về thăm con: Thuyền chưa cập bến đã nhảy vội lên bờ gọi con.

– Nhưng ngược lại, bé Thu lại không chịu nhận cha:

Lúc mới gặp ông Sáu: “Con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác lạ lùng”.

Nhìn vết thẹo dài trên má ông Sáu nó càng hoảng hốt, sợ hãi “mặt nó tái đi, vụt chạy rồi kêu thét lên”.

Suốt ba ngày, con bé bộc lộ sự bướng bỉnh, nhất quyết không gọi ông Sáu bằng ba, chỉ nói trổng (khi mời ông Sáu ăn cơm, khi muốn nhờ ông chắt nước…).

Hất văng ra khỏi chén cái trứng cá ông Sáu gắp cho.

Bị ông Sáu đánh, nó bỏ sang nhà bà ngoại.

– Nguyên nhân:

Bé Thu không nhận ông Sáu là ba vì ông có vết thẹo trên mặt “không giống cái hình ba chụp với má”.

Với lứa tuổi của mình, Thu không thể hiểu những khắc nghiệt của chiến tranh. Vậy mà, vết sẹo chiến tranh hằn trên gương mặt ông Sáu đã làm Thu không nhận ra được cha mình.

– Ông Sáu rất đau lòng, thất vọng vì bé Thu không nhận mình:

Khi bé Thu chạy vụt đi, hét lên hoảng hốt, sợ hãi: “nỗi đau đớn khiến mặt anh tối sầm lại trông rất đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

Trong ba ngày phép, càng muốn gần gũi, yêu thương con, bé Thu càng lảng tránh, lạnh lùng, vô lễ. Ông càng đau khổ hơn (tám năm mới được gặp con, những ngày phép ngắn dần mà con không chịu nhận ba, không một lần được ôm con trìu mến…)

2. Bé Thu nhận ra ba và cuộc chia tay của hai cha con

– Tình cảm thắm thiết mà ông Sáu dành cho con:

Lúc chia tay, ông Sáu muốn ôm hôn con nhưng sợ con không chịu, ông chỉ nhìn con bằng đôi mắt “trìu mến lẫn buồn rầu”. Khi Thu nhận cha, ông Sáu đã khóc vì sung sướng và xúc động.

Lúc ở rừng, tại khu căn cứ: ông Sáu sung sướng khi tìm được khúc ngày (“hớt hải chạy về”, “hớn hở như trẻ con được quà”); lúc rỗi ông “cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”, khắc dòng chữ nhỏ với bao tình cảm “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”

Lúc nhớ con, “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”, có cây lược ông càng mong gặp con.

Trong giờ phút cuối cùng, tình cha con vẫn da diết “không đủ sức trăn trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”.

Ông gửi cây lược cho đồng đội nhờ đưa cho con, lúc ấy mới nhắm mắt xuôi tay.

– Tình cảm bé Thu đối với cha:

Trước lúc ông Sáu đi, ba gọi tiếng ba đầu tiên, xé lòng như thét lên: “Ba…a…a… Ba!”. Tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao năm nay, tiếng ba như vỡ tung từ đáy lòng nó.

Nó vừa kêu “vừa chạy xô tới”, “dang tay ôm chặt cổ, nó hôn ba nó cùng khắp, nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết sẹo dài trên má ba nó nữa”, “dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó” (muốn giữ ba nó ở lại), khóc mếu máo với lời dặn “ba mua cho con một cái lược, nghe ba”.

3. Ông Sáu hy sinh ở chiến trường và chuyện chiếc lược ngà

– Ông Sáu ở chiến trường không nguôi nhớ thương con, ân hận vì đã trót đánh con bé. Ông dồn tất cả tình yêu con để tự tay làm chiếc lược ngà tặng con như lời ông đã hứa lúc chia tay.

– Trước khi chết, ông Sáu vẫn cố dồn chút sức lực cuối cùng để gửi lại chiếc lược, nhờ đồng đội trao tận tay cho con gái ông.

– Bé Thu lớn lên đã đi tiếp con đường của cha như để nối dài mãi tình cha con bất tử.

Tổng kết:

– Nội dung: Truyện ngắn Chiếc lược ngà đã thể hiện tình cảm cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.

– Nghệ thuật: Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện, nghệ thuật miêu tả tâm lí và tính cách nhân vật…

Soạn văn Chiếc lược ngà ngắn gọn

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Kể tóm tắt cốt truyện của văn bản đoạn trích. Tình huống nào đã bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu?

* Kể tóm tắt: Sau nhiều năm xa nhà, ông Sáu được đơn vị cho về thăm vợ con. Nhưng đứa con gái ông là bé Thu lại không nhận ra cha chỉ vì vết sẹo dài trên má của ông. Ông Sáu rất buồn bã trước sự lạnh nhạt của con gái. Trong ba ngày ở nhà, nếu ông Sáu luôn tìm cách để con gọi mình là ba, thì bé Thu lại lẩn tránh. Sau khi được bà ngoại giải thích về vết sẹo, bé Thu nhận ra ba. Cuộc chia tay của hai cha con diễn ra đầy xúc động. Sau này, ông Sáu hy sinh trong một trận càn của giặc, lúc hấp hối, ông trao cho anh Ba chiếc lược ngà mà ông làm tặng bé Thu.

* Tình huống bộc lộ sâu sắc tình cảm cha con của bé Thu: Cuộc gặp gỡ của ông Sáu và bé Thu sau nhiều năm xa cách. Nhưng bé Thu lại không chịu nhận ba, chỉ đến khi ông Sáu sắp phải trở lại chiến trường thì Thu mới nhận ra cha của mình.

Câu 2. Phân tích diễn biến tâm lý và tình cảm của bé Thu trong lần đầu gặp cha cuối cùng, khi ông Sáu được về phép. Qua đó hãy nhận xét về tính cách của nhân vật bé Thu và nghệ thuật miêu tả tâm lí của tác giả?

– Trước lúc nhận cha:

Lúc mới gặp ông Sáu: “Con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác lạ lùng”.

Nhìn vết thẹo dài trên má ông Sáu nó càng hoảng hốt, sợ hãi “mặt nó tái đi, vụt chạy rồi kêu thét lên”.

Suốt ba ngày, con bé bộc lộ sự bướng bỉnh, nhất quyết không gọi ông Sáu bằng ba, chỉ nói trổng (khi mời ông Sáu ăn cơm, khi muốn nhờ ông chắt nước…).

Hất văng ra khỏi chén cái trứng cá ông Sáu gắp cho.

Bị ông Sáu đánh, nó bỏ sang nhà bà ngoại.

– Khi nhận ra cha của mình:

Trước lúc ông Sáu đi, ba gọi tiếng ba đầu tiên, xé lòng như thét lên: “Ba…a…a… Ba!”. Tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao năm nay, tiếng ba như vỡ tung từ đáy lòng nó.

Nó vừa kêu “vừa chạy xô tới”, “dang tay ôm chặt cổ, nó hôn ba nó cùng khắp, nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết sẹo dài trên má ba nó nữa”, “dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó” (muốn giữ ba nó ở lại), khóc mếu máo với lời dặn “ba mua cho con một cái lược, nghe ba”.

Câu 3. Tình cảm cha con sâu nặng và cao đẹp ở ông Sáu đối với con đã được thể hiện qua những chi tiết, sự việc nào? Điều đó bộc lộ thêm nét đẹp gì trong tâm hồn của người cán bộ cách mạng ấy.

– Trong những năm xa nhà, ông Sáu luôn nhớ con, khát khao gặp con.

– Khi được trở về thăm con: Xuồng chưa cập bến, ông Sáu đã nhảy lên bờ gọi, đưa tay đón con, rất xúc động làm vết thẹo đỏ ửng giần giật, “giọng lắp bắp, run run”.

– Khi bé Thu chạy vụt đi, hét lên hoảng hốt, sợ hãi: “nỗi đau đớn khiến mặt anh tối sầm lại trông rất đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

– Trong ba ngày phép, càng muốn gần gũi, yêu thương con, bé Thu càng lảng tránh, lạnh lùng, vô lễ. Ông càng đau khổ hơn (tám năm mới được gặp con, những ngày phép ngắn dần mà con không chịu nhận ba, không một lần được ôm con trìu mến…)

– Lúc chia tay, ông Sáu muốn ôm hôn con nhưng sợ con không chịu, ông chỉ nhìn con bằng đôi mắt “trìu mến lẫn buồn rầu”. Khi Thu nhận cha, ông Sáu đã khóc vì sung sướng và xúc động.

– Lúc ở rừng, tại khu căn cứ: ông Sáu sung sướng khi tìm được khúc ngày (“hớt hải chạy về”, “hớn hở như trẻ con được quà”); lúc rỗi ông “cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”, khắc dòng chữ nhỏ với bao tình cảm “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”

– Lúc nhớ con, “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”, có cây lược ông càng mong gặp con.

– Trong giờ phút cuối cùng, tình cha con vẫn da diết “không đủ sức trăn trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Ông gửi cây lược cho đồng đội nhờ đưa cho con, lúc ấy mới nhắm mắt xuôi tay.

Câu 4. Truyện được kể theo lời trần thuật của nhân vật nào? Cách chọn vai kể như vậy có tác dụng gì trong việc xây dựng nhân vật và thể hiện nội dung tư tưởng của truyện?

– Truyện được kể theo lời trần thuật của nhân vật “tôi” – là đồng đội của ông Sáu, người trực tiếp chứng kiến câu chuyện của cha con ông Sáu.

– Tác dụng của việc lựa chọn vai kể:

Góp phần giúp cho câu chuyện trở nên đáng tin cậy.

Nhân vật được nhìn nhận, đánh giá khách quan một cách khách quan hơn.

II. Luyện tập

Câu 1. Thái độ và hành động của bé Thu đối với ba rất trái ngược, trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi, nhưng vẫn nhất quán trong tính cách của nhân vật.

Gợi ý:

Dù là trước hay sau khi nhận cha, bé Thu vẫn dành cho cha một tình yêu thương sâu nặng, gắn bó.

Câu 2. Viết lại đoạn truyện kể về cuộc gặp gỡ cuối cùng của hai cha con ông Sáu theo lời hồi tưởng của một nhân vật khác.

Gợi ý:

Hôm sau tôi theo ngoại về nhà, nhưng nhìn ba chuẩn bị xong đồ đạc chuẩn bị rời đi, tôi chỉ biết đứng nép ở một góc. Trước khi đi, ba đến bên và nói: “Thôi, ba đi nghe con!” Trong khoảnh khắc ấy, tôi thốt lên một tiếng: “Ba!” . Tôi vừa khóc vừa ôm lấy ba không muốn rời.

Trước khi đi, tôi còn đòi ba mua cho một cái lược. Trong một lần chiến đấu, ba bị bắn trọng thương và hy sinh. Bác Ba đồng đội của ba đã gặp và trao cho tôi t chiếc lược ngà – kỉ vật mà ba tôi để lại, bên trên có khắc dòng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.

Soạn bài Chiếc lược ngà – Mẫu 2

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Kể tóm tắt cốt truyện của văn bản đoạn trích. Tình huống nào đã bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu?

– Tóm tắt: Ông Sáu được đơn vị cho về thăm vợ con sau nhiều năm xa cách. Nhưng đứa con gái của ông là bé Thu lại không nhận ra cha chỉ vì vết sẹo dài trên má của ông. Ông Sáu rất buồn bã trước sự lạnh nhạt của con gái. Trong ba ngày ở nhà, nếu ông Sáu luôn tìm cách để con gọi mình là ba, thì bé Thu lại lẩn tránh. Sau khi được bà ngoại giải thích về vết sẹo, bé Thu nhận ra ba. Cuộc chia tay của hai cha con diễn ra đầy xúc động. Sau này, ông Sáu hy sinh trong một trận càn của giặc, lúc hấp hối, ông trao cho anh Ba chiếc lược ngà mà ông làm tặng bé Thu.

– Tình huống: Cuộc gặp gỡ của ông Sáu và bé Thu sau nhiều năm xa cách. Nhưng bé Thu lại không chịu nhận ba, chỉ đến khi ông Sáu sắp phải trở lại chiến trường thì Thu mới nhận ra cha của mình.

Câu 2. Phân tích diễn biến tâm lý và tình cảm của bé Thu trong lần đầu gặp cha cuối cùng, khi ông Sáu được về phép. Qua đó hãy nhận xét về tính cách của nhân vật bé Thu và nghệ thuật miêu tả tâm lí của tác giả?

– Trước khi nhận ra cha:

Lúc mới gặp ông Sáu: “Con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác lạ lùng”.

Nhìn vết thẹo dài trên má ông Sáu nó càng hoảng hốt, sợ hãi “mặt nó tái đi, vụt chạy rồi kêu thét lên”.

Suốt ba ngày, con bé bộc lộ sự bướng bỉnh, nhất quyết không gọi ông Sáu bằng ba, chỉ nói trổng (khi mời ông Sáu ăn cơm, khi muốn nhờ ông chắt nước…).

Hất văng ra khỏi chén cái trứng cá ông Sáu gắp cho.

Bị ông Sáu đánh, nó bỏ sang nhà bà ngoại.

– Sau khi nhận ra cha:

Trước lúc ông Sáu đi, ba gọi tiếng ba đầu tiên, xé lòng như thét lên: “Ba…a…a… Ba!”. Tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao năm nay, tiếng ba như vỡ tung từ đáy lòng nó.

Nó vừa kêu “vừa chạy xô tới”, “dang tay ôm chặt cổ, nó hôn ba nó cùng khắp, nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết sẹo dài trên má ba nó nữa”, “dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó” (muốn giữ ba nó ở lại), khóc mếu máo với lời dặn “ba mua cho con một cái lược, nghe ba”.

Câu 3. Tình cảm cha con sâu nặng và cao đẹp ở ông Sáu đối với con đã được thể hiện qua những chi tiết, sự việc nào? Điều đó bộc lộ thêm nét đẹp gì trong tâm hồn của người cán bộ cách mạng ấy.

– Trong những năm xa nhà, ông Sáu luôn nhớ con, khát khao gặp con.

– Khi được trở về thăm con: Xuồng chưa cập bến, ông Sáu đã nhảy lên bờ gọi, đưa tay đón con, rất xúc động làm vết thẹo đỏ ửng giần giật, “giọng lắp bắp, run run”.

– Khi bé Thu chạy vụt đi, hét lên hoảng hốt, sợ hãi: “nỗi đau đớn khiến mặt anh tối sầm lại trông rất đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

– Trong ba ngày phép, càng muốn gần gũi, yêu thương con, bé Thu càng lảng tránh, lạnh lùng, vô lễ. Ông càng đau khổ hơn (tám năm mới được gặp con, những ngày phép ngắn dần mà con không chịu nhận ba, không một lần được ôm con trìu mến…)

– Lúc chia tay, ông Sáu muốn ôm hôn con nhưng sợ con không chịu, ông chỉ nhìn con bằng đôi mắt “trìu mến lẫn buồn rầu”. Khi Thu nhận cha, ông Sáu đã khóc vì sung sướng và xúc động.

– Lúc ở rừng, tại khu căn cứ: ông Sáu sung sướng khi tìm được khúc ngày (“hớt hải chạy về”, “hớn hở như trẻ con được quà”); lúc rỗi ông “cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”, khắc dòng chữ nhỏ với bao tình cảm “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”

– Lúc nhớ con, “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”, có cây lược ông càng mong gặp con.

– Trong giờ phút cuối cùng, tình cha con vẫn da diết “không đủ sức trăn trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Ông gửi cây lược cho đồng đội nhờ đưa cho con, lúc ấy mới nhắm mắt xuôi tay.

Câu 4. Truyện được kể theo lời trần thuật của nhân vật nào? Cách chọn vai kể như vậy có tác dụng gì trong việc xây dựng nhân vật và thể hiện nội dung tư tưởng của truyện?

– Truyện được kể theo lời trần thuật của nhân vật “tôi” – là đồng đội của ông Sáu, người trực tiếp chứng kiến câu chuyện của cha con ông Sáu.

– Việc lựa chọn vai kể góp phần giúp cho câu chuyện trở nên đáng tin cậy, nhân vật được nhìn nhận, đánh giá khách quan một cách khách quan hơn.

II. Luyện tập

Câu 1. Thái độ và hành động của bé Thu đối với ba rất trái ngược, trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi, nhưng vẫn nhất quán trong tính cách của nhân vật.

Gợi ý:

Thái độ và hành động của bé Thu đối với ba rất trái ngược, trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi, nhưng vẫn nhất quán trong tính cách của nhân vật: Một tấm lòng yêu thương cha sâu sắc, mong muốn được gần gũi với người cha của mình.

Câu 2. Viết lại đoạn truyện kể về cuộc gặp gỡ cuối cùng của hai cha con ông Sáu theo lời hồi tưởng của một nhân vật khác.

Gợi ý:

Sáng hôm sau, tôi theo ngoại về nhà. Mọi người đến tạm biệt cha tôi rất đông. Tôi chỉ biết đứng nép vào một góc quan sát mọi việc. Trước khi đi, ba đến bên và nói: “Thôi, ba đi nghe con!”. Nghe vậy, tôi cất tiếng gọi: “Ba!”. Tôi chạy đến nhảy lên người ba, ôm chặt không muốn rời. Trước khi đi, tôi còn đòi ba mua cho một cái lược. Trong một lần chiến đấu, ba bị bắn trọng thương và hy sinh. Bác Ba đồng đội của ba đã gặp và trao cho tôi môt chiếc lược ngà – kỉ vật mà ba tôi để lại, bên trên có khắc dòng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Tôi nhận lấy mà cảm thấy xúc động, thương nhớ về người cha của mình.

Advertisement

Soạn bài Chiếc lược ngà – Mẫu 3

Câu 1.

– Kể tóm tắt cốt truyện của văn bản đoạn trích: Ông Sáu được đơn vị cho về thăm nhà. Suốt chặng đường, ông cảm thấy bồi hồi vì sắp được gặp con gái. Nhưng đến khi trở về, bé Thu lại không chịu nhận cha. Trong ba ngày ở nhà, ông luôn tìm cách để con gọi một tiếng “ba”. Nhưng Thu không chịu, còn giận dỗi bỏ sang nhà bà ngoại. Khi được bà ngoại giải thích về vết sẹo, bé Thu mới nhận ra ba. Nhưng đến lúc, ông Sáu cũng phải trở lại chiến trường.

– Tình huống đã bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu: Cuộc gặp gỡ của ông Sáu và bé Thu sau nhiều năm xa cách. Nhưng bé Thu lại không chịu nhận ba, chỉ đến khi ông Sáu sắp phải trở lại chiến trường thì Thu mới nhận ra cha của mình.

Câu 2.

Phân tích diễn biến tâm lý và tình cảm của bé Thu trong lần đầu gặp cha cuối cùng, khi ông Sáu được về phép:

– Trước khi nhận ra cha:

Lúc mới gặp ông Sáu: “Con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác lạ lùng”.

Nhìn vết thẹo dài trên má ông Sáu nó càng hoảng hốt, sợ hãi “mặt nó tái đi, vụt chạy rồi kêu thét lên”.

Suốt ba ngày, con bé bộc lộ sự bướng bỉnh, nhất quyết không gọi ông Sáu bằng ba, chỉ nói trổng (khi mời ông Sáu ăn cơm, khi muốn nhờ ông chắt nước…).

Hất văng ra khỏi chén cái trứng cá ông Sáu gắp cho

Bị ông Sáu đánh, nó bỏ sang nhà bà ngoại.

– Sau khi nhận ra cha:

Trước lúc ông Sáu đi, ba gọi tiếng ba đầu tiên, xé lòng như thét lên: “Ba…a…a… Ba!”. Tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao năm nay, tiếng ba như vỡ tung từ đáy lòng nó.

Nó vừa kêu “vừa chạy xô tới”, “dang tay ôm chặt cổ, nó hôn ba nó cùng khắp, nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết sẹo dài trên má ba nó nữa”, “dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó” (muốn giữ ba nó ở lại), khóc mếu máo với lời dặn “ba mua cho con một cái lược, nghe ba”.

Nhận xét về tính cách của nhân vật bé Thu và nghệ thuật miêu tả tâm lí của tác giả:

Bé Thu bộc lộ sự ương ngạnh, bướng bỉnh vừa đáng giận vừa đáng thương nhưng không đáng trách.

Nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế, tài tình.

Câu 3.

– Tình cảm cha con sâu nặng và cao đẹp ở ông Sáu đối với con đã được thể hiện qua những chi tiết, sự việc:

Trong những năm xa nhà, ông Sáu luôn nhớ con, khát khao gặp con.

Khi được trở về thăm con: Xuồng chưa cập bến, ông Sáu đã nhảy lên bờ gọi, đưa tay đón con, rất xúc động làm vết thẹo đỏ ửng giần giật, “giọng lắp bắp, run run”.

Khi bé Thu chạy vụt đi, hét lên hoảng hốt, sợ hãi: “nỗi đau đớn khiến mặt anh tối sầm lại trông rất đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

Trong ba ngày phép, càng muốn gần gũi, yêu thương con, bé Thu càng lảng tránh, lạnh lùng, vô lễ. Ông càng đau khổ hơn (tám năm mới được gặp con, những ngày phép ngắn dần mà con không chịu nhận ba, không một lần được ôm con trìu mến…)

Lúc chia tay, ông Sáu muốn ôm hôn con nhưng sợ con không chịu, ông chỉ nhìn con bằng đôi mắt “trìu mến lẫn buồn rầu”. Khi Thu nhận cha, ông Sáu đã khóc vì sung sướng và xúc động.

Lúc ở rừng, tại khu căn cứ: ông Sáu sung sướng khi tìm được khúc ngày (“hớt hải chạy về”, “hớn hở như trẻ con được quà”); lúc rỗi ông “cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”, khắc dòng chữ nhỏ với bao tình cảm “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”

Lúc nhớ con, “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”, có cây lược ông càng mong gặp con.

Trong giờ phút cuối cùng, tình cha con vẫn da diết “không đủ sức trăn trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Ông gửi cây lược cho đồng đội nhờ đưa cho con, lúc ấy mới nhắm mắt xuôi tay.

– Điều đó bộc lộ thêm nét trong tâm hồn của người cán bộ cách mạng ấy: Một con người giàu tình cảm, hết mực yêu thương con.

Câu 4.

– Truyện được kể theo lời trần thuật của nhân vật “tôi” – là đồng đội của ông Sáu, người trực tiếp chứng kiến câu chuyện của cha con ông Sáu.

– Việc lựa chọn vai kể góp phần giúp cho câu chuyện trở nên đáng tin cậy, nhân vật được nhìn nhận, đánh giá khách quan một cách khách quan hơn.

Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh Soạn Văn 8 Tập 1 Bài 12 (Trang 126)

Soạn bài Phương pháp thuyết minh

1. Quan sát, học tập, tích lũy tri thức đế làm bài văn thuyết minh

a. Đọc lại các văn bản thuyết minh vừa học (Cây dừa Bình Định, Tại sao lá cây có màu xanh lục, Khởi nghĩa Nông Văn Vân, Con giun đất) và cho biết các loại văn bản ấy sử dụng tri thức gì?

– “Cây dừa Bình Định” sử dụng loại tri thức khoa học địa lí.

– “Tại sao lá cây có màu xanh lục” sử dụng loại tri thức khoa học thực vật. Huế sử dụng loại tri thức khoa học văn hóa.

– “Khởi nghĩa Nông Văn Vân” sử dụng loại tri thức khoa học lịch sử.

– “Con giun đất” sử dụng loại tri thức khoa học sinh vật.

b. Làm thế nào để có các tri thức ấy? Vai trò của quan sát, học tập, tích lũy ở đây như thế nào?

– Các tri thức ấy được tích lũy trong quá trình quan sát, học tập và tích lũy hàng ngày của mỗi người. Quan sát không chỉ đơn giản là nhìn, mà cần lựa chọn các sự vật, hiện tượng tiêu biểu. Trong quá trình quan sát cần kết hợp phân tích, so sánh…

– Quan sát, học tập, tích lũy là cơ sở đầu tiên để làm một bài văn thuyết minh.

c. Bằng tưởng tượng, suy luận có thể có tri thức để làm bài văn thuyết minh không?

Bằng tưởng tượng, suy luận không thể có tri thức để làm bài văn thuyết minh. Bởi bài văn thuyết minh đòi hỏi tri thức phải chính xác, rõ ràng.

2. Phương pháp thuyết minh

a. Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích

– Trong các câu văn trên, ta thường gặp từ “là”.

– Sau từ ấy, người ta cung cấp một kiến thức quy sự vật được định nghĩa vào loại của nó và chỉ ra đặc điểm, công dụng riêng của nó.

– Vai trò và đặc điểm của loại câu văn định nghĩa, giải thích trong văn bản thuyết minh: nêu vấn đề, đưa ra khái niệm cần thuyết minh một cách chính xác nhất.

b. Phương pháp liệt kê

Phương pháp liệt kê giúp trình bày tính chất sự vật rõ ràng, cụ thể và thuyết phục hơn.

c. Phương pháp nêu ví dụ

– Ví dụ là: Ở Bỉ, từ năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 đô la, tái phạm phạt 500 đô la.

– Tác dụng: Giúp người đọc dễ dàng hình dung, liên hệ đến thực tế và mang tính thuyết phục cao hơn.

d. Phương pháp dùng số liệu (con số)

– Đoạn văn đã sử dụng số liệu là:

dưỡng khí chiếm 20% thể tích.

Thán khí chiếm 3%.

500 năm.

1 hecta cỏ hấp thụ mỗi ngày 900kg thán khí và nhả ra 600kg dưỡng khí.

– Nếu không có số liệu, không thể làm sáng tỏ được vai trò của cỏ trong thành phố, bởi trình bày như vậy sẽ trừu tượng, khó nắm bắt.

e. Phương pháp so sánh

– Việc so sánh giúp cho người đọc thấy rõ được sự to lớn của Thái Bình Dương. g. Phương pháp phân loại, phân tích

Bài Huế trình bày các đặc điểm của thành phố Huế là một thành phố đẹp: Đẹp của thiên nhiên Việt Nam, đẹp của thơ, đẹp của những con người sáng tạo, anh dũng.

Tổng kết:

– Muốn có tri thức để làm tốt bài văn thuyết minh, người viết phải quan sát, tìm hiểu sự vật, hiện tượng cần thuyết minh, nhất là phải nắm bắt được bản chất, đặc trưng của chúng, để tránh sa vào trình bày các biểu hiện không tiêu biểu, không quan trọng.

– Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiểu, sáng rõ, người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như: nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân tích, phân loại…

Câu 1. Tác giả bài “Ôn dịch, thuốc lá” đã nghiên cứu, tìm hiểu rất kỹ để nên lên yêu cầu chống nạn thuốc lá. Em hãy chỉ ra phạm vi tìm hiểu vấn đề thể hiện trong bài viết.

Phạm vi tìm hiểu vấn đề trong bài viết “Ôn dịch, thuốc lá”:

– Kiến thức về y học:

Khói thuốc chứa nhiều chất độc.

Vòm họng, phế quản, nang phổi bị chất hắc ín trong khói thuốc làm tê liệt.

Khói thuốc gây ho hen viêm phế quản.

Trong khói thuốc lá có chất đi-ô-xin… giảm sút sức khỏe con người.

Khói thuốc ung thư vòm họng, ung thư phổi.

Chất ni-cô-tin trong thuốc lá làm huyết áp tăng cao, tắc động mạch, nhồi máu cơ tim.

– Hiểu biết về tâm lý xã hội:

“Bệnh viêm phế quản… hại sức khỏe cộng đồng”.

“Hút thuốc lá nơi công cộng… sinh con suy yếu”.

“Từ điếu thuốc sang cốc bia rồi đến ma túy… từ điếu thuốc”.

Câu 2. Bài viết đã sử dụng những phương pháp thuyết minh nào để nêu bật tác hại của thuốc lá?

– Phương pháp so sánh: tác hại của thuốc lá với các căn bệnh khác, hay việc uống rượu.

– Phương pháp nêu ví dụ: Ở Bỉ, từ năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 đô la, tái phạm phạt 500 đô la.

– Phương pháp nêu số liệu: “Tỉ lệ thanh niên… trộm cắp”.

Câu 3. Đọc văn bản thuyết minh trong SGK và trả lời câu hỏi: Thuyết minh đòi hỏi những kiến thức như thế nào? Văn bản này đã sử dụng những phương pháp thuyết minh nào?

– Kiến thức cần có:

Vị trí địa lý của Ngã ba Đồng Lộc

Về tập thể 10 cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ san lấp hố bom, đào hầm, đảm bảo an toàn giao thông

Về cô gái La Thị Tám đầy nhiệt tình cách mạng, dũng cảm và mưu trí.

– Phương pháp thuyết minh được sử dụng:

Liệt kê: kể tên việc làm của 10 cô gái thanh niên xung phong.

Phương pháp nêu ví dụ: “ba lần bị bom nổ vui lấp… giao thông thông suốt”.

Phương pháp dùng số liệu: “Ngày 24/7/ 1968, sau 18 lần … hơi thở cuối cùng”, “trên một đoạn đường khoảng 20km mà có những 44 trọng điểm… hơn 2057 trận bom…”

Câu 4. Hãy cho biết cách phân loại sau đây của bạn lớp trưởng đối với những bạn học yếu trong lớp có hợp lý không: “Lớp ta có nhiều bạn học chưa tốt. Trong đó có những bạn có điều kiện học tốt nhưng ham chơi, nên học yếu. Có những bạn học được nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn, thường bỏ học, hoặc đi muộn nên học yếu. Lại có những bạn vốn kiến thức cơ sở yếu từ lớp dưới, tiếp thu chậm, nên học yếu. Đối với ba nhóm học sinh đó, chúng ta nên có những biện pháp khác nhau để giúp đỡ họ”.

– Cách phân loại của bạn lớp trưởng đối với những bạn học yếu trong lớp là hợp lý.

– Bởi cách phân loại này đã phân loại đúng nhóm đối tượng, không trùng lặp và không có trường hợp cùng thuộc nhiều nhóm.

Câu 1. Tác giả bài “Ôn dịch, thuốc lá” đã nghiên cứu, tìm hiểu rất kỹ để nên lên yêu cầu chống nạn thuốc lá. Em hãy chỉ ra phạm vi tìm hiểu vấn đề thể hiện trong bài viết.

– Kiến thức về y học:

Khói thuốc chứa nhiều chất độc.

Vòm họng, phế quản, nang phổi bị chất hắc ín trong khói thuốc làm tê liệt.

Khói thuốc gây ho hen viêm phế quản.

Trong khói thuốc lá có chất đi-ô-xin… giảm sút sức khỏe con người.

Khói thuốc ung thư vòm họng, ung thư phổi.

Chất ni-cô-tin trong thuốc lá làm huyết áp tăng cao, tắc động mạch, nhồi máu cơ tim.

– Hiểu biết về tâm lý xã hội:

“Bệnh viêm phế quản… hại sức khỏe cộng đồng”.

“Hút thuốc lá nơi công cộng… sinh con suy yếu”.

“Từ điếu thuốc sang cốc bia rồi đến ma túy… từ điếu thuốc”.

Câu 2. Bài viết đã sử dụng những phương pháp thuyết minh nào để nêu bật tác hại của thuốc lá?

So sánh: so sánh tác hại của thuốc lá với các căn bệnh khác, hay việc uống rượu.

Nêu ví dụ: Ở Bỉ, từ năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 đô la, tái phạm phạt 500 đô la.

Nêu số liệu: “Tỉ lệ thanh niên… trộm cắp”.

Câu 3. Đọc văn bản thuyết minh trong SGK và trả lời câu hỏi: Thuyết minh đòi hỏi những kiến thức như thế nào? Văn bản này đã sử dụng những phương pháp thuyết minh nào?

– Kiến thức cần có:

Vị trí địa lý của Ngã ba Đồng Lộc

Về tập thể 10 cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ san lấp hố bom, đào hầm, đảm bảo an toàn giao thông

Về cô gái La Thị Tám đầy nhiệt tình cách mạng, dũng cảm và mưu trí.

– Phương pháp thuyết minh được sử dụng:

Liệt kê: kể tên việc làm của 10 cô gái thanh niên xung phong.

Phương pháp nêu ví dụ: “ba lần bị bom nổ vui lấp… giao thông thông suốt”.

Phương pháp dùng số liệu: “Ngày 24/7/ 1968, sau 18 lần … hơi thở cuối cùng”, “trên một đoạn đường khoảng 20km mà có những 44 trọng điểm… hơn 2057 trận bom…”

Câu 4. Hãy cho biết cách phân loại sau đây của bạn lớp trưởng đối với những bạn học yếu trong lớp có hợp lý không: “Lớp ta có nhiều bạn học chưa tốt. Trong đó có những bạn có điều kiện học tốt nhưng ham chơi, nên học yếu. Có những bạn học được nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn, thường bỏ học, hoặc đi muộn nên học yếu. Lại có những bạn vốn kiến thức cơ sở yếu từ lớp dưới, tiếp thu chậm, nên học yếu. Đối với ba nhóm học sinh đó, chúng ta nên có những biện pháp khác nhau để giúp đỡ họ”.

Cách phân loại của bạn lớp trưởng đối với những bạn học yếu trong lớp là hợp lý. Vì cách phân loại này đã phân loại đúng nhóm đối tượng, không trùng lặp và không có trường hợp cùng thuộc nhiều nhóm.

Hãy viết một bài văn thuyết minh có sử dụng kết hợp các phương pháp thuyết minh.

Gợi ý:

Nam Cao (1917 – 1951) là một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. Ông có nhiều đóng góp quan trọng đối với hoàn thiện truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam hiện trên quá trình hiện đại hóa ở nửa đầu thế kỉ XX.

Nam Cao tên khai sinh là Trần Hữu Tri. Quê làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân (nay là xã Hoà Hậu, huyện Lý Nhân), tỉnh Hà Nam. Ông được coi là một nhà văn hiện thực xuất sắc trước Cách mạng tháng 8, với những truyện ngắn, truyện dài chân thực viết về người nông dân nghèo đói bị vùi dập và người trí thức nghèo sống mòn mỏi, bế tắc trong xã hội cũ. Sau Cách mạng, Nam Cao sáng tác tận tụy sáng tác phục vụ kháng chiến. Ông đã hy sinh trên đường vào công tác vùng sau lưng địch tháng 11 năm 1951.

Nam Cao luôn quan niệm rằng: “Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì đó lớn lao, mạnh mẽ, đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn” (Đời thừa, 1943). Đối với nghề viết văn, Nam Cao cho rằng: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có” (Đời thừa, 1943). Ông còn cho rằng: “Nghệ thuật vị nhân sinh” – văn chương phải hướng đến cuộc sống của con người.

Nam Cao là nhà văn có biệt tài diễn tả, phân tích tâm lí nhân vật. Nam Cao tỏ ra sắc sảo trong việc phân tích, diễn tả những trạng thái, quá trình tâm lý phức tạp, hiện tượng lưỡng tính dở say dở tỉnh, dở khóc dở cười… Ngoài ra, ông còn tạo được những đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm rất chân thật, sinh động.

Các sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng xoay quanh hai mảng đề tài chính: người trí thức nghèo và người nông dân nghèo. Về mảng đề tài người trí thức nghèo, Nam Cao miêu tả sâu sắc tấn bi kịch tinh thần của người trí thức nghèo trong xã hội đương thời trước 1945, đó là những “giáo khổ trường tư” – những nhà văn nghèo, những viên chức nhỏ. Họ là những trí thức có hoài bão, tâm huyết và tài năng; nhưng lại bị gánh nặng áo cơm và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho “chết mòn” và phải sống như “một kẻ vô ích, một người thừa”. Qua đó nhà văn muốn phê phán sâu sắc xã hội ngột ngạt, phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người, đồng thời nói lên khao khát một lẽ sống lớn, có ích, có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người. Về mảng đề tài người nông dân nghèo, Nam Cao đã vẽ lên một bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám với cảnh nghèo đói, xơ xác và thậm chí bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa. Nam Cao không hề bôi nhọ người nông dân, trái lại, đã đi sâu vào nội tâm nhân vật để khẳng định nhân phẩm và bản chất lương thiện ngay cả khi bị vùi dập, cướp mất cà nhân hình, nhân tính của người nông dân. Đồng thời, ông cũng kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo đó trước 1945. Sau Cách mạng, Nam Cao là cây bút tiêu biểu của văn học giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) với những tác phẩm phục vụ cuộc kháng chiến.

Các tác phẩm của Nam Cao thuộc nhiều thể loại khác nhau. Về truyện ngắn có Chí Phèo (1941), Giăng sáng (1942), Đời thừa (1943), Một đám cưới (1944), Đôi mắt (1948)…; tiểu thuyết: Sống mòn (1944)…; thể loại khác: Nhật kí ở rừng (1948), kí sự Chuyện biên giới (1951)…

Một trong những tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao có thể kể đến truyện ngắn Chí Phèo. “Chí Phèo” là một trong những truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Nam Cao. Truyện ban đầu có tên là Cái lò gạch cũ. Nhưng khi in thành sách lần đầu, nhà xuất bản đã tự đổi tên là Đôi lứa xứng đôi (NXB Đời mới, Hà Nội, 1941). Năm 1946, khi in lại trong tập Luống cày, Nam Cao đã đổi tên thành Chí Phèo. Chí Phèo là một trong những kiệt tác văn xuôi Việt Nam hiện đại với giá trị hiện thực và nhân văn sâu sắc. Truyện kể về cuộc đời của Chí Phèo – một đứa trẻ mồ côi bị bỏ lại trong một cái lò gạch bỏ không. Sau này, Chí được dân làng truyền tay nhau nuôi lớn. Đến năm hai mươi tuổi, Chí đến làm canh điền cho nhà Bá Kiến. Chỉ vì một chuyện ghen tuông không đâu, bá Kiến đã đẩy Chí đi ở tù. Khi từ tù ra, Chí Phèo đã hoàn toàn thay đổi cả về nhân hình lẫn nhân tính. Hắn trở thành tay sai đi đòi nợ thuê cho Bá Kiến, chuyên đi uống rượu và vạch mặt ăn vạ. Cả làng Vũ Đại đều sợ Chí. Tình cờ, một lần Chí Phèo đã gặp Thị Nở – người đàn bà xấu đến ma chê quỷ hờn. Hắn ôm chầm lấy Thị Nở và ăn nằm với Thị. Sáng hôm sau, Chí Phèo bị cảm, Thị Nở nấu cho Chí bát cháo hành để giải rượu. Chính bát cháo đã làm Chí Phèo thức tỉnh, khao khát trở về làm người lương thiện. Nhưng lời nói của bà cô do thị Nở nhắc lại khiến Chí đau đớn và tuyệt vọng. Hắn uống rượu và xác dao định đến nhà đâm chết thị và bà cô. Nhưng Chí lại đến nhà đâm chết Bá Kiến rồi tự sát. Chí Phèo là nhân vật điển hình, có tính khái quát cho một bộ phận nhân dân lương thiện bị đẩy vào con đường lưu manh, tha hóa. Với nhân vật này, nhà văn đã kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo đã tàn phá cả thế xác lẫn tâm hồn của người nông dân lao động. Đồng thời, qua đó Nam Cao cũng khẳng định bản chất lương thiện của họ ngay cả khi bị vùi dập mất cả nhân hình, nhân tính. “Chí Phèo” đã trở thành một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nam Cao.

Advertisement

Có thể thấy, Nam Cao là một nhà văn đã có những đóng góp to lớn cho nền văn học Việt Nam hiện đại. Các tác phẩm của ông đã để lại nhiều bài học giá trị sâu sắc cho người đọc.

– Các phương pháp thuyết minh được sử dụng:

Giải thích: Nam Cao (1917 – 1951) là một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn; “Chí Phèo” là một trong những truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Nam Cao…

Liệt kê: Về truyện ngắn có Chí Phèo (1941), Giăng sáng (1942), Đời thừa (1943), Một đám cưới (1944), Đôi mắt (1948)…; tiểu thuyết: Sống mòn (1944)…; thể loại khác: Nhật kí ở rừng (1948), kí sự Chuyện biên giới (1951)…

Nêu ví dụ: Truyện ngắn Chí Phèo…

Câu 1.

Tác giả bài “Ôn dịch, thuốc lá” đã nghiên cứu, tìm hiểu rất kỹ để nên lên yêu cầu chống nạn thuốc lá. Phạm vi tìm hiểu vấn đề thể hiện trong bài viết:

Y học: Thuốc lá gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

Văn hóa – xã hội: Nghiện thuốc lá dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội…

Câu 2.

Bài viết đã sử dụng những phương pháp thuyết minh để nêu bật tác hại của thuốc lá:

So sánh: Tác hại của thuốc lá với các căn bệnh khác, hay việc uống rượu.

Nêu ví dụ: Ở Bỉ, từ năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 đô la, tái phạm phạt 500 đô la.

Nêu số liệu: “Tỉ lệ thanh niên… trộm cắp”.

Câu 3.

– Thuyết minh đòi hỏi những kiến thức:

Vị trí địa lý của Ngã ba Đồng Lộc

Về tập thể 10 cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ san lấp hố bom, đào hầm, đảm bảo an toàn giao thông

Về cô gái La Thị Tám đầy nhiệt tình cách mạng, dũng cảm và mưu trí.

– Văn bản đã sử dụng phương pháp:

Liệt kê: kể tên việc làm của 10 cô gái thanh niên xung phong.

Nêu ví dụ: “ba lần bị bom nổ vui lấp… giao thông thông suốt”.

Dùng số liệu: “Ngày 24/7/ 1968, sau 18 lần … hơi thở cuối cùng”, “trên một đoạn đường khoảng 20km mà có những 44 trọng điểm… hơn 2057 trận bom…”

Câu 4.

Cách phân loại của bạn lớp trưởng đối với những bạn học yếu trong lớp là hợp lý.

Vì cách phân loại này đã phân loại đúng nhóm đối tượng, không trùng lặp và không có trường hợp cùng thuộc nhiều nhóm.

Soạn Bài Ôn Tập Văn Học Trung Đại Việt Nam Soạn Văn 11 Tập 1 Tuần 8 (Trang 76)

Mong rằng đây là sẽ là tài liệu hữu ích để học sinh lớp 11 có thể chuẩn bị bài trước khi đến lớp.

Câu 1. Những biểu hiện của nội dung yêu nước trong văn học Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX. So với các giai đoạn trước, nội dung yêu nước trong văn học giai đoạn này có biểu hiện gì mới?

– Những biểu hiện của nội dung yêu nước trong văn học Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX: Yêu nước gắn với lí tưởng trung quân ái quốc, lòng căm thù giặc sâu sắc, đấu tranh cho khát vọng tự do hạnh phúc của con người.

– So với các giai đoạn trước, nội dung yêu nước trong văn học giai đoạn này có biểu hiện gì mới: Mang âm hưởng bi tráng, tư tưởng canh tân đất nước.

– Phân tích những biểu hiện của nội dung yêu nước qua các tác phẩm, đoạn trích:

Ý thức về vai trò của người trí thức đối với đất nước (Chiếu cầu hiền, Ngô Thì Nhậm).

Tư tưởng canh tân đất nước (Xin lập khoa luật, Nguyễn Trường Tộ).

Tìm hướng đi cho cuộc đời trong hoàn cảnh bế tắc (Bài ca ngắn đi trên bãi cát, Cao Bá Quát).

Cảm hứng bi tráng gắn với hoàn cảnh lịch sử (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu)…

Câu 2. Theo anh (chị) vì sao có thể nói văn học từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX xuất hiện trào lưu nhân đạo chủ nghĩa? Hãy chỉ ra những biểu hiện phong phú, đa dạng của nội dung nhân đạo trong giai đoạn này. Anh (chị) hãy cho biết: vấn đề cơ bản nhất của nội dung nhân đạo trong văn học thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX là gì?

– Văn học từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX xuất hiện trào lưu nhân đạo chủ nghĩa vì: Các tác phẩm văn học giai đoạn này tập trung vào con người, đặc biệt con người trần thế với ý thức cá nhân đậm nét hơn (quyền sống cá nhân, hạnh phúc cá nhân, tài năng cá nhân…)

– Những biểu hiện phong phú, đa dạng của nội dung nhân đạo trong giai đoạn này:

Khẳng định quyền sống, đòi hạnh phúc cho con người, đặc biệt là người phụ nữ.

Khẳng định và đề cao tài năng, nhân phẩm.

Tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên con người.

Đề cao truyền thống đạo lí, nhân nghĩa của dân tộc.

Khẳng định con người cá nhân.

– Chứng minh qua các tác phẩm:

Truyện Kiều (Nguyễn Du): Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo cũng như là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người. Đó còn là tiếng nói khẳng định đề cao tài năng, nhân phẩm và khát vọng chân chính của con người.

Chinh phụ ngâm (Đoàn Thị Điểm): Thể hiện khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

Thơ Hồ Xuân Hương: Con người cá nhân bản năng, khao khát sống, khao khát hạnh phúc, tìm kiếm tình yêu đích thực, dám nói lên một cách thẳng thắn những ước muốn

Truyện Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu): Con người cá nhân nghĩa hiệp và hành động theo những chuẩn mực đạo đức Nho giáo.

Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ): Khẳng định cá tính, sự mong muốn vượt ngoài quan điểm đạo đức Nho gia thông thường. Cái ngất ngưởng của ông không phải là cách sống tiêu cực mà sự khẳng định bản thân của mình, cái bản lĩnh dám sống ở đời, và một phong cách sống tài hoa tài tử.

Thương vợ (Trần Tú Xương): Bài thơ Thương vợ đã ghi lại chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, giàu đức hi sinh. . Đồng thời, nhà thơ cũng tố cáo cái xã hội để cho sự bất công được hiện diện một cách hiển nhiên.

Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến): Bài thơ đã cho thấy tình bạn tri kỷ thắm thiết của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê qua tâm trạng của nhà thơ trước sự ra đi của bạn.

Câu 3. Phân tích giá trị phản ánh và phê phán hiện thực của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh.

Tái hiện một bức tranh chân thực về cuộc sống xa hoa nhưng ngột ngạt, yếm khí nơi phủ chúa.

Sự lộng quyền của nhà chúa với quyền uy tối thượng và nếp sống hưởng thụ cực kỳ xa hoa của chúa Trịnh cùng gia đình.

Hình ảnh suy yếu mục ruỗng của tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh những năm cuối TK XVIII.

Câu 4. Những giá trị nội dung và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu? Tại sao nói, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, lần đầu tiên trong văn học dân tộc có một tượng đài bi tráng và bất tử về người nông dân nghĩa sĩ.

– Nội dung thơ văn:

Lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa.

Lòng yêu nước thương dân:

– Nghệ thuật thơ văn:

Vẻ đẹp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ẩn trong tầng sâu của cảm xúc, suy ngẫm.

Bút pháp trữ tình xuất phát từ cõi tâm trong sáng, nhiệt thành và đầy tình yêu thương con người.

Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đậm đà sắc thái Nam Bộ.

Lối thơ thiên về kể trong các truyện của ông cũng mang màu sắc diễn xướng rất phổ biến trong văn học dân gian Nam Bộ.

– Qua tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa hoàn chỉnh chân dung người nông dân từ xuất thân, hoàn cảnh, lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu của họ.

Câu 1.

STT

Tên tác giả

Tên tác phẩm

Những đặc điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật

1

Lê Hữu Trác

Vào phủ chúa Trịnh

– Qua đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh, tác giả đã vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa, quyền quý của chúa Trịnh, đồng thời bộc lộ thái độ coi thường danh lợi.

– Ngòi bút ghi chép chi tiết, chân thực, sắc sảo…

2

Hồ Xuân Hương

Tự tình (II)

– Nội dung: Tự tình (bài II) đã thể hiện tâm trạng, thái độ của Hồ Xuân Hương: vừa đau buồn, vừa phẫn uất trước duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch.

– Nghệ thuật sử dụng từ ngữ, xây dựng hình tượng…

3

Nguyễn Khuyến

Câu cá mùa thu

– Bài thơ Câu cá mùa thu thể hiện sự cảm nhận và nghệ thuật gợi cảm tinh tế của Nguyễn Khuyến về cảnh sắc mùa thu đồng bằng Bắc bộ. Đồng thời, bài thơ cũng cho thấy tình yêu thiên nhiên, đất nước của tác giả.

– Nghệ thuật: sử dụng từ ngữ hình ảnh độc đáo…

4

Trần Tế Xương

Thương vợ

– Bài thơ Thương vợ đã ghi lại chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, giàu đức hi sinh.

– Từ ngữ giản dị, lời thơ giản dị mà sâu sắc, cảm xúc chân thành…

5

Nguyễn Khuyến

Khóc Dương Khuê

– Bài thơ Khóc Dương Khuê đã cho thấy tình bạn tri kỷ thắm thiết của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê qua tâm trạng của nhà thơ trước sự ra đi của bạn.

– Sử dụng biện pháp tu từ, điển cố điển tích…

6

Trần Tế Xương

Vịnh khoa thi Hương

– Tác giả đã khắc khắc họa khung cảnh trường thi nhốn nháo, để làm bật lên tiếng cười chua chát về cảnh ngộ mất nước trong buổi đầu của xã hội thực dân nửa phong kiến.

– Sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ như đối, câu hỏi tu từ…

7

Nguyễn Công Trứ

Bài ca ngất ngưởng

– Ngất ngưởng là cách Nguyễn Công Trứ thể hiện bản lĩnh cá nhân trong cuộc sống.

– Thể loại hát nói đặc sắc, giọng thơ hóm hỉnh, sử dụng điển cố điển tích…

8

Cao Bá Quát

Bài ca ngắn đi trên bãi cát

– Bài ca ngắn đi trên bãi cát biểu lộ sự chán ghét của một người trí thức đối với con đường danh lợi tâm thường đương thời và niềm khao khát thay đổi cuộc sống.

– Sử dụng biện pháp tu từ, nhịp thơ độc đáo, giàu hình ảnh mang tính biểu tượng…

9

Nguyễn Đình Chiểu

Lẽ ghét thương (trích Lục Vân Tiên)

– Đoạn trích Lẽ ghét thương nói lên tình cảm yêu, ghét rất phân minh, mãnh liệt và tấm lòng thương dân sâu sắc của Nguyễn Đình Chiểu.

– Lời thơ mộc mạc, chân chất; sử dụng các biện pháp tu từ…

10

Nguyễn Đình Chiểu

Chạy giặc

– Bài thơ Chạy giặc đã khắc họa khung cảnh tan tác, đau thương của đất nước khi giặc Pháp đến xâm lược.

– Nghệ thuật: sử dụng biện pháp tu từ, bút pháp tả thực…

11

Chu Mạnh Trinh

Bài ca phong cảnh Hương Sơn

– Bài thơ miêu tả vẻ đẹp của phong cảnh Hương Sơn. Qua đó tác giả gửi gắm tình yêu thiên nhiên gắn với tình yêu đất nước.

– Từ ngữ hình ảnh, ngôn ngữ khoáng đạt…

12

Nguyễn Đình Chiểu

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

– Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc bi tráng cho một thời kỳ lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tượng đài bất tử về những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì tổ quốc.

– Bài văn cũng là một thành tựu xuất sắc về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính hiện thực, ngôn ngữ bình dị trong sáng sinh động…

13

Ngô Thì Nhậm

Chiếu cầu hiền

– Chiếu cầu hiền đã thể hiện chủ trương của đúng đắn của nhà Tây Sơn nhằm động viên trí thức Bắc Hà tham gia xây dựng đất nước.

– Nghệ thuật thuyết phục đặc sắc, các biện pháp tu từ như so sánh…

Câu 2.

a. Anh (chị) hãy chỉ ra những yếu tố mang tính quy phạm và sự sáng tạo trong tính quy phạm ở bài Câu cá mùa thu.

– Tính quy phạm: thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật…

– Phá vỡ tính quy phạm:

Khung cảnh thiên nhiên được khắc họa với những hình ảnh độc đáo mang màu sắc đặc trưng của vùng quê Đồng bằng Bắc Bộ.

Cách gieo vần: gieo vần eo (veo – teo – vèo – teo – bèo). Đây vốn là một vần rất khó để vào mạch nhưng lại được Nguyễn Khuyến sử dụng khéo léo, tinh tế.

b. Hãy chỉ ra một số điển tích, điển cố trong trích đoạn Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu), Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát), Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ) mà anh chị đã học, đồng thời phân tích cái hay của việc sử dụng những điển tích, điển cố đó.

– Truyện Lục Vân Tiên:

Kiệt, Trụ, Lệ, U, Ngũ bá: những triều đại trong lịch sử Trung Quốc với những ông vua hoang dâm, vô đạo, những thời đại đổ nát, hoang tàn. Qua đó nhấn mạnh sự “ghét” của ông quán.

Khổng Tử, Nhan Tử, Gia Cát, Nguyên Lượng, Hàn Vũ, Liêm, Lạc: những điển tích về người có tài, có đức nhưng chịu cuộc đời vất vả, bị gièm pha. Từ đó khẳng định tấm lòng ông Quán về tình yêu thương

– Bài ca ngất ngưởng: phơi phới ngọn đông phong, phường Hàn Phú… nhằm nói lên cái thú tiêu dao của một người nằm ngoài vòng danh lợi, khẳng định lối sống ngất ngưởng của mình, đặt mình với những bậc tiền bối ngày xưa…

– Bài ca ngắn đi trên bãi cát: ông tiên ngủ kĩ, danh lợi… là những điển tích, điển cố, những thi liệu Hán được Cao Bá Quát dùng để bộc lộ sự chán ghét của người trí thức đối với con đường danh lợi tầm thường đồng thời thể hiện khao khát thay đổi cuộc sống.

Advertisement

c. Bút pháp tượng trưng thể hiện thế nào qua Bài ca ngắn đi trên bãi cát.

– Hình ảnh “bãi cát”: tượng trưng cho con đường công danh gian khổ.

– Hình ảnh người đi trên bãi cát:

“Đi một bước như lùi một bước”: vất vả, nhọc nhằn.

“Mặt trời đã lặn, vẫn còn đi”: tối tăm, mù mịt vẫn bước đi.

“Lữ khách trên đường nước mắt rơi”: mệt mỏi, chán chường.

– Khúc đường cùng: hình ảnh biểu tượng cho nỗi tuyệt vọng của tác giả.

d.

– Một số tác phẩm văn học trung đại mà tên thể loại gắn với tác phẩm:

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Bài ca ngất ngưởng.

Chiếu dời đô.

Bình Ngô đại cáo.

Hịch tướng sĩ.

Hoàng lê nhất thống chí.

Thượng kinh kí sự.

Vũ trung tùy bút.

– Đặc điểm về hình thức nghệ thuật của thơ đường luật được thể hiện qua: Luật, Niêm, Vần, Đối, Bố cục.

– Tính chất đối trong thơ thất ngôn bát cú: đối âm, đối ý…

– Nêu những đặc điểm của thể loại văn tế. Đặc điểm đó được thể hiện như thế nào trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)?

Văn tế (ngày nay gọi là điếu văn) là thể văn thường dùng để đọc khi tế, cúng người chết, nó có hình thức tế – tưởng.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: Đảm bảo nghiêm ngặt thể loại văn tế, nhưng mang tinh thần thời đại, mang tính hiện đại, vượt hơn hẳn những bài văn tế thông thường.

– Đặc điểm của hát nói được thể hiện như thế nào trong Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ):

Nội dung: Chứa những tư tưởng tình cảm tự do phóng khoáng. Trong Bài ca ngất ngưởng, Nguyễn Công Trứ đã cho thấy lối sống rất “ngông” của ông. Cái ngất ngưởng của ông không phải là cách sống tiêu cực mà sự khẳng định bản thân của mình, cái bản lĩnh dám sống ở đời, và một phong cách sống tài hoa tài tử.

Hình thức: tự do, vần nhịp tự do, lời thơ mang ngữ điệu nói với giọng buông thả tự do (Bài thơ có giọng thơ hóm hỉnh, sử dụng điển cố điển tích…)

Soạn Bài Hầu Trời Soạn Văn 11 Tập 2 Bài 20 (Trang 12)

Soạn bài Hầu trời

Soạn bài Hầu Trời – Mẫu 1 Soạn văn Hầu Trời chi tiết

I. Tác giả

– Tản Đà (1889 – 1939), tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu.

– Quê ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Ba Vì, Hà Nội).

– Ông xuất thân là nhà Nho, từng hai lần lều chõng nhưng đều không đỗ đạt. Sau đó, Tản Đà chuyển sang sáng tác văn chương quốc ngữ và sớm gây được tiếng vang lớn vào những năm 20 của thế kỷ XX.

– Thơ ông tràn đầy cảm xúc lãng mạn lại rất đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều sáng tạo mới mẻ.

– Ngoài thơ, Tản Đà cũng sáng tác văn xuôi với nhiều bài tản văn, tùy bút, tự truyện.

– Một số tác phẩm chính: Khối tình con I, II (thơ, 1917); Giấc mộng con I (tiểu thuyết, năm 1917), Thề non nước (tiểu thuyết, 1920), Giấc mộng con II (Du ký, 1932), Giấc mộng lớn (tự truyện, 1932)…

II. Tác phẩm

1. Xuất xứ

Bài thơ “Hầu Trời” in trong tập “Còn chơi”, xuất bản lần đầu năm 1921.

2. Bố cục

Gồm 3 phần:

Phần 1: Từ đầu đến “Thật được lên tiên – sướng lạ lùng”. Giới thiệu về thời gian và hoàn cảnh được lên trời chơi.

Phần 2. Tiếp theo đến “Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe.

Phần 3. Còn lại. Thi nhân bày tỏ nỗi niềm tâm sự với Trời về chính mình.

3. Tóm tắt

Thi nhân đêm khuya buồn không ngủ được bằng đun nước uống rồi nằm ngâm thơ, ngắm trăng. Giọng thơ hay đến nỗi vang vọng tới trời cao. Trời sai hai tiên nữ xuống mời thi sĩ lên hầu chuyện. Thi sĩ rất thích thú khi được lên tiên chơi và được thể hiện tài năng “đọc hết văn vần lẫn văn xuôi”, cả Trời và các chư tiên nghe xong thích thú, khen thưởng. Trời hỏi thi sĩ họ tên, người phương nào, thi sĩ xưng tên của mình và kể về tình cảnh khốn khó khi theo đuổi nghề văn dưới trần. Trời động viên, an ủi, thi sĩ cảm tạ rồi được đưa về trần. Sau cùng là cuộc chia tay của Trời, chư tiên với thi sĩ.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Giới thiệu về thời gian và hoàn cảnh được lên trời chơi

– Thời gian: đêm trăng

– Hoàn cảnh: Thi nhân đọc thơ, tiếng thơ vang vọng khiến Trời mất ngủ. Trời cho người xuống mời thi nhân lên hầu trời.

– Cảm nhận của thi nhân: “Chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng/ Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!/ Thật được lên tiên – sướng lạ lùng”.

2. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe

– Không khí trên trời, cách đón tiếp “trời sai tiên nữ dắt lôi dậy, truyền cho văn sĩ ngồi chơi đấy, chư tiên ngồi quanh đã yên lặng”: cách đón tiếp trang trọng, hiếu khách và phù hợp với buổi đọc thơ.

– Thi nhân xin phép được đọc, cao hứng và có phần tự đắc: đọc hết văn vần sang văn xuôi, hết văn lý thuyết lại văn chơi… để phô diễn hết tài năng của mình.

– Cảm nhận của Trời và chư tiên: “văn dài hơi tốt”, “Trời cũng lấy làm hay”, “Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi”, “Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày’’, “Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng”, “đọc xong mỗi bài cũng vỗ tay”. Tất cả đã thể hiện được sự thích thú, say mê với thơ của thi sĩ.

– Thi sĩ bắt đầu giới thiệu các tác phẩm của mình một cách đầy đủ: tên sách – thể loại.

– Lời khen của Trời: “văn giàu thay lại lắm lối”, “Trời nghe xong cũng phải buồn cười”, chư tiên thi nhau nhờ thi nhân “gánh lên bán chợ Trời”…

3. Thi nhân bày tỏ nỗi niềm tâm sự với Trời về chính mình

– Hoàn cảnh: Sau khi khen ngợi văn chương của thi nhân, Trời hỏi về nguồn gốc của thi nhân.

– Thi nhân giới thiệu về bản thân:

Tên: Tên Khắc Hiếu, họ Nguyễn.

Quê quán: núi Tản, sông Đà, nước Việt.

Thân thế: một vị tiên bị đày xuống hạ giới vì tội “ngông”.

Thiên chức: Trời giải thích đó không phải là do Trời đày, mà muốn sai thi nhân việc truyền bá thiên thương cho nhân loại.

– Thi nhân nói về tình cảnh của người theo đuổi nghiệp văn:

Văn chương ở hạ giới rẻ như bèo.

Cuộc sống của người viết văn nghèo khó, thân phận bị rẻ rúng…

Tổng kết:

– Nội dung: Qua Hầu Trời, Tản Đà đã bộc lộ cái tôi cá nhân – một cái tôi rất ngông, phóng túng. Từ đó, nhà thơ thể hiện được sự tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình, cũng như khát khao khẳng định giữa cuộc đời.

– Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn trường thiên, giọng điệu tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, sống động…

Soạn văn Hầu Trời ngắn gọn

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Anh (chị) hãy phân tích khổ thơ đầu. Cách vào đề của bài thơ gợi cho người đọc cảm giác như thế nào về câu chuyện mà tác giả sắp kể?

– Thời gian: đêm trăng

– Hoàn cảnh: Thi nhân đọc thơ, tiếng thơ vang vọng khiến Trời mất ngủ. Trời cho người xuống mời thi nhân lên hầu trời.

– Cảm nhận của thi nhân: “Chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng/ Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!/ Thật được lên tiên – sướng lạ lùng”.

Câu 2. Tác giả đã kể lại chuyện mình đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe như thế nào? (Thái độ của tác giả, của chư tiên và những lời khen của Trời). Qua đoạn thơ đó, anh (chị) cảm nhận được những điều gì về cá tính nhà thơ và niềm khao khát chân thành của thi sĩ? Nhận xét về giọng kể của tác giả.

– Thi nhân xin phép được đọc, cao hứng và có phần tự đắc: đọc hết văn vần sang văn xuôi, hết văn lý thuyết lại văn chơi… để phô diễn hết tài năng của mình.

– Cảm nhận của Trời và chư tiên: “văn dài hơi tốt”, “Trời cũng lấy làm hay”, “Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi”, “Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày’’, “Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng”, “đọc xong mỗi bài cũng vỗ tay”. Tất cả đã thể hiện được sự thích thú, say mê với thơ của thi sĩ.

– Thi sĩ bắt đầu giới thiệu các tác phẩm của mình một cách đầy đủ: tên sách – thể loại.

– Lời khen của Trời: “văn giàu thay lại lắm lối”, “Trời nghe xong cũng phải buồn cười”, chư tiên thi nhau nhờ thi nhân “gánh lên bán chợ Trời”…

– Giọng văn: tự nhiên, thoải mái và có phần hóm hỉnh.

Câu 3. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong bài lại có một đoạn rất hiện thực. Đó là đoạn thơ nào? Tìm hiểu ý nghĩa đoạn thơ đó. Theo anh (chị), hai nguồn cảm hứng này ở thi sĩ Tản Đà có mối liên hệ với nhau như thế nào?

– Đoạn thơ hiện thực là:

– Ý nghĩa đoạn thơ: Bức tranh hiện thực về cuộc đời của chính nhà thơ ở nơi trần thế (cuộc sống cơ cực và đói khổ, văn chương không được coi trọng, làm không đủ ăn lại bị o ép quá nhiều…).

– Cảm hứng hiện thực trong đoạn thơ cho thấy Tản Đà không hề thoát ly cuộc sống, ông coi việc truyền bá thiên lương như một trách nhiệm quan trọng của cuộc sống.

Câu 4. Về mặt nghệ thuật, bài thơ này có gì mới và hay? (Chú ý các mặt: thể loại, ngôn từ, cách biểu hiện cảm xúc, hư cấu nghệ thuật…)

– Thể thơ: thất ngôn trường thiên khá tự do, không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu kết cấu nào, nguồn cảm xúc được bộc lộ thoải mái, tự nhiên, phóng túng.

– Ngôn ngữ thơ: chọn lọc, tinh tế, gợi cảm và rất gần với đời, không cách điệu, ước lệ.

– Cách kể chuyện: hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn được người đọc.

– Tác giả vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật trong câu chuyện mạch cảm xúc trong bài thơ tự do, không hề gò ép.

II. Luyện tập

Câu 1. Bài Hầu Trời có ý tưởng gì hoặc câu thơ nào làm cho anh (chị) thích thú nhất? Hãy viết một đoạn văn trình bày cảm xúc của mình.

Khi đọc bài thơ “Hầu Trời”, người đọc sẽ ấn tượng với ý tưởng của tác giả khi đưa ra trách nhiệm thực hiện thiên lương của mình. Trong cuộc trò chuyện với Trời, thi sĩ phát hiện ra mình là một trích tiên bị đày xuống trần gian vì tội “ngông”. Nhưng qua lời giải thích của Trời thì đó là nhiệm vụ “truyền bá thiên lương” cho nhân loại – một trách nhiệm quan trọng mà khó khăn. Qua đó, ta thấy được ý thức trách nhiệm của nhà thơ cũng như khao khát khẳng định giá trị của bản thân.

Câu 2. Anh (chị) hiểu thế nào là “ngông”? Cái “ngông” trong văn chương thường bộc lộ một thái độ sống như thế nào? (Có thể dẫn chứng qua những tác phẩm đã học). Cái “ngông” của thi sĩ Tản Đà trong bài thơ này biểu hiện ở những điểm nào và có thể giải thích ra sao?

– “Ngông” trong cuộc sống là có những lời nói, việc làm ngang tàng, khác lẽ thường, bất chấp sự khen chê của người đời. Còn “ngông” trong văn học là dùng để chỉ một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác thói thường có ở nhà văn, nhà thơ có ý thức cá nhân cao độ.

– Cái “ngông” của Tản Đà ở đây là:

Tự ý thức được tài năng của bản thân.

Không tìm thấy được sự đồng điệu nơi trần thế.

Ý thức trách nhiệm “thực hành thiên lương” quan trọng.

Khát khao khẳng định giá trị của bản thân trước cuộc đời.

Soạn bài Hầu Trời – Mẫu 2

Hướng dẫn trả lời câu hỏi:

Câu 1. Anh (chị) hãy phân tích khổ thơ đầu. Cách vào đề của bài thơ gợi cho người đọc cảm giác như thế nào về câu chuyện mà tác giả sắp kể?

– Phân tích khổ thơ đầu:

Thời gian: Đêm qua

Hoàn cảnh: Thi nhân đọc thơ, tiếng thơ vang vọng khiến Trời mất ngủ. Trời cho người xuống mời thi nhân lên hầu trời.

Cảm nhận của thi nhân “Chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng/ Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!/ Thật được lên tiên – sướng lạ lùng”.

– Cách vào đề của bài thơ “Đêm qua chẳng biết có hay không” gợi cho người đọc cảm giác nửa thật nửa ảo về câu chuyện sắp được kể, từ đó tạo sự tò mò, hấp dẫn.

Câu 2. Tác giả đã kể lại chuyện mình đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe như thế nào? (Thái độ của tác giả, của chư tiên và những lời khen của Trời). Qua đoạn thơ đó, anh (chị) cảm nhận được những điều gì về cá tính nhà thơ và niềm khao khát chân thành của thi sĩ? Nhận xét về giọng kể của tác giả.

Advertisement

– Tác giả đã kể lại chuyện mình đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe:

Thái độ của tác giả là cao hứng và có phần tự đắc “đọc hết văn vần sang văn xuôi, hết văn lý thuyết lại văn chơi…”.

Chư Tiên nghe thơ xong rất xúc động, tán thưởng và ngưỡng mộ tài thơ của Tản Đà: “Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi – Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày – Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng – Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay…”

Lời khen chân thành của Trời: “văn giàu thay lại lắm lối”, “Trời nghe xong cũng phải buồn cười”, chư tiên thi nhau nhờ thi nhân “gánh lên bán chợ Trời”…

– Cá tính nhà thơ và niềm khao khát chân thành của thi sĩ: Cá tính mạnh mẽ cùng khát khao tìm được tri kỉ của nhà thơ.

– Giọng kể của tác giả: Dí dỏm, hài hước.

Câu 3. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong bài lại có một đoạn rất hiện thực. Đó là đoạn thơ nào? Tìm hiểu ý nghĩa đoạn thơ đó. Theo anh (chị), hai nguồn cảm hứng này ở thi sĩ Tản Đà có mối liên hệ với nhau như thế nào?

– Đoạn thơ hiện thực là:

– Ý nghĩa đoạn thơ: Hiện thực cuộc sống của nhà thơ trần thế nói riêng hay cũng chính là cuộc sống cơ cực và đói khổ của nhà thơ, nhà văn nói chung khi văn chương không được coi trọng, làm không đủ ăn lại bị o ép quá nhiều….

– Cảm hứng hiện thực trong đoạn thơ cho thấy Tản Đà không hề thoát ly cuộc sống, ông coi việc truyền bá thiên lương như một trách nhiệm quan trọng của cuộc sống.

Câu 4. Về mặt nghệ thuật, bài thơ này có gì mới và hay? (Chú ý các mặt: thể loại, ngôn từ, cách biểu hiện cảm xúc, hư cấu nghệ thuật…)

Thể thơ thất ngôn trường thiên.

Ngôn ngữ tinh tế, gợi cảm nhưng cũng rất gần gũi với đời thường

Cách kể chuyện hóm hỉnh, duyên dáng

Tác giả vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật trong câu chuyện mạch cảm xúc trong bài thơ tự do, không hề gò ép.

Soạn Bài Tổng Kết Phần Tiếng Việt: Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ Soạn Văn 12 Tập 2 Tuần 32 (Trang 178)

1. 

– Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin của con người, được tiến hành chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ, nhằm thực hiện những mục đích về nhận thức, tình cảm, hành động.

– Hoạt động giao tiếp bằng ngônngữ bao gồm 2 quá trình: quá trình tạo lập văn bản do người nói hay người viết thực hiện, quá trình lĩnh hội văn bản do người nghe hay người đọc thực hiện. Hai quá trình này diễn ra đồng thời, tại cùng một địa điểm (hội thoại), cũng có thể ở các thời điểm mà khoảng không gian cách biết (qua văn bản viết).

2. 

– Trong hoạt động giao tiếp, ngôn ngữ được sử dụng ở hai dạng: nói và viết.

– Hai dạng này có sự khác biệt về điều kiện tạo lập và lĩnh hội văn bản, về đường kênh giao tiếp, về loại tín hiệu (âm thanh hay chữ viết), về các phương tiện phụ trợ (ngữ điệu, nét mặt…), về cách dùng từ, đặt câu và tổ chức văn bản…

3. 

– Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ luôn luôn diễn ra trong một ngữ cảnh nhất định.

– Ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ, làm cơ sở cho việc sử dụng ngôn ngữ và tạo lập văn bản, đồng thời làm căn cứ để lĩnh hội thấu đáo văn bản.

– Ngữ cảnh bao gồm: nhân vật giao tiếp, bối cảnh rộng (bối cảnh văn hóa), bối cảnh hẹp (bối cảnh tình huống), hiện thực được đề cập đến và văn cảnh.

4.

– Trong ngữ cảnh, nhân vật giao tiếp là nhân tố rất quan trọng.

– Các nhân vật giao tiếp có những đặc điểm về các phương diện: vị thế xã hội, quan hệ thân sơ, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tầng lớp xã hội, vốn sống, văn hóa…

5. 

– Khi giao tiếp, các nhân vật giao tiếp sử dụng ngôn ngữ chung của xã hội để tạo ra lời nói – những sản phẩm cụ thể của cá nhân.

– Trong hoạt động đó, các nhân vật giao tiếp vừa sử dụng những yếu tố của hệ thống ngôn ngữ chung và tuân thủ quy tắc, chuẩn mực chung, đồng thời biểu lộ những nét riêng trong năng lực ngôn ngữ của cá nhân.

6. 

– Trong giao tiếp, mỗi câu thường có hai phần thành nghĩa: nghĩa sự việc và nghĩa tình thái.

– Nghĩa sự việc ứng với sự việc mà câu đề cập đến, nghĩa tình thái thể hiện thái độ, tình cảm, sự nhìn nhận, đánh giá của người nói đối với sự việc, hoặc đối với người nghe.

7.

– Trong hoạt động giao tiếp, các nhân vật giao tiếp cần có ý thức, thói quen và kĩ năng giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

– Người viết cần nắm vững các chuẩn mực ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ đúng chuẩn mực, vận dụng linh hoạt sáng tạo ngôn ngữ theo quy tắc chung…

Đọc đoạn trích trong SGK và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:

1. Phân tích sự đổi vai và luân phiên lượt lời của hoạt động giao tiếp trong đoạn trích. Những đặc điểm của hoạt động giao tiếp ở dạng ngôn ngữ nói thể hiện qua những chi tiết nào trong đoạn trích (chú ý lời kể chuyện của tác giả và lời của các nhân vật).

– Sự đổi vai và luân phiên lượt lời của hoạt động giao tiếp diễn ra giữa hai nhân vật lão Hạc và ông giáo:

Lão Hạc: Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!

Ông giáo: Cụ bán rồi?

Lão Hạc: Bán rồi! Họ vừa bắt xong.

Ông giáo: Thế nó cho bắt à?

Lão Hạc: Khốn nạn… lừa nó!

Ông giáo: Cụ tứ tưởng… kiếp khác.

Lão Hạc: Ông giáo nói phải!… chẳng hạn!

Ông giáo: Kiếp ai…

Lão Hạc: Thế thì…

* Những đặc điểm của hoạt động giao tiếp ở dạng ngôn ngữ nói thể hiện qua những chi tiết:

– Ngữ cảnh: nhà ông giáo, lão Hạc sang nhà ông giáo để kể lại sự việc cho ông giáo nghe.

– Nhân vật giao tiếp: Lão Hạc và ông giáo luân phiên đổi lượt lời cho nhau, lão Hạc là người bắt đầu và kết thúc hoạt động giao tiếp.

– Ngữ điệu đa dạng: xót xa, đau đớn, than thở…

– Nhân vật giao tiếp có sử dụng các phương tiện hỗ trợ: nét mặt (cười như mếu), cử chỉ (mặt lão đột nhiên co rúm lại, cái đầu ngoẹo về một bên, cái miệng móm mém…).

– Ngôn ngữ: sử dụng nhiều khẩu ngữ (đi đời rồi, à, hu hu…)

2. Các nhân vật giao tiếp có vị thế xã hội, quan hệ thân sơ và những đặc điểm gì riêng biệt? Phân tích sự chi phối của những điều đó đến nội dung và cách thức nói trong lượt lời nói đầu tiên của Lão Hạc.

– Lão Hạc: một người nông dân nghèo khổ, vợ mất sớm, đứa con trai bỏ đi đồn điền cao su, chỉ còn con chó Vàng bầu bạn.

– Ông giáo: một trí thức nghèo, sống cùng vợ và các con.

– Mối quan hệ thân sơ: cả hai là hàng xóm của nhau, có chuyện gì lão Hạc cũng tâm sự với ông giáo.

– Sự chi phối của những yếu tố trên đến nội dung và cách thức nói trong lượt lời nói đầu tiên của Lão Hạc:

Nội dung của lời thoại: Lão Hạc sang nhà, thông báo với ông giáo về việc bán “Cậu Vàng”.

Cách thức nói của lão Hạc: nói trực tiếp sự việc.

Sắc thái lời nói: đau đớn xót xa khi thông báo việc bán cậu Vàng, thái độ kính trọng ông giáp.

3. Hãy phân tích nghĩa sự việc và nghĩa tình thái trong câu: “Bây giờ cu cậu mới biết là cu cậu chết!”.

– Nghĩa sự việc: thông báo sự việc cậu Vàng biết mình đã mắc lừa lão Hạc, nó sắp phải chết.

Advertisement

– Nghĩa tình thái: Lão Hạc yêu quý con Vàng (gọi nó là cu cậu), đau đớn và xót xa và dằn vặt trước sự lừa dối của bản thân đối với một con chó.

4. Trong đoạn trích có hoạt động giao tiếp ở dạng nói giữa hai nhân vật đồng thời khi người đọc đọc đoạn trích lại có một hoạt động giao tiếp nữa giữa họ và nhà văn Nam Cao. Hãy chỉ ra sự khác biệt giữa hai hoạt động giao tiếp đó.

– Hoạt động giao tiếp ở dạng nói giữa hai nhân vật: sự luân phiên đối vai lượt lời, có sự hỗ trợ bởi ngữ điệu, cử chỉ, ánh mắt…

– Hoạt động giao tiếp giữa nhà văn Nam Cao và bạn đọc: hoạt động giao tiếp gián tiếp (dạng viết). Nhà văn tạo lập văn bản ở thời điểm và không gian cách biệt với người đọc. Vì vậy, có những điều nhà văn muốn thông báo gửi gắm không được người đọc lĩnh hội hết. Ngược lại, có những điều người đọc lĩnh hội nằm ngoài ý định tạo lập của nhà văn.

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Chương Trình Địa Phương (Phần Tiếng Việt, Trang 175) Soạn Văn 9 Tập 1 Bài 13 trên website Krxx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!