Xu Hướng 3/2024 # Lễ Dạm Ngõ Là Gì # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Lễ Dạm Ngõ Là Gì được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Krxx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Lễ dạm ngõ là gì? Tổng quan về lễ dạm ngõ bạn cần biết Tổng quan về lễ dạm ngõ ? Định nghĩa lễ dạm ngõ là gì?

Lễ dạm ngõ, hay còn được gọi là lễ xem mặt hoặc đám nói theo cách gọi của người miền Nam, là một nghi lễ trọng đại trong phong tục hôn nhân của người Việt từ xưa đến nay. Thường diễn ra trước đám hỏi, đây là lần gặp gỡ chính thức đầu tiên giữa hai gia đình. Buổi lễ được tổ chức tại gia đình của cô dâu.

Ý nghĩa của lễ dạm ngõ mới nhất

Mục đích của lễ dạm ngõ là để hai gia đình có cơ hội trò chuyện, tìm hiểu nhau hơn về hoàn cảnh, điều kiện và gia phong của nhau. Ngoài ra, trong buổi lễ này, gia đình của chú rể sẽ gửi tặng sính lễ dạm ngõ cho gia đình của cô dâu. Gia đình cô dâu sẽ tiếp nhận lễ và đồng ý cho con gái được tiếp tục tìm hiểu và tính đến chuyện kết hôn.

Những thứ của lễ dạm ngõ cần chuẩn bị

Để tổ chức một buổi lễ dạm ngõ hoàn hảo, cả hai gia đình của chú rể và cô dâu đều phải chuẩn bị một số việc rất kỹ lưỡng. Vậy để biết cần chuẩn bị những gì cho lễ dạm ngõ, hãy để chúng mình tiết lộ cho bạn.

Thời gian tổ chức lễ dạm ngõ

Thời gian và ngày giờ tổ chức đám dạm ngõ không yêu cầu quá nghiêm ngặt như trong đám cưới. Thông thường, hai gia đình sẽ bàn bạc và chọn ngày tổ chức từ 3-4 tháng trước đám cưới. Thời điểm này được đề ra để giúp cả hai gia đình chuẩn bị cho buổi lễ dạm ngõ tốt hơn, tránh những sai sót không đáng có.

Trang trí lễ dạm ngõ đẹp

Trong lễ dạm ngõ, phòng tiếp khách của gia đình nhà gái nên được trang trí đơn giản. Sử dụng phông nền là các gam màu tươi sáng, dịu mát như xanh lá, xanh dương, hồng hoặc trắng để tạo không gian ấm cúng cho cuộc trò truyện. Trên bàn tiếp khách nên được bày trí những bình hoa nhỏ, ấm trà và một ít bánh kẹo để tăng thêm sự ấm áp cho buổi lễ.

Mâm cơm gia đình trong lễ dạm ngõ

Bên cạnh việc trang trí nhà cửa, một việc quan trọng khác của gia đình nhà gái trong lễ dạm ngõ là chuẩn bị mâm cơm để dùng sau khi trò chuyện. Mâm cơm không cần quá phức tạp, thường gồm 5-7 món, đầy đủ, tươm tất và hương vị đậm đà. Điều này thể hiện sự hiếu khách của gia đình nhà gái và cũng là một món quà đáp lễ đối với gia đình nhà trai.

Trang phục phù hợp cho cô dâu trong lễ dạm ngõ

Cô dâu thường chọn trang phục đơn giản, thanh lịch như đầm dài, váy xòe để tham dự lễ dạm ngõ. Các mẫu áo dài cô dâu, áo dài cách tân, áo dài truyền thống tại Áo Dài Tài Lộc được nhiều người ưa chuộng.

Chuẩn bị lễ vật cho lễ dạm ngõ

Các yêu cầu về lễ vật có thể khác nhau tùy theo vùng miền, tuy nhiên, đối với tất cả các nơi, lễ vật phải được chọn lọc ngon và đẹp để thể hiện sự tôn trọng. Sính lễ nhà trai thường bao gồm cơm trầu, chè rượu, bánh kẹo và hoa quả bày biện đẹp mắt. Nhà trai trao lễ cho nhà gái là nghi thức không được bỏ qua.

Thứ tự thực hiện trong lễ dạm ngõ

Các bước cần tuân theo trong lễ dạm ngõ như sau:

Nhà trai đến nhà gái đúng ngày giờ đã hẹn.

Hai gia đình gặp mặt, trao lễ vật và chia sẻ thông tin về hai con.

Đại diện nhà trai giới thiệu và nói chuyện với nhà gái để hai người có cơ hội tìm hiểu và tiến đến hôn nhân.

Đại diện nhà gái đáp lại và chia sẻ mong muốn của gia đình.

Cặp đôi thắp hương trước bàn thờ gia tiên.

Hai gia đình tiếp tục bàn về kế hoạch đám hỏi và đám cưới.

Nhà gái mời nhà trai dùng bữa cơm gia đình thân mật.

Những chia sẻ về lễ dạm ngõ đã cung cấp cho các bạn trẻ một cái nhìn tổng quan về buổi lễ và những bước cần chuẩn bị. Theo lời dạy của ông bà, “đầu xuôi đuôi lọt”, vì vậy để có một hôn nhân thành công và hạnh phúc, một lễ dạm ngõ hoàn hảo là bước khởi đầu quan trọng. Hãy bắt đầu viết câu chuyện tình yêu của bạn bằng một mở đầu ngọt ngào.

Đăng bởi: Vũ Thị Hường

Từ khoá: lễ dạm ngõ là gì

Lễ Ăn Hỏi Là Gì? Cách Tổ Chức Lễ Ăn Hỏi

Lễ ăn hỏi là gì?

Ý nghĩa của việc tổ chức lễ ăn hỏi

Tổ chức lễ ăn hỏi có cần xem ngày giờ?

Có 2 trường hợp tổ chức lễ ăn hỏi đó là :

– Tổ chức chung với ngày cưới. Trong trường hợp lễ hỏi và lễ cưới tổ chức chung 1 ngày thì khi xem ngày để làm đám cưới thì ngày đó cũng chính là ngày tổ chức đám hỏi luôn rồi.

Các thành phần tham dự lễ ăn hỏi

Thành phần tham dự lễ ăn hỏi của nhà trai

Thành phần tham dự lễ ăn hỏi của nhà trai thường gồm có: chú rể, cha mẹ và ông bà của chú rể, anh chị em của chú rể, họ hàng chú rể.

Thành phần tham dự lễ ăn hỏi của nhà gái

Đối với bên nhà gái thường gồm có: cô dâu, cha mẹ và ông bà của cô dâu, anh chị em của cô dâu, họ hàng bà con của cô dâu.

Cũng giống như về phía nhà trai, bên nhà gái cũng có một đội nữ nhận mâm quả do bên đàn trai trao. Số lượng người của đội nữ tương đương với số lượng bưng mâm quả của bên nhà trai.

Sính lễ trong lễ ăn hỏi

– Trầu cau – Cặp nhẫn cưới bằng vàng – Bánh cưới truyền thống của địa phương. Tùy thuộc vào mỗi vùng miền mà người ta dùng các loại bánh khác nhau như là bánh cốm, bánh xu xê, bánh pía, bánh kem, bánh lột da … – Hạt sen. Có nơi dùng hạt sen tươi, cũng có chỗ dùng hạt sen khô – Rượu và trà – Bao lì xì tiền nạp tài.

Ngoài ra, tùy theo tình hình kinh tế cũng như sự yêu cầu từ phía nhà gái mà lễ vật của lễ ăn hỏi còn có thêm nhưng thứ sau đây: heo quay, gà quay, gà luộc, xôi gấc, trái cây ngũ quả, trang sức cho cô dâu ….

Ý nghĩa của sính lễ trong lễ ăn hỏi

Các loại sính lễ cưới mà nhà trai mang sang tặng cho nhà gái chính là thể hiện lòng biết ơn của phía nhà trai đối với nhà gái đã có công sinh ra và dưỡng dục cô dâu. Mặt khác, sính lễ trong lễ hỏi cũng là một trong những thứ mà nhà trai mang sang để thuyết phục nhà gái chấp nhận, đồng ý để đôi trai gái đến với nhau và tiến đến lễ cưới.

Nếu nhà gái đồng ý nhận sính lễ thì xem như đồng ý với lời đề nghị hỏi cưới của nhà trai. Hai nhà sẽ bàn đế sính lễ, chọn ngày cưới, số lượng khách mời và số bàn tiệc cần phải đặt cho tiệc cưới của hai bạn trẻ.

Những thứ nhà trai cần chuẩn bị khi tổ chức lễ ăn hỏi

Ngoài ra, khi mang sính lễ sang nhà gái, cần phải có một đội bê tráp để mang sính lễ này trao cho nhà gái. Nếu có người thân, bạn bè thì có thể nhờ họ bê, nếu không đủ người thì phải tính đến phương án thuê các dịch vụ bê tráp.

Trong trường hợp là người thân và bạn bè bê tráp thì chuẩn bị trang phục giống nhau cho họ. Trường hợp tiết kiệm nhất đối với khoản trang phục cho đội bê tráp chính là yêu cầu mọi người mặc áo sơ mi trắng và quần tây đen. Đây là trang phục hầu như ai cũng có nên dễ dàng cho mọi người. Còn nếu chọn trang phục áo dài cho đội bê tráp thì chắc chắn bạn sẽ phải thuê chúng vì ít có bạn nam nào có áo dài lắm. Nếu có thì cũng khác nhau hoàn toàn về màu sắc lẫn kiểu dáng.

Những thứ nhà gái cần chuẩn bị khi tổ chức lễ ăn hỏi

Khác với nhà trai là khách sẽ đến, nhà gái sẽ đóng vai trò là chủ nhà. Với vai trò chủ nhà của mình, nhà gái sẽ phải chuẩn bị những thứ để đón tiếp khách. Việc chuẩn bị chu đáo để đón tiếp nhà trai không những thể hiện sự hiếu khách của bên nhà gái mà nó còn thể hiện sự tôn trọng đối với nhà trai nữa.

Việc không thể không làm khi chuẩn bị cho lễ ăn hỏi chính là dọn dẹp nhà cửa cho gọn gàng, có thể trang trí thêm trên trần hoặc tường các hoa văn hoặc giấy cho ngày cưới cho nhà thêm đẹp hơn.

Bàn ghế đón khách cũng phải được chuẩn bị trước, bàn nên phủ khăn bàn cho lịch sự. Nếu không có sẵn bàn ghế có thể đi thuê ở những dịch vụ chuyên cho thuê bàn ghế. Trà, bánh kẹo, trái cây nên được mua trước và chuẩn bị đầy đủ trên bàn để tiếp đãi nhà trai. Có thể bày thêm lọ hoa tươi, để tạo thêm điểm nhấn trên bàn.

Nếu chu đáo hơn, thậm chí nhà gái nên lesắp xếp nơi đậu xe cho nhà trai sao cho thuận tiện với việc đi lại, di chuẩn của họ.

Trình tự tổ chức lễ ăn hỏi theo phong tục truyền thống của người Việt

Mỗi một vùng miền có một cách tổ chức lễ ăn hỏi theo phong tục tập quán của địa phương mình. Mặc dù vậy, nhìn chung về trình tự tổ chức lễ ăn hỏi cũng theo những trình tự như sau:

Nhà trai chuẩn bị sính lễ và sang nhà gái

Trước khi nhà trai sang nhà gái để làm lễ ăn hỏi, họ phải chuẩn bị đầy đủ về chủng loại cũng như số lượng sính lễ mà nhà gái yêu cầu. Thêm vào đó, họ còn phải thuê mâm quả, tráp cưới để chứa các sính lễ trên.

Trao và nhận sính lễ cưới

Các sính lễ của nhà trai sẽ được đội bê tráp nhà trai mang sang nhà gái. Bên nhà gái cũng phải chuẩn bị sẵn số lượng nữ nhận tráp bằng với số lượng bê tráp của phía nhà trai.

Lễ trao nhận tráp sính lễ cưới được thực hiện ngay trước cửa của bên nhà gái. Sau khi trao nhận tráp xong, gia đình nhà gái sẽ trao lì xì cho cả đội bê tráp nhà trai và nhà gái để cám ơn họ đã đến tham dự và giúp đỡ mọi người trong lễ ăn hỏi.

Phát biểu trong lễ ăn hỏi

Có thể nói phát biểu là phần quan trọng trong lễ ăn hỏi. Nhà trai sẽ chọn ra một đại diện có tài ăn nói để đứng ra phát biểu. Nội dung của phần phát biểu của nhà trai bao gồm giới thiệu thành phần tham dự bên nhà trai, lý do đến thăm nhà gái hôm nay, giới thiệu sính lễ mang sang và cuối cùng là lời kết xin phép nhà gái nhận sính lễ và đồng ý với cho phép tổ chức hôn lễ cho 2 cháu.

Nhà gái cũng cử ra một đại diện đáp lại lời pháp biểu của nhà trai chấp nhận sính lễ và đồng ý cho 2 bạn trẻ tiến đến hôn nhân.

Cô dâu ra mắt hai gia đình

Thắp hương bàn thờ gia tiên nhà gái

Sau khi ra mắt, gia đình nhà gái sẽ hướng dẫn cô dâu và chú rể làm lễ ra mắt gia tiên nhà gái bằng cách thắp hương lên bàn thờ gia tiên đã được nhà gái chuẩn bị sẵn.

Ý nghĩa của lễ gia tiên chính là thông báo đến tổ tiên nhà gái họ đã chọn được rể hiền cho người con gái trong gia đình. Họ mong tổ tiên chứng giám và phù hộ cho hai cháu có được cuộc sống hạnh phúc sau khi đám cưới

Bàn bạc tổ chức đám cưới

Nhà gái lại quả cho nhà trai

Những lễ vật, sính lễ cưới mà nhà trai mang sang nhà gái sẽ được bên nhà gái lấy ra một ít, để lại vào 1 tráp nhỏ để biếu tặng lại cho nhà trai. Nghi lễ này gọi là lại quả. Cần phải lưu ý khi tháo các sính lễ cưới và chia sính lễ để thực hiện lại quả phải thực hiện bằng tay, không được sử dụng dao kéo. Người ta cho rằng sử dụng dao kéo để cắt sính lễ sẽ mang ý nghĩa không hay trong hôn nhân. Vì dùng dao kéo sẽ mang ý nghĩa bị chia cắt.

Nhà gái mời đoàn nhà trai dùng bữa cơm thân mật.

Theo truyền thống thì nhà gái sẽ giữ các đại diện nhà trai tham dự lễ ăn hỏi ở lại sau buổi lễ để dùng một bữa cơm thân mật với bên nhà gái. Bữa cơm này có thể được tổ chức tại tư gia hoặc có thể đặt tại một nhà hàng hoặc một quán ăn gần nhà nào đó, miễn sao cho thuận tiện cho cả hai bên là được.

Trang phục của cô dâu và chú rể trong lễ ăn hỏi

Trang phục của cô dâu khi tổ chức lễ hỏi và lễ cưới chung 1 ngày

Trang phục áo dài truyền thống của Việt Nam

Từ ngàn năm nay, chiếc áo dài Việt Nam được xem là “Quốc hồn, quốc túy” của dân tộc chúng ta. Nó được xem là biểu tượng của đất nước hình chữ S. Chính vì vậy, sẽ không có gì ngạc nhiên khi trang phục áo dài truyền thống của Việt Nam được rất nhiều cô dâu chọn khi làm lễ hỏi kết hợp với lễ cưới.

Chiếc áo dài tôn thêm nét duyên dáng cho cô dâu. Chiếc áo tạo nên vẻ đẹp giản dị, đơn giản, nó được may ôm sát cơ thể tạo nên những đường cong duyên dáng những không kém phần kín đáo và gợi cảm.

Trang phục váy cưới

Váy cưới là loại trang phục có nguồn góc từ phương Tây. Qua thời gian nó được biến tấu thành rất nhiều kiểu dáng khác nhau. Có thể thấy phổ biến là các loại váy cưới dạng công chúa, váy cưới chữ A, váy cưới đuôi cá …

Tùy thuộc vào vóc dáng của mình mà các cô dâu có thể chọn cho mình chiếc váy phù hợp. Một gợi ý là không nên chọn chiếc áo đuôi quá dài trong lễ hỏi và lễ cưới tại nhà vì nó hơi vướng víu. Nên chọn loại váy xòe phòng, hay dạng suông sẽ thoải mái hơn.

Trang phục của chú rể khi tổ chức lễ hỏi và lễ cưới chung 1 ngày

Trang phục của cô dâu và chú rể khi tổ chức lễ hỏi trước lễ cưới một thời gian

Nếu lễ hỏi tổ chức trước lễ cưới một thời gian thì trang phục của cô dâu và chú rể cũng khác với trang phục khi tổ chức 2 lễ chung một thời gian. Cụ thể, trong trường hợp này cô dâu có 2 lựa chọn là áo dài truyền thống và đầm công sở hoặc đầm dự tiệc.

Còn chú rể thì có thể chọn áo dài như cô dâu hoặc mặc quần tây, áo sơ mi cũng rất lịch sự. Nếu muốn lịch lãm hơn, các chàng có thể khoác thêm bên ngoài một chiếc áo Vest màu sậm, bên trong là áo sơ mị màu nhạt.

Sự khác trong tổ chức lễ ăn hỏi của ba miền Bắc – Trung – Nam

Tổ chức lễ ăn hỏi miền Bắc

Các mâm sính lễ cưới của người miền Bắc

Các mâm lễ vật trong đám hỏi của người miền Bắc thường được chọn là số lẻ 3, 5, 7, 9 và số lượng mâm lễ cùng tùy vào điều kiện của mỗi gia đình.

Thông thường, các mâm lễ sẽ gồm:

Ngoài các mâm lễ vật thì nhà trai cũng có thể chuẩn bị mâm lễ đen gồm tiền hoặc vàng mà nhà gái thách cưới. Lễ đen không mặc định con số cụ thể là bao nhiêu mà hoàn toàn tùy thuộc vào từng địa phương, từng gia đình.

Tổ chức lễ ăn hỏi miền Trung

Nghi lễ thực hiện đám hỏi của người miền Trung cũng khá giống với nghi lễ của miền Bắc và miền Nam. Về lễ vật, người miền Trung thường sẽ chuẩn bị 5 mâm lễ vật cho đám hỏi, số mâm này cũng có thể thay đổi tùy vào điều kiện kinh tế của từng gia đình.

Ngoài ra, bên cạnh lễ đen thì mẹ chú rể có thể trao cho cô dâu một phong bì tiền mừng để thể hiện tình cảm, sự quan tâm của mẹ chồng với nàng dâu mới.

Tổ chức lễ ăn hỏi miền Nam

Nghi thức đám hỏi của người miền Nam

Đám hỏi của người miền Nam sẽ diễn ra với các nghi thức chính như sau:

Mâm quả trong sính lễ cưới trong lễ ăn hỏi của người miền Nam

Mâm quả trong đám hỏi của người miền Nam thường được lựa chọn là số chẵn 4, 6, 8 hoặc 10. Số mâm sẽ tùy thuộc vào điều kiện của từng gia đình.

Thông thường, mâm quả trong đám hỏi của người miền Nam sẽ gồm có:

Mâm xôi gà

Ngoài ra, các gia đình có điều kiện có thể chuẩn bị thêm nhiều mâm quả khác nhau, thậm chí có thể chọn áo quần, đồ trang sức cho cô dâu…

Những bài phát biểu mẫu trong lễ ăn hỏi.

Bài phát biểu trong lễ ăn hỏi của đại diện nhà trai cũng chính là lời hỏi cưới của nhà trai dành cho bên nhà gái. Chính vì vậy, đại diện đứng ra phát biểu của bên nhà trai và nội dung trong bài phát biểu là cực kỳ quan trọng. Có thể nói nó mang tính chất quyết định cho sự thành công cho cả buổi lễ.

Các nội dung cần có trong bài phát biểu của lễ ăn hỏi

Một bài phát biểu trong lễ ăn hỏi được xem là đầy đủ phải thể hiện được các nội dung sau đây

Bài phát biểu mẫu trong lễ ăn hỏi của đại diện nhà trai

Tôi xin phép được giới thiệu thành phần gia đình họ nhà trai trong lễ hỏi hôm nay bao gồm :

– Tôi là Trần Văn A, chú của cháu Trần Văn B và là đại diện của họ nhà trai.- Còn đây là bà Phạm Thị Thúy C, là bà ngoại của cháu Nguyễn Văn B,- Tiếp đến là bố mẹ và cậu mợ của cháu….

Đến với lễ hỏi hôm nay, nhà trai chúng tôi chuẩn bị 5 tráp lễ vật đưa tới nhà gái, mong nhà gái chấp thuận để hai cháu nên vợ nên chồng. Tôi xin được mời mẹ của cháu Nguyễn Văn A và mẹ cháu Phạm Thị K cùng nhau mở tất cả các tráp lễ mà nhà trai đưa đến. Nhà trai chúng tôi cũng hy vọng gia đình nhà gái sẽ chấp thuận lễ vật và đồng ý cho hai cháu nên duyên hạnh phúc.

Thay mặt gia đình nhà trai, tôi xin cảm ơn gia đình nhà gái đã đón tiếp chu đáo để buổi lễ ăn hỏi hôm nay thành công tốt đẹp. Chúng tôi hy vọng cả hai sẽ yêu thương nhau, cùng nhau sát cánh trên con đường đời và làm tròn bổn phận con cháu với cả hai nhà.

Bài phát biểu mẫu trong lễ ăn hỏi của đại diện nhà gái

“Kính thưa họ nhà trai : Tôi là Hồ Kim A là Cô của cháu Phạm Thị K là đại diện cho họ nhà gái xin có đôi lợi phát biểu như sau:

Được biết cháu B và Cháu K quen nhau đã lâu và đã xin ba mẹ tiến tới hôn nhân . Nay gia đình họ nhà trai không quản đường xá xa xôi đem mân trầu cau tới đây cũng đã biểu đạt được thành ý xin cưới cháu K nhà chúng tôi. Tôi đại diện cho họ nhà gái xin phép được nhận tráp trầu cau và đồng ý để 2 cháu tiến tới hôn nhân.

Sau những lời phát biểu trang trọng của hai bên, kết thúc bằng sự đồng ý của nhà gái, hai nhà trai gái có thể ngồi lại với nhau trò chuyện cởi mở và bàn chuyện tổ chức đám cưới cho hai cháu.

bài phát biểu lễ ăn hỏi, cách tổ chức đám hỏi, đám hỏi là gì, đám hỏi miền nam, lễ ăn hỏi, lễ ăn hỏi là gì, lễ ăn hỏi miền bắc, lễ ăn hỏi miền nam, lễ ăn hỏi miền trung, lễ đính hôn, lễ đính hôn miền nám, lễ hỏi, lời phát biểu lễ hỏi, sính lễ ăn hỏi, sính lễ đám hỏi, tại sao tổ chức lễ ăn hỏi, tổ chức đám hỏi, to chuc le an hoi, trình tự lễ ăn hỏi, trình tự lễ hỏi

Nam Định Có Lễ Hội Gì?

Lễ hội đền Trần – Nam Định

Đền Trần tại địa điểm du lịch này là nơi thờ tự các vua Trần cùng những người có công phù trợ nhà Trần, được xây dựng trên nền của một ngôi miếu cũ đã bị phá hủy vào thế kỉ thứ 15. Trước đây, khu vực xây dựng đền Trần được gọi là phủ Thiên Trường, vốn là mảnh đất quê hương của vương triều Trần, theo tư liệu khảo cổ, nền của khu di tích này chính là cung điện Trùng Quang (nơi Thượng hoàng ngự) và Trùng Hoa (nơi các vua Trần đến chầu) cùng các cung điện lớn nhỏ khác, còn lưu lại những dấu tích vàng son của một thời kì lịch sử hào hùng.

Lễ hội đền Trần – Nam Định

Lễ hội đền Trần được tổ chức vào dịp đầu năm mới, là thời điểm đất trời chuyển giao, trong khung cảnh đất nước thái bình, lòng người thường hướng về nguồn cội và cũng là dịp để du xuân, trẩy hội, là một hoạt động sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống.

Lễ hội đền Trần – Nam Định

Lễ hội được mở đầu bằng lễ khai ấn bắt đầu từ giờ Tý (23:00 – 1:00) đêm ngày 14, rạng sáng 15 tại địa điểm tham quan này, là dịp để xin hoặc mua ấn với mong ước thành đạt, an bình trong năm mới. Sau khi tổ chức phần khai mạc, đúng 12 giờ, một cụ cao niên đứng ra làm lễ, rồi sau đó, người ta sẽ rước hòm ấn trong tiếng chiêng, tiếng trống hào hùng từ đền Cố Trạch sang đền Thiên Trường, cuối cùng sẽ là lễ đóng dấu ấn lên các mảnh giấy vàng và phát cho người dân mang về nhà treo. Những ngày sau đó, người dân từ khắp nơi sẽ về với đền Trần để dâng hương, chiêm bái.

Lễ hội đền Trần, trong màu sắc linh thiêng, trang trọng, trong không khí đất trời chuyển giao đã trở thành một phần không thể thiếu trong tâm hồn của những con người đã sinh ra và lớn lên trên mảnh đất này.

Lễ hội Phủ Dầy – Nam Định

Lễ hội Phủ Dầy được tổ chức để tôn vinh Thánh Mẫu Liễu Hạnh, là một vị thần chủ trong tứ bất tử của người Việt Nam và của tín ngưỡng thờ Mẫu (Mẹ) truyền thống.

Lễ hội Phủ Dầy – Nam Định

Phủ Dầy – địa điểm du lịch gần Hà Nội trước kia chính là nơi Thánh Mẫu giáng sinh, là quê hương của tổ tiên Thánh Mẫu, bởi thế, người dân đã xây dựng đền thờ Mẫu để tưởng nhớ và vẫn còn truyền tụng lại “Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ”. Quần thể di tích này được bao bọc bởi dải núi uốn lượn, trong khung cảnh sơn thủy hữu tình với ba kiến trúc: phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát và lăng chúa Liễu; trong đó, phủ Tiên Hương được gọi là Chính phủ. Tương truyền, bà chúa Liễu Hạnh là người có công trong việc nông nghiệp, giúp đỡ người dân nghèo, chữa bệnh, khai khẩn đất ven sông, tu sửa chùa chiền,…bởi thế được nhân dân suy tôn thành Thánh Mẫu.

Lễ hội Phủ Dầy – Nam Định

Được tổ chức trong 10 ngày, mùng 1 là ngày khai hội, mùng 2 là làng Tiên Hương tổ chức rước nước, mùng 3 là ngày dâng lễ vật với bánh dầy, lợn, xôi, hoa quả, rượu,… Đến ngày mùng 4 là chính giỗ ở phủ Vân Cát và rước Thánh Mẫu lên chùa Dần vào ngày mùng 5. Vào ngày mùng 6, phủ Tiên Hương tiếp tục rước Thánh Mẫu xuống chùa Gôi. Nghi thức rước Thánh được tổ chức long trọng trong không khí thành kính, trang nghiêm, gợi nhắc cội nguồn. Cùng với phần lễ, hầu bóng cũng là một nét đặc trưng của đạo Mẫu Việt Nam.

Bên cạnh phần lễ, phần hội cũng được tổ chức long trọng được gọi là hội “Kéo chữ” (hội hoa trượng), tức là vài trăm người chia 4 hoặc 8 đội, mỗi đội có 1 tổng cờ và đốc cờ, sẽ dùng gậy hoa (gậy được cuốn giấy màu), khi chỉ huy ra lệnh bằng trống, thì theo lệnh của tổng cờ, mọi người sẽ tiến lui rồi ngồi xuống để xếp thành chữ còn các gậy hoa sẽ ngả theo chiều nền chữ. Chữ kéo mỗi năm đều được lựa chọn kĩ lưỡng bởi các vị cao niên tai địa điểm du lịch này.

Lễ hội chùa Cổ Lễ – Nam Định

Chùa Cổ Lễ hay Quang Thần tự là một ngôi chùa nằm ở thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh NamĐịnh. Chùa Cổ Lễ là nơi vừa thờ Phật lại vừa thờ đức thánh Nguyễn Minh Không, người đã từng chữa bệnh cho hàng nghìn người dân nơi đây.

Lễ hội chùa Cổ Lễ – Nam Định

Lễ hội chùa Cổ Lễ diễn ra từ ngày 13 đến ngày 16 tháng 9 âm lịch hàng năm. Đó là ngày hội tưởng niệm Đức Thánh tổ hóa thân (14/9), một ngày trọng đại đã đi vào tiềm thức nhân dân trong vùng:

Lễ hội Chùa Cổ Lễ là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của tỉnh còn bảo lưu được nhiều lễ nghi cổ truyền giàu tính nhân văn như lễ rước Phật, trò chơi dân gian như đấu vật, cờ người…, phản ánh đời sống văn hóa phong phú, đa dạng của cư dân nền văn minh lúa nước.

Chợ Viềng – Phiên chợ đầu năm – Nam Định

Người ta vẫn dành cho chợ Viềng tên gọi “phiên chợ cầu may”, mỗi năm chỉ có một lần mà không ai nỡ bỏ lỡ. Mỗi sản phẩm được mua bán ở đây không đơn thuần chỉ là một vật dụng thường ngày mà còn là “tín vật” đem lại may mắn, sức khỏe cho mọi người. Đến với chợ Viềng, người ta còn tìm đến một nét văn hóa dân gian truyền thống là đạo mẫu với di tích thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Chợ Viềng – Phiên chợ đầu năm – Nam Định

Là “cái nôi” của vùng đồng bằng sông Hồng, phiên chợ Viềng Nam Định là đặc trưng của một phiên chợ vùng nông nghiệp với những sản vật tiêu biểu vừa truyền thống lại vừa hiện đại. Chợ đa dạng các mặt hàng phục vụ cho nông nghiệp như: cuốc, xẻng, rổ, rá, quần áo, dao, liềm…cùng các mặt hàng truyền thống của vùng như vó lưới Bồng Làng, đó Văn Tập hay rau cần Thiệu Vịnh,… Bên cạnh các công cụ sản xuất, chợ Viềng còn là nơi buôn bán các loại cây cảnh để lấy lộc, cầu may. Ở phiên chợ này, người ta không tính toán đến giá cả hay kì kèo bởi chỉ cần bán được và mua được để lấy may.

Chợ Viềng – Phiên chợ đầu năm – Nam Định

Nhưng có lẽ, chợ Viềng – địa điểm tham quan này đặc biệt hơn cả bởi thịt bò, thịt bê được bày bán khắp nơi và thu hút nhiều du khách. Theo quan niệm, sắc đỏ của thịt bò sẽ đem lại vận may cho cả năm, bởi vậy dù ít hay nhiều, người đi chợ Viềng cũng “sắm” cho mình một miếng đem về.

Chợ Viềng có hai phiên, ở huyện Vụ Bản là chợ chính nên người ta gọi là Viềng Phủ còn ở huyện Nam Trực tại làng Chùa nên gọi là Viềng Chùa.

Lễ hội chùa keo Hành Thiện – Nam Định

Lễ hội chùa Keo Hành Thiện là một trong những lễ hội truyền thống ở Nam Định mà bạn không nên bỏ qua. Lễ hội chùa Keo Hành Thiện được tổ chức tại xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường. Đây cũng là ngôi chùa cổ ở nước ta với hơn 400 năm tuổi và vẫn còn nguyên vẹn kiến trúc. Chùa Keo thờ Đức Thánh Tổ Dương Không Lộ, là người đã có công lao cho sự phát triển của Phật giáo dưới thời nhà Lý. Bên cạnh đó, ông còn là người đã giúp nhân dân làm nghề bốc thuốc, làm nông nghiệp hay đúc đồng…

Lễ hội chùa keo Hành Thiện – Nam Định

Lễ hội chùa Keo Hành Thiện được tổ chức để tưởng nhớ Không Lộ Thiền sư từ ngày 12 tới ngày 15 tháng 9 Âm lịch. Đến với lễ hội chùa Keo Hành Thiện du khách sẽ được tìm hiểu nhiều nghi thức đặc biệt, tham gia các trò chơi dân gian như thi đấu cờ tướng, leo cầu ngô, rước kiệu truyền thống, tổ tôm điếm, đêm thơ hội làng… Trong đó, đặc sắc nhất phải kể tới giải bơi chải đứng do những xóm trong làng tham gia.

Đăng bởi: Ngân Ngân

Từ khoá: Nam Định có lễ hội gì?

Điện Biên Có Lễ Hội Gì?

Lễ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ – Điện Biên

Lễ kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7.5.1954), trong những ngày qua, Điện Biên đã triển khai tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa nhằm tuyên truyền giá trị lịch sử và giáo dục truyền thống cách mạng, tinh thần Điện Biên Phủ năm xưa.

Lễ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ – Điện Biên

Tại Bảo tàng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, trong những ngày qua đã đón tiếp hàng nghìn du khách trong và ngoài nước đến thăm. Tại đây, nhiều hiện vật, hình ảnh lịch sử trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã được trưng bày. Để đáp ứng yêu cầu tốt nhất của du khách khi tới đây, Bảo tàng chiến thắng lịch sử Điên Biên Phủ đã có những chuẩn bị kỹ lưỡng ngay từ sớm.

Tại các điểm di tích lịch sử Điện Biên Phủ luôn thu hút sự quan tâm của nhiều du khách khi tới đây.Vì vậy, Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Điện Biên đã xây dựng nhiều chương trình, các tour thăm quan theo điểm đến di tích. Điều này đã tạo điều kiện để du khách có được những trải nghiệm thực tế, biết và hiểu thêm về những khó khăn của quân và dân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

Vào ngày này, hàng vạn du khách đổ về để được ngắm nhìn những địa danh một thời oanh liệt, cùng nhau chiêm nghiệm và nghiêng mình trước lịch sử.

Lễ cúng bản của người Cống – Điện Biên

Dân tộc Si Lalà một trong những dân tộc thiểu số ít người cư trú ở miền núi phía Tây Bắc và chỉ sinh sống ở hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Ở Điện Biên người Si La sống tập trung duy nhất ở bản Nậm Sin, huyện Mường Nhé. Trong số các nghi lễ truyền thống của người Si La, Lễ cúng bản là một trong những nghi lễ tiêu biểu và quan trọng.

Lễ cúng bản của người Cống – Điện Biên

Cứ vào cuối tháng giêng âm lịch hàng năm người Si La ở Điện Biên lại tổ chức lễ cúng bản, trước khi bắt đầu vào vụ mùa mới. Theo quan niệm người Si La, tổ chức lễ cúng bản là để cầu xin các vị thần linh, đất trời phù hộ cho dân bản hoa màu tốt tươi, mùa màng bội thu, người người khỏe mạnh, chăn nuôi phát triển đầy đàn, qua đó tạo khí thế và hy vọng vào năm mới, cuộc sống sẽ ấm no, tốt đẹp hơn…

Trước khi tổ chức cúng bản, những người có trách nhiệm như già làng, trưởng bản, đại diện các đoàn thể sẽ tổ chức buổi họp toàn thể dân bản để cùng nhau bàn bạc và đi đến thống nhất trong việc chọn ngày giờ làm lễ cúng bản.

Lễ vật chuẩn bị cho lễ cúng bản, ngoài những con vật hiến sinh là con chó đen và con gà trắng, cùng với một bát gạo, củ gừng hoặc quả trứng gà thì dân bản còn phải chế tác ra rất nhiều loại vũ khí mang tính tượng trưng bằng gỗ như: kiếm, giáo, súng, dao, cung, nỏ, máy bay và biểu tượng sinh thực khí của nam giới. Tất cả các biểu tượng này sẽ được gắn, treo và dựng cùng với cổng cấm bản. Riêng biểu tượng sinh thực khí của nam giới được buộc vào sinh thực khí của con chó hiến sinh rồi treo lên cổng bản.

Lễ cúng bản của người Cống – Điện Biên

Vào ngày cúng bản, trước giờ dựng cổng cấm bản, Trưởng bản trong trang phục truyền thống của dân tộc, vai đeo túi, hông đeo dao đi một vòng quanh bản thông báo. Mỗi hộ sẽ cử ra một người nam giới trong gia đình, theo hiệu lệnh của trưởng bản tiến về phía đầu bản, khi đi mỗi người mang theo một con dao, một số người mang theo thuổng, xà beng.

Đến nơi đã định trước, trưởng bản tập hợp mọi người, phân công cụ thể cho từng thành viên đảm nhiệm một nhiệm vụ cụ thể: người chặt cây dựng cổng, người chặt tre, nứa làm plạ, người chặt cây đẽo các loại vũ khí tượng trưng,… Mọi người ai vào việc nấy, không khí khẩn trương nhộn nhịp, chỉ trong thời gian ngắn mọi thứ đã được chuẩn bị đầy đủ, các đồ vật tượng trưng đã được tạo ra, cổng bản được trang trí cẩn thận rồi dựng lên.

Tiếp đến, trưởng bản sẽ cử hai thanh niên khỏe mạnh đi đuổi con chó, làm vật hiến sinh chạy quanh bản, sau đó dắt về vị trí cổng bản, còn mình sẽ đi bắt con gà trắng đem đến. Thầy cúng đi từ trong bản ra, tay bưng một bát gạo trên có đặt quả trứng hoặc củ gừng, đến nơi, chó và gà được cắt tiết lấy máu bôi hết lên các loại vũ khí, plạ chung của bản và của các gia đình, cây Sa nhân. Sau đó người ta đưa chó và gà vào một nhà nhỏ dựng bên cạnh cổng bản, bên trong đã đặt sẵn bát gạo và quả trứng thày cúng (Chủ cổng) tiến hành cúng lần thứ nhất, nội dung cúng là thông báo với các vị thần linh về ngày cúng bản, cầu mong phù hộ cho dân bản sức khỏe, mùa màng tốt tươi.

Hết lần cúng thứ nhất, thầy cúng lấy một cây củi đang cháy đặt lên người con chó, sau lại đặt lên người con gà sao cho mỗi con bị cháy một mảng lông rồi thầy cúng tiếp lần hai. Cúng xong, gà và chó sẽ được chế biến thành các món ăn để mọi người ăn ngay tại nơi cổng bản, từ đây việc cấm bản được thực thi triệt để, không ai được ra hoặc vào bản nữa.

Lễ cúng bản của người Cống – Điện Biên

Trước đây, người Si La cấm bản trong thời gian 3 ngày, ngày nay việc cấm bản được thống nhất giảm xuống chỉ còn 1 ngày. Trong lễ cúng bản của người Si La, phụ nữ không được tham gia bất kỳ việc gì, tuyệt đối không được đến gần cổng bản. Sau lễ cúng bản, người ta cấm không cho người nào tự ý phá cổng phải để nó hỏng tự nhiên vì như vậy ma sẽ không về bản gây bệnh dịch, chết chóc cho bản làng.

Sau lễ cúng bản, trời đã tối, ai sẽ về nhà nấy không gây tiếng ồn, đồng thời chuẩn bị khí thế để chờ sáng mai bắt đầu vào mùa vụ mới.

Tết cơm mới của người Cống – Điện Biên

Tết cơm mới của người Cống – Điện Biên

Thời gian tổ chức Tết cơm mới thường được tiến hành vào khoảng tháng 8 âm lịch. Lễ vật bao gồm: thịt sóc, chuột, cá, quả dưa, bí, khoai sọ, mía… tất cả được sắp theo đôi. Người Cống cho rằng ma tổ tiên chỉ nhận đồ lễ có số chẵn chứ không nhận số lẻ. Ngoài ra, khi cúng cơm mới, người Cống còn để những dụng cụ lao động như: lưỡi dao, lưỡi thuổng lên một chiếc mẹt và rắc chấu cốm lên trên, với quan niệm, những vật dụng này đã giúp con người phát nương, cuốc rẫy nên khi con người thu lúa nó cũng phải được chia phần. Trong đó, cơm cốm là lễ vật đặc biệt, không thể thiếu. Nó còn là món quà biếu đầy ý nghĩa cho bố mẹ họ hàng.

Tết cơm mới của người Cống thường diễn ra trong hai ngày: Ngày thứ nhất cúng mời tổ tiên, thần linh về nhận lễ lúa mới. Khi xưa, địa điểm cúng cơm mới thường được tổ chức ở gốc cây trên rừng cạnh bản. Ngày nay, địa điểm cúng thường là nhà của chủ dòng họ. Trước khi bắt đầu lễ cúng, ông chủ dòng họ buộc ta leo lên phía trên các cửa ra vào nhà. Khác với người Thái, ta leo của người Cống không đan hình mắt cáo mà được làm từ ba chiếc lạt đan vào với nhau. Mỗi chiếc được buộc thắt ở hai đầu với ý niệm những nút buộc này sẽ trói chân ma dữ ở lại ngoài cửa, không cho nó vào nhà; đồng thời buộc vía những người trong nhà, để vía của họ ở lại với thể xác, giúp cho cơ thể khỏe mạnh, không bị ốm đau.

Tết cơm mới của người Cống – Điện Biên

Giờ cúng cơm mới thường được bắt đầu từ 4 giờ chiều. Theo các cụ già người Cống đây là giờ mà tổ tiên có thể về nhà nhận lễ cơm mới. Ông chủ dòng họ ngồi bên cạnh mâm lễ vật, khấn mời ma tổ tiên về ăn lúa mới. Cúng xong, ông cầm con gà lên dùng dao cắt tiết, rồi bôi một chút máu lên cây tre với ý niệm mời ma tổ tiên ăn. Sau đó ông cúi người vít cần rượu mời tổ tiên uống. Bên cạnh việc cúng tổ tiên, ma lúa, người Cống còn có nghi thức cúng gọi hồn và cầu sức khỏe cho những đứa trẻ trong nhà nhân dịp Tết cơm mới.

Ngày thứ hai chủ yếu là ngày vui liên hoan cộng đồng, gia đình. Họ sẽ đến từng gia đình trong bản để thăm hỏi. Các gia đình dù nghèo hay giầu đều mổ lợn hoặc gà, vịt để ăn mừng. Mâm cơm liên hoan ngày cơm mới có thể ít thịt, thiếu cá, nhưng nhà nào cũng phải có xôi cốm và các loại quả, rượu, măng để mời khách. Sau những ngày đi nương, đi rừng miệt mài kiếm sống, Tết cơm mới là dịp họ gặp nhau để tâm sự, trò chuyện. Cuộc liên hoan thường kéo dài hết cả ngày thứ hai, đến xế chiều dường như men rượu đã ngấm, họ gõ chiêng, chụm chọe, hát múa tưng bừng. Theo lí của người Cống, các cụ bà phải múa trước để mở màn cho cuộc liên hoan văn nghệ, sau đó con cháu mới được múa theo. Bà chủ dòng họ vung gạo vào những người đang múa với ý niệm cầu may mắn. Điệu múa trong ngày cơm mới diễn ra tuy đơn sơ nhưng nồng hậu ấm áp. Động tác múa của nữ giới uốn lượn mềm mại, uyển chuyển; động tác múa của nam giới mạnh mẽ, dứt khoát. Mọi người đến xem hò reo, cổ vũ náo nhiệt, khiến không khí của ngày hội thêm tưng bừng.

Sau lễ cơm mới, người Cống yên tâm, tin tưởng, vui vẻ bước vào những ngày thu hoạch lúa bận rộn miệt mài.

Lễ hội hoa Ban – Điện Biên

Lễ hội Hoa ban tỉnh Điện Biên là một hoạt động văn hóa có ý nghĩa sâu sắc với đồng bào dân tộc Thái ở Điện Biên và đặc biệt gắn liền với Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Lễ hội hoa Ban – Điện Biên

Tương truyền rằng, khi xưa xứ “Mường Trời” có người con gái tên Ban xinh đẹp nhất bản người Thái. Nàng đem lòng yêu chàng trai bản tên Khum nhà nghèo, giỏi săn bắn, chăm làm và tốt bụng. Nhưng “ải, êm” (bố, mẹ) nàng Ban lại hứa gả Ban cho con trại Tạo mường nhà giàu nhất bản, lười biếng lại vừa thọt vừa gù.

Ngày cưới nàng với con trai Tạo mường đã được ấn định mà Khum đi bẫy thú ở rừng sâu chưa về. Đêm đó, Ban đã buộc khăn piêu ở cầu thang rồi một mình băng núi, băng rừng đi tìm người yêu. Nàng đi mãi.. đi mãi… rồi kiệt sức và nàng chết ngay bên sườn đồi. Tại nơi nàng chết, người ta thấy có một loài hoa trắng muốt, hương thơm dịu ngọt. Dân bản tin rằng đó là nàng Ban đã hóa thân thành loài hoa ấy; cánh hoa trắng muốt thể hiện tình yêu son sắt thủy chung với chàng Khum.

Lễ hội hoa Ban – Điện Biên

Ngoài ra, Lễ hội Hoa ban còn gắn liền với ý nghĩa lịch sử Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Sở dĩ, Điện Biên chọn ngày 13.3 hàng năm là ngày tổ chức Lễ hội Hoa ban vì đây là thời điểm hoa ban nở trắng rừng Tây Bắc và cũng chính ngày Điện Biên Phủ nổ phát súng đầu tiên khai màn trận đánh (13.3.1954); để tạo nên một Điện Biên Phủ huyền thoại, lừng lẫy năm châu trấn động địa cầu và gắn liền với tên tuổi vị tướng tài ba Võ Nguyên Giáp.

Lễ hội Hoa ban không chỉ là niềm tự hào của đồng bào của 19 dân tộc anh, em tỉnh Điện Biên mà còn là Lễ hội cầu cho mưa thuần gió hòa, mùa màng bội thu của đồng bào dân tộc Thái ở Điện Biên.

Du khách đến với Điện Biên không chỉ để ngắm vẻ đẹp của hoa ban, nghe truyền thuyết về loài hoa mà còn được tìm hiểu về Điện Biên Phủ năm xưa, hôm qua và hôm nay.

Lễ Tủ Cải của dân tộc Dao Quần Chẹt – Điện Biên

Lễ Tủ Cải của người Dao Quần chẹt thường được tổ chức vào dịp cuối năm khi công việc đồng áng, nương rẫy đã xong, tùy vào điều kiện kinh tế từng gia đình có thể tổ chức hai hay ba, năm hoặc bảy ngày. Lễ Tủ Cải của dân tộc Dao ngành Dao Quần chẹt đang được Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch tỉnh Điện Biên làm hồ sơ đề nghị Công nhận là Di sản phi vật thể quốc gia.

Lễ Tủ Cải của dân tộc Dao Quần Chẹt – Điện Biên

Dân tộc Dao là một trong 19 dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Toàn tỉnh hiện có hơn 6.000 người dân tộc Dao (chiếm hơn 1% dân số toàn tỉnh), sinh sống tập trung tại các huyện Mường Nhé, Nậm Pồ và Tủa Chùa, thuộc các ngành Dao đỏ, Dao quần chẹt, Dao khâu. Xã Huổi Só (huyện Tủa Chùa)- vùng đất giáp ranh giữa huyện Tủa Chùa (Điện Biên), Quỳnh Nhai (Sơn La) và Sìn Hồ (Lai Châu) được coi là thủ phủ của người Dao quần chẹt. Nơi đây, dân tộc Dao có hơn 2.000 người (chiếm khoảng 76% dân số toàn xã), phân bố tại 6/9 thôn, bản nằm dọc chiều dài gần 20km của bên bờ sông Đà.

Để đến được xã Huổi Só (tiếng Dao có nghĩa là “khe suối”) – một trong hai xã của huyện Tủa Chùa tiếp giáp sông Đà, xuất phát từ Mường Báng, chúng tôi phải vượt gần 20km đường đèo để đến trung tâm xã Xá Nhè; tiếp tục men theo sườn núi hướng đông bắc, cắt dãy núi Tả Hủ Tráng bằng đường Tủa Thàng – Huổi Só, rồi vượt qua đèo Tà Si Láng hơn 10km nữa, chúng tôi mới tới được Huổi Só – vùng đất xa nhất của huyện Tủa Chùa. Với cung đường dài khoảng 50km, chúng tôi đã xuyên suốt trục dọc của tiểu vùng văn hóa người Dao ở “miền khát” cao nguyên đá Tủa Chùa.

Với đồng bào Dao nơi đây, Lễ Tủ Cải là một nghi thức có vai trò và dấu mốc quan trọng trong lễ tục vòng đời người con trai Dao, bắt buộc người con trai nào cũng phải trải qua, bởi nó có ý nghĩa đánh dấu sự trưởng thành của các chàng trai từ tuổi ấu thơ sang tuổi thành niên. Theo nghĩa Nôm Dao, “Tủ” là báo cáo, “Cải” là đặt tên, “Tủ Cải” tức là lễ báo cáo với các thần linh, tổ tiên về việc đặt tên thứ hai (tên âm) cho người con trai trong dòng tộc. Khi cúng lễ xưng tên với tổ tiên, người Dao kiêng dùng tên thật, chỉ dùng tên âm đã được đặt trong Lễ Tủ Cải. Tên âm này sẽ được ghi trong gia phả. Khi qua đời, con cháu sẽ cúng giỗ theo tên âm.

Lễ Tủ Cải của dân tộc Dao Quần Chẹt – Điện Biên

Đồng bào quan niệm ai đã trải qua Lễ Tủ Cải mới được coi là người trưởng thành, là người lớn, có tâm đức, biết phân biệt phải trái, có đủ tư cách làm các công việc trong dòng tộc, cộng đồng; khi chết hồn mới được về đoàn tụ với tổ tiên. Tất cả những người làm thầy mo đều phải trải qua nghi lễ này. Thông thường những bé trai từ 5 tuổi trở lên, điều kiện kinh tế gia đình cho phép được bố mẹ và dòng họ quan tâm, tạo điều kiện để làm Lễ Tủ Cải. Thời gian tổ chức Lễ Tủ Cải không quy định dài, ngắn, tùy vào điều kiện kinh tế từng gia đình mà có thể kéo dài từ 3 đến 7 ngày. Tuy nhiên, Lễ Tủ Cải thường được tổ chức khi công việc đồng áng, nương rẫy đã gọn gàng, tức là sau vụ gặt lúa nương, khi đó trùng vào dịp cuối năm, ngày được chọn làm lễ thường từ mồng 4 – 7/12 (dương lịch), đây là những ngày và tháng tốt nhất trong năm theo quan niệm của người Dao quần chẹt.

Trước ngày diễn ra lễ từ 10 đến 15 ngày, gia chủ chuẩn bị các lễ vật, thực phẩm tùy theo nhu cầu, quy mô lễ lớn, nhỏ; đồng thời mang lễ vật đến mời các thầy cúng có uy tín trong bản chọn ngày lành tháng tốt để tổ chức lễ. Trước khi tổ chức lễ một ngày, các thầy cúng, họ hàng thân tộc có mặt đầy đủ tại gia đình người được thụ lễ. Thầy cả phân công các thầy cúng, những người giúp việc, họ hàng, dân bản cùng dựng đàn lễ trong nhà (nơi ngự của tổ tiên), đàn lễ ngoài trời (nơi ngự của các thần linh), dán sớ điệp và viết sớ báo cáo để trình báo với tổ tiên, thần linh…

Khi công việc chuẩn bị đã hoàn tất, Lễ Tủ Cải bắt đầu diễn ra. Trong suốt những ngày diễn ra lễ Tủ Cải, tất cả mọi người dự lễ đều ăn chay. Người được thụ lễ phải mặc bộ y phục (quần, áo, nón) truyền thống của người Dao quần chẹt do chính tay người mẹ hoặc người chị đã hết tuổi sinh đẻ làm cho, để đảm bảo trong sạch vào những ngày làm lễ. Lễ Tủ Cải tổ chức lớn nhất trong vùng gồm 7 ông thầy cúng với quyền hạn và nhiệm vụ khác nhau. Thầy cả và thầy hai là linh hồn và là người điều khiển chính trong các lễ thức. Hai ông thầy này là người đọc thông viết thạo chữ Nôm Dao, có trí nhớ tốt, thuộc lòng các quyển sách cúng, các bài diễn ca hay các bài tế các vị thánh thần. Họ có khả năng hát tế suốt mấy giờ liền, thậm chí là ngày này qua ngày khác mà không cần nhìn sách. Y phục mỗi thầy cúng khi đi hành lễ gồm 4 áo dài có màu trắng, đỏ, gụ, vàng thêu hình tổ tiên, các vị thần. Ngoài ra, các thầy cúng còn mang theo kiếm gỗ (hoặc gậy tầm xích), một con nghê nhỏ bằng kim loai, chuông đồng…

Lễ Tủ Cải của dân tộc Dao Quần Chẹt – Điện Biên

Mở đầu, thầy cả đọc lời tuyên bố lý do tổ chức buổi lễ. Nội dung nghi lễ này thầy cả đề cập đến lịch sử người Dao, ai là con trai cũng phải làm cái lý này và xướng tên những người sẽ được thụ lễ. Tiến trình lễ diễn ra qua nhiều lễ thức khác nhau như: Lễ mời tổ tiên; nghi lễ dâng lễ vật tạ ơn tổ tiên; Nghi lễ báo cáo với các chư vị thần linh; Lễ khai đàn; Lễ đặt tên âm; Nghi thức mời tổ tiên trong đàn lễ, gian thờ tổ tiên nữ ra nghe con cháu đọc báo cáo… Các lễ này diễn ra trong khoảng thời gian 5 ngày, có những lễ thức phải thực hiện từ 3 giờ sáng, khi những tiếng gà gáy cuối cùng báo hiệu đêm tàn canh, chuẩn bị bước sang ngày mới.

Phần lễ xen lẫn hội, phối hợp nhịp nhàng và có mối quan hệ khăng khít với nhau, tạo nên không khí linh thiêng mà ấm áp tình người, tràn đầy sự hứng khởi. Lời khấn cầu, những lời răn dạy của tổ tiên, thần linh thông qua các thầy cúng tới người được thụ lễ hòa trong âm thanh phụ họa của tiếng chiêng, tiếng trống làm tính linh thiêng của cõi tâm linh thâm nhập vào cõi trần gian. Tất cả được diễn ra sinh động theo một quy trình khá lôgic từ khâu chuẩn bị đến việc tiến hành các nghi lễ.

Các lễ thức diễn trình theo quy định kéo dài cho đến ngày cuối cùng của buổi lễ vừa mang ý nghĩa giáo huấn vừa mang màu sắc tâm linh huyền ảo, đồng thời phản ánh những ước mơ, khát vọng của con người lấy cội nguồn tiên tổ làm nền tảng để rèn tâm, dưỡng đức.

Lễ thức quan trọng nhất trong lễ Tủ Cải là thầy cúng cấp cho người được thụ lễ một bản đạo sắc viết bằng chữ Nôm Dao, ghi về lý lịch của mình, nguyên do thụ lễ và các điều răn dạy. Đạo sắc được coi là bằng chứng để người thụ lễ được phép thực hiện các nghi lễ trong xã hội người Dao. Tên của chàng trai được ghi trong gia phả, sử dụng khi cúng lễ và lúc qua đời con cháu sẽ cúng theo tên âm này.

Kết thúc các nghi lễ, thầy thư ký đọc tổng kết báo cáo trước đàn lễ tổ tiên, báo cáo kết quả thành công của lễ, tạ ơn tổ tiên, thần linh, thỉnh cầu cho người được thụ lễ những điều tốt đẹp. Tiếng trống, tiếng chiêng được đánh lên những hồi dài, âm thanh trầm hùng dội vào vách núi giữa đại ngàn xanh. Cuối cùng gia chủ cám ơn và mời mọi người dự bữa cơm đoàn kết, chúc mừng người được thụ lễ.

Mặc dù đã trải qua biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử, sự giao thoa, hòa nhập cộng đồng, Lễ Tủ Cải của đồng bào dân tộc Dao quần chẹt ở Huổi Só đến nay vẫn giữ được bản sắc riêng, luôn hiện hữu trong đời sống cộng đồng. Lễ Tủ Cải nghiêm trang trong phần lễ, phóng khoáng vui vẻ trong phần trình diễn, chào đón xum vầy, tiễn đưa tổ tiên. Lễ Tủ Cải còn là dịp giao thoa văn hóa cộng đồng và cũng là nơi găp gỡ của gia đình, dòng tộc, bạn bè, con người càng cảm thông với nhau, hướng đến những điều tốt lành; có tác động tích cực đến việc giáo dục thế hệ trẻ, góp phần xây đắp nên sự gắn kết cộng đồng, bảo tồn những nền tảng, tinh hoa văn hóa của cộng đồng dân tộc Dao.

Lễ hội thành Bản Phủ – Điện Biên

Lễ hội Thành Bản Phủ được tổ chức hàng năm trong 2 ngày 24 -25/2 âm lịch để tưởng nhớ thủ lĩnh tướng quân Hoàng Công Chất. Vào thế kỷ 18, tại địa phương này, Hoàng Công Chất đã cùng tướng Ngải, tướng Khanh là hai vị thủ lĩnh người dân tộc Thái ở Điện Biên lãnh đạo nhân dân các dân tộc đánh đuổi giặc Phẻ, giải phóng Mường Thanh.

Lễ hội thành Bản Phủ – Điện Biên

Để có căn cứ hoạt động lâu dài, Hoàng Công Chất đã cho xây dựng Thành Bản Phủ; từ đó căn cứ hoạt động của nghĩa quân đã phát triển ra khắp mười Châu của Phủ An Tây, phía Bắc giáp biên giới Trung Quốc, phía nam mở rộng xuống Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa.

Cuộc khởi nghĩa nông dân do Hoàng Công Chất lãnh đạo kéo dài từ năm1739 – 1769 đã tập hợp nhân dân các dân tộc trong vùng thành một khối thống nhất, xây dựng tình đoàn kết, cùng nhau đánh giặc giữ nước bảo vệ núi rừng vùng biên cương của đất nước.

Lễ hội Thành Bản Phủ gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ được bắt đầu bằng rước kiệu, múa rồng trang trọng; sau đó là phần dâng hương, đọc chúc văn kể lại quá trình đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm và giữ bản làng của thủ linhc tướng quân Hoàng Công Chất.

Phần hội được tổ chức với nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật, trò chơi thể thao truyền thống của đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc.

Di tích lịch sử Thành Bản Phủ – Đền thờ Hoàng Công Chất đã được Nhà nước xếp hạng công nhận là Di sản văn hóa quốc gia. Lễ hội Thành Bản Phủ cũng đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, hàng năm thu hút hàng vạn lượt khách du lịch và nhân dân các dân tộc đến tham quan, thắp hương tưởng niệm.

Lễ căm bản, căm mường – Điện Biên

Người Lào ở Núa Ngam (Điện Biên) tổ chức lễ hội Căm Mường để con cháu tỏ lòng thành kính, biết ơn tổ tiên, những người đã khuất, các thần linh đã phù hộ cho họ, gia súc, mùa màng năm qua tươi tốt và tiếp tục phù hộ cho năm tới…

Lễ căm bản, căm mường – Điện Biên

Người Lào ở Núa Ngam theo tín ngưỡng đa thần, tin vào vạn vật hữu linh và những thần lực tác động đến cuộc sống của con người. Họ thường thực hiện nhiều nghi lễ để cầu mong sự phù hộ của các đấng siêu nhiên cho mùa màng tốt tươi, người an, vật thịnh… Đó là tiền đề cho sự hình thành và nuôi dưỡng các lễ hội truyền thống như lễ Căm Mương, lễ cầu mùa, lễ cầu mưa, lễ mừng nhà mới…

“Căm Mương” theo tiếng Lào nghĩa là kiêng bản, kiêng mường (cấm mường). Căm Mương cũng là tết năm mới của người Lào tính theo Phật lịch từ 15/3 đến 20/3 âm lịch, cũng là lúc chuẩn bị bước sang một mùa vụ mới. Nghi lễ cúng tế bắt đầu vào 13h chiều ngày 15/3 Âm lịch hàng năm. Chảu sửa (người cao tuổi), chảu chẳm (thầy cúng) cùng với những người giúp việc mang đồ lễ lên lông sân, theo sau họ là một số người khiêng chiêng, trống vừa đi vừa đánh từ nhà chảu sửa lên đến nơi thờ cúng.

Khi các lễ vật đã chuẩn bị xong, chảu chẳm khấn: “Mời thần cai quản bản mường, thần bảo trợ vùng, thần sông, thần suối, thần rừng, những người đã mất, những linh hồn cù bất cù bơ không nơi nương tựa… về chứng kiến và hưởng lễ vật mà dân bản dâng lên, nếu tất cả đã tụ tập về đầy đủ thì hãy cho hai mảnh gỗ tung lên, rơi xuống một nửa úp một nửa ngửa”. Khi các thần linh đã hội tụ đầy đủ, mọi người bày và đặt mâm lễ vào nơi cúng. Chảu chẳm đốt hai ngọn nến sáp ong gắn lên bệ cúng to nhất (pan luông) và cúng. Trước khi cúng chính thức, chảu chẳm sẽ phai lảu (mời rượu) các thần linh, tổ tiên rồi mới đến bên mâm lễ to nhất để cúng mời tất cả các thần đến hưởng lễ. Bài cúng gồm bốn phần với nội dung mời các vị thần linh cai quản, những người đã hi sinh để bảo vệ cuộc sống cho bản về dự hội. Vào năm mổ bò, thầy cúng mời rượu bảy lần, năm cúng lợn thì chỉ mời năm lần.

Lễ căm bản, căm mường – Điện Biên

Lễ căm bản, căm mường – Điện Biên

Ngày thứ hai của lễ (16/3 Â lịch), từ tối đến gà gáy sáng, họ tập trung đến nhà chảu sửa ăn uống và hát giao duyên. Hát giao duyên được chia thành hai đội một bên nam, một bên nữ, mỗi bên sẽ cử một người ra hát và đối đáp lại, nếu thấy mình không thể trả lời được câu đố của đối phương thì người khác trong đội đối lại cho đến khi tan cuộc. Nhiều đôi trai gái đã nên duyên qua những đêm hát giao duyên đó. Nếu thanh niên nam nữ hát giao duyên với nhau, thì tầng lớp trung niên, người già hát chúc mừng nhau một năm qua mùa màng bội thu và cầu chúc cho năm tới mọi người đều mạnh khỏe, được nhiều thóc lúa… Múa là phần không thể thiếu trong lễ hội, chủ yếu là điệu múa truyền thống của người Lào ở “đất nước triệu voi” mà họ mang theo khi di cư. Sau khi đủ ba người đánh trống, đánh chiêng, đánh ché, một số người gõ ống nứa… tất cả những người còn lại sẽ nhảy múa theo nhịp chiêng, trống, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, mọi người chia từng đôi cùng múa điệu “lăm vông”. Các trò chơi dân gian được tổ chức vào ngày thứ 3 (ngày 17/3 Âm lịch).

Lễ Căm Mương của người Lào ở Núa Ngam thường diễn ra nhiều trò chơi dân gian thu hút sự tham gia nhiệt tình của người dân, như trò mác ý tò (cầu mây), phăn viêng (một hình thức đấu võ), tó lasa (rùa ấp trứng), tó má lẹ (trò chơi bằng hạt đậu rừng), tó mác sáng (chơi đánh cù/quay), Ngu kin khiết (trò chơi rắn bắt ếch), Tọt con (ném còn)… Trò chơi của người Lào không đơn thuần là giải trí, rèn luyện sức khỏe mà còn mang ý nghĩa phồn thực, cầu mong mùa màng tốt tươi, dân làng có cuộc sống ấm no, hạnh phúc…

Hạn khuống giao duyên – Điện Biên

Hạn khuống là một hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Thái, Điện Biên. Lễ hội thường được tổ chức sau vụ thu hoạch vào tháng 11 hàng năm. Lễ Hạn Khuống do bên gái tổ chức thực ra là một cuộc vui để tìm hiểu bạn đời sau đó chia tay về nhà chồng. Chính vì vậy, Hạn Khuống đã để lại biết bao kỷ niệm và ấn tượng đẹp của một thời trẻ trung sôi nổi.

Hạn khuống giao duyên – Điện Biên

Khi nói đến Hạn Khuống, người Thái nghĩ ngay đến nơi hò hẹn – giao duyên bằng những lời ca thắm tình của nam nữ thanh niên Thái, một nét sinh hoạt văn hóa cổ xưa của người Thái. Hạn Khuống làm cho trai mường, gái bản Thái thêm yêu cuộc sống, yêu lao động sản xuất, gần gũi với thiên nhiên, vì văn hóa của người Thái cũng bắt đầu từ tình yêu cuộc sống, bắt đầu từ phong tục, tập quán sinh hoạt của một tộc người luôn gắn bó với núi rừng. Có thể nói, lửa sàn Hạn Khuống sẽ thêm thắm đượm tình người khi du khách, bạn bè gần xa đến giao duyên trên sàn Hạn Khuống vào ngày lễ hội, dịp tết đến xuân sang.

Ngoài căn nhà sàn thân quen của mình, khi tiết trời sang xuân, khi bản mường bước vào mùa lễ hội, nam nữ thanh niên Thái cùng nhau vào rừng đốn chặt lấy vài cây rừng về dựng một sàn ở khu đất trống giữa bản, sàn có thể dựng bằng tre hoặc gỗ, sàn đó được gọi là Hạn Khuống nơi để nam nữ thanh niên Thái đến khắp (hát) đối đáp. Trên sàn Hạn Khuống chuẩn bị dụng cụ cho nam thanh, nữ tú hội tụ giao duyên; con gái Thái thì quay sợi, cán bông, dệt vải, thêu thùa bằng chỉ màu các loại, có bếp củi để đốt lửa. Dụng cụ cho trai Thái gồm có lạt xanh, lạt đỏ, lạt trắng để đan hom, đan giỏ, đan ớp, hoặc đan các con vật để tặng bạn gái, người mà trai Thái có ý tỏ tình trong đêm khắp đối giao duyên. Ống điếu và bó đóm bằng tre ngâm khô và thuốc lào. Ngoài ra còn một số vật dụng khác để đan chải, đan vợt xúc… và các loại nhạc cụ như khèn bè, pí pặp, pí thiu, sáo trúc, đàn tính…

Sàn Hạn Khuống dựng cao khoảng 1,2m – 1,5m, rộng chừng 0,6m, dài chừng 5m, xung quanh có lan can được trang trí hoa văn mang bản sắc dân tộc. Giữa sàn Hạn Khuống có cây nêu bằng tre to, dài để cả phần ngọn còn nguyên lá và trang trí các con giống đủ màu sắc gọi là “Lắc xáy chính”. Cây “Lắc xáy chính” này mang bóng dáng của cây vũ trụ. Bốn góc sàn Hạn Khuống có 4 cây nhỏ trang trí đẹp mắt gọi là “Lắc xáy”. 4 góc sàn đều có cầu thang lên xuống, được gọi là “San bó Han Khuông” (Sàn hoa Hạn Khuống). Chủ thể Hạn Khuống thường chọn những thiếu nữ Thái xinh đẹp của bản mường, có đức – tài hát đối ứng gọi là “Xao tỏn khuống”. Bốn cô gái ngồi ở bốn góc gọi là “Xao lắc xáy”. Khi bếp lửa trên sàn bắt đầu nhóm lên, ngọn lửa cháy rực sáng cả một góc bản mường cũng là lúc các cô chủ Hạn Khuống rút thang lên, quay guồng xa của mình kéo sợi giăng ngang lối lên – xuống sàn Hạn Khuống và cuộc thi tài bắt đầu. Lúc này, các chàng trai Thái muốn lên sàn hoa thì phải thắng trong cuộc hát đối với các cô chủ sàn Hạn Khuống. Lời các bài hát đối thường lấy trong truyện thơ Thái “Xống chụ xon xao”, “Tản chụ xiết xương”. Khi đã vào cuộc, ngoài khắp đối ra là lời ứng tác giữa một bên là trai Thái, một bên là các cô chủ Hạn Khuống. Lời ứng tác tinh tế, sắc sảo thể hiện sự thông minh, tài ba của những chàng trai, cô gái Thái.

Hạn khuống giao duyên – Điện Biên

Khi đã cảm phục tài ứng tác của các chàng trai trong hát đối, các cô gái thả thang xuống chạm đất đưa tay níu mời các chàng trai lên sàn Hạn Khuống. Sau khi lên Hạn Khuống, bên gái tiếp tục thử sức tài ba, lòng kiên trì, đối đáp của bên trai là không cho ghế, bên trai lại khắp xin ghế ngồi. Cứ thế, xin được ghế ngồi rồi lại khắp đối xin ống điếu thuốc lào… Sau một loạt các bài khắp, các chàng trai đã vượt qua thử thách và được các cô gái đồng ý cho dự cuộc vui đến thâu đêm. Khi chàng trai và cô gái nào để ý đến nhau, có tình cảm riêng với nhau thì tự đến bên nhau để tỏ tình bằng những lời khắp đối ân tình, sâu lắng. Cứ như thế, cuộc vui cuốn hút các cô gái Thái thể hiện sự kéo tay bằng việc thêu dệt, xe sợi, cán bông không biết mỏi mệt; còn các chàng trai người thi đan giỏ, đan hom, thi thổi sáo, đàn tính bằng những làn điệu níu kéo lòng người, tình người.

Đêm càng về khuya, Hạn Khuống càng say nồng bởi những lời khắp đối, bởi sự nhanh tay xe sợi, thêu, đan hom, đan giỏ của các chàng trai cô gái Thái. Đến lúc này, những người có tuổi và trẻ em tuy vương vấn sàn Hạn Khuống nhưng cùng lần lượt ra về vì đêm sắp tàn canh. Chỉ còn lại trên sàn Hạn Khuống là các chàng trai, cô gái Thái vai kề vai bên bếp lửa rực hồng, lan tỏa làm cho đôi má tuổi mười tám đôi mươi các cô chủ Hạn Khuống thêm xinh. Hạn Khuống có thể diễn ra trong nhiều ngày, hình thức vui chơi phong phú, đa dạng như: tung còn, múa xòe, tó má lẹ, chơi cù… Khi hoàng hôn buông xuống, sinh hoạt trên sàn Hạn Khuống lại trở nên thắm nồng và trầm lắng lời khắp giao duyên của trai gái Thái. Cùng với khắp đối, người đến xem có thể cất lên giọng phụ họa làm cho không khí trong đêm Hạn Khuống càng trở lên say đắm lòng người. Hạn Khuống tan là lúc cô chủ sàn Hạn Khuống khắp lời chia tay. Đến lúc này, không ai bảo ai, mỗi người một tay, trai dọn đồ nặng, gái dọn đồ nhẹ và bắt đầu thổi tắt bếp lửa sánh vai cùng nhau ra về là lúc rặng núi phía đông bắt đầu hửng sáng, Lúc đó, cô chủ Hạn Khuống cất thang Hạn Khuống dừng cuộc vui, nhưng dư âm đêm Hạn Khuống còn mãi với thời gian.

Sinh hoạt Hạn Khuống như có sức hút kỳ lạ nếu ta để tâm nghe những lời khắp đối bằng những câu thơ nổi tiếng của người Thái trong tác phẩm “Xống chụ xon xao” được người Thái Tây Bắc lưu truyền, diễn xướng qua nhiều thế hệ và đón nhận trường ca đó bằng cả tình cảm nồng thắm, thiết tha. Chính vì lẽ đó, Hạn Khuống là nét văn hóa mang đậm giá trị tinh thần trong đời sống thường nhật, biểu trưng tình cảm của người Thái. Khắp đối giao duyên trên sàn Hạn Khuống là sự kết tụ văn hóa Thái Tây Bắc, mà ở đó khởi nguồn từ cuộc sống và được biểu hiện nét sinh hoạt văn hóa tinh thần đầy cảm xúc của người Thái. Sinh hoạt văn hóa trên sàn Hạn Khuống làm con người thêm yêu cuộc sống, nhìn cuộc sống tốt đẹp hơn, cuộc sống tràn ngập tình nghĩa, tính bao dung và lòng nhân ái.

Lễ Bó khoăn khoai – Điện Biên

Với quan niệm vạn vật đều có linh hồn, cơ thể sống chỉ là vật biểu hiện ra bên ngoài của một tâm hồn bên trong nên người Thái trắng sau khi kết thúc vụ mùa phải làm lễ Bó khoăn khoai (cúng vía trâu) – một lễ cảm ơn con trâu sau khi mùa vụ đã hoàn thành, nhờ có sức kéo của trâu mà mùa vụ mới được hoàn thành nhanh chóng, con người mới thóc lúa đầy bồ, sung túc, đủ ăn.

Lễ Bó khoăn khoai – Điện Biên

Con trâu có vị trí, ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc sống của cư dân nông nghiệp. Là cư dân nông nghiệp miền núi nhưng các cư dân Thái (Điện Biên) sinh sống chủ yếu ở các thung lũng gần sông, suối “người Xá ăn theo lửa, người Thái ăn theo nước”, đã tạo cho nhân dân bản địa thói quen và điều kiện sản xuất lúa nước từ lâu đời. Câu tục ngữ “Làm nương ủ lá cây, làm ruộng thả nước ngập luống cày”, “Làm ruộng phải lo gianh, làm ruộng phải lo giống” thể hiện trình độ sản xuất khá cao của dân tộc Thái, do vậy để đảm bảo sức kéo cho ruộng, nương, con trâu đối với họ có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Lễ được tổ chức như sau:

Trước hôm cúng, trâu được tắm rửa sạch sẽ, Lễ tạ ơn được tiến hành với từng con, bắt đầu từ con trâu đầu đàn, tiếng Thái gọi là khoai tổn lang (trâu chủ gầm), sau đó lần lượt theo thứ tự con nhiều tuổi trước, con ít tuổi sau. Tạ ơn con nào thì kéo con trâu trước mâm cỗ cúng. Người cúng cầm sẹo mũi con trâu và đọc bài cúng.

Đồ cúng trong lễ bó khoăn khoai gồm có: cỏ nhưng phải là cỏ gianh hoặc cỏ lau và muối được gói trong lá chuối và được đặt lên chiếc mâm có rải lá chuối. Lễ vật đã được bày sẵn trong mâm gồm có 1 con gà, 1 chai rượu, 4 chén rượu, 4 đôi đũa, 2 cuộn dây thừng. Mâm cúng được gia chủ mang ra sàn bên mâng hẩ là sàn thường được dùng để làm công việc sinh hoạt hằng ngày trong gia đình.

Sau đó con trâu được dắt từ gầm sàn ra dưới gian mang hẩ và được buộc lại bằng dây thừng. Gia chủ cúng đại ý rằng con trâu nuôi của mình, mình để làm ruộng, nương cho nhà mình. Có những lúc mình bảo nó không nghe, nó làm không đúng yêu cầu của mình, lúc đó tao tức giận đã đánh đập mày, tao biết linh hồn mày biết sẽ không vui. Hôm nay đã hết công việc đồng áng, vụ mùa đã bội thu, tao có rượu, thịt, cỏ cho mày ăn no và mày xí xóa cho tao vì có những lúc tao bực mà đánh mày.

Lễ Bó khoăn khoai – Điện Biên

Lời lẽ, ngôn từ trong lời khấn rất giản dị, mộc mạc như chính lối sống của người nông dân miền núi, công tội rất rõ ràng. Tất cả vì mục tiêu công việc đặt lên hàng đầu nhưng đồng thời cũng mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, đề cao vai trò của lao động ngay cả đối với loài vật vô tri.

Sau khi cúng xong, trâu được cho ăn cỏ và xát muối vào mồm trâu vì sau khi làm lễ bó khoăn khoai, gia chủ sẽ đưa trâu lên rừng để trâu tự kiếm ăn, đỡ công phải chăm sóc trong lúc nông nhàn. Việc xát muối vào mồm để trâu nhớ đường mà về nhà, không được đi lạc vào nhà khác. Việc chỉ cho ăn cỏ lau và cỏ gianh vì khi vào rừng có rất nhiều loại cỏ khác nhau và trong đó không thiếu những loài cỏ độc. Cho ăn 2 loại cỏ này để trâu nhớ mà ăn.

Sau đó gia chủ thắp nến sáp ong và gắn lên sừng trâu với ý nghĩa sẽ soi sáng đường cho trâu, trên đường đi không gặp phải hổ dữ và vướng vào vực sâu. Điều này phản ánh nỗi sợ hãi sâu xa của người nông dân miền núi do trước kia rừng thiêng, nước độc, các loài thú dữ nhiều vô kể. Một điều khác so với việc cúng vía trâu ở các nơi khác là trâu hôm sau mới được thả vào rừng còn ở thị xã Mường Lay, sau khi cúng xong trâu được gia chủ dắt ngay vào rừng để tự kiếm ăn. Một tuần một lần gia chủ phải vào rừng để kiểm tra trâu nhà mình…

Lễ hội mừng mưa rơi của dân tộc Khơ Mú – Điện Biên

Người Khơ Mú gọi hội mừng mưa rơi của dân tộc mình là lễ hội “Om đin om đang”, tức lễ hội mừng nước hay hội mừng mùa măng mọc. Theo các cụ già ở bản Pá Bon, xã Mường Luân, Điện Biên , gọi như vậy bởi mở đầu phần hội bao giờ cũng là điệu múa “Om đin om đang”.

Lễ hội mừng mưa rơi của dân tộc Khơ Mú – Điện Biên

Hội mừng mưa rơi được tổ chức vào cuối tháng 3, đầu tháng 4 âm lịch, trước hoặc sau những cơn mưa đầu mùa. Trong lễ hội, người ta hát những bài ca mừng nương rẫy khi được đón những cơn mưa đầu mùa. Lễ hội thường được tổ chức trên nhà sàn và thầy cúng là người chủ trì phần lễ.

Để chuẩn bị cho lễ hội, người trong bản ốp bẹ chuối vào cột nhà để làm cây hoa chủ. Cây hoa chủ gồm 3 – 5 lớp. Các lớp cành đều treo hình chim, thú, hoa quả được đan bằng lạt giang hoặc mua ở các chợ. Bàn thờ cúng thần linh được đặt ngay dưới cây hoa. Trên bàn thờ bày các lễ vật gồm: đĩa gà luộc, bánh chưng, bánh dày, xôi nhuộm phẩm đỏ, trứng, mía, gạo, muối… Tiếp đến, thầy cúng mặc trang phục dân tộc gồm: áo đen, chít khăn đen, thắt lưng đỏ (ngày nay chỉ còn mặc áo đen) đọc lời cầu cho người trong bản có sức khoẻ tốt, gặp nhiều may mắn; cầu xin thần linh cho mưa thuận gió hòa, xua đuổi chim thú phá hoại mùa màng… Vừa đọc lời cúng, thầy vừa lấy nhúm gạo, muối, rượu tung ra xung quanh và thả xuống sàn.

Sau phần lễ, phần hội diễn ra sôi nổi với những điệu múa truyền thống của dân tộc Khơ Mú. Từ lễ hội mừng mưa rơi, nhiều lời ca của dân tộc Khơ Mú đã được các nhạc sỹ chép lại, phổ biến rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Đăng bởi: Phương Trần

Từ khoá: Điện Biên có lễ hội gì?

Tháng 12 Có Ngày Lễ Gì? Những Ngày Lễ, Kỷ Niệm Trong Tháng 12

06/12 Ngày Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Sau hơn nửa thế kỷ đấu tranh chống quân xâm lược, nước ta có đến hơn 4 triệu cựu chiến binh, họ là người đã cống hiến cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Trải qua nhiều cuộc kháng chiến gian nan và cả những hy sinh để bảo vệ độc lập cho đất nước. Chính vì vậy, để đáp ứng nguyện vọng của đông đảo Cựu chiến binh Việt Nam, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) đã quyết định cho thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam vào ngày 6/12/1989.

19/12 Ngày Toàn quốc Kháng chiến

Ngày Toàn quốc Kháng chiến là ngày kỷ niệm lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Advertisement

một cột mốc quan trọng để giành thắng lợi ở Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 và nền độc lập cho nước nhà. Với ý nghĩa lịch sử quan trọng đó, ngày 19/12 đã được lấy làm ngày Toàn quốc Kháng chiến.

22/12 Ngày Quân đội Nhân dân Việt Nam

Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được ra đời theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là đội quân Cách mạng được thành lập do dân và vì dân, chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng của dân tộc. Năm 1989, theo chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và quyết định của Chính phủ, lấy ngày 22/12 hằng năm làm ngày Quân đội Nhân dân Việt Nam.

01/12 Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS

Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS (World AIDS Day) đầu tiên diễn ra vào ngày 1 tháng 12 năm 1988. Đây là ngày đặc biệt được diễn ra vào ngày 1/12 hàng năm. Mục đích của ngày này là nhằm nâng cao nhận thức của mọi người trong cộng đồng về căn bệnh AIDS và tưởng nhớ các nạn nhân đã chết vì căn bệnh này.

02/12 Ngày Quốc tế Giải phóng Nô lệ

Ngày 02/12 hằng năm được lấy làm Ngày Quốc tế Giải phóng Nô lệ (International Day for the Abolition of Slavery), bởi các tổ chức Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Ngày này được ra đời nhằm chấm dứt mọi hình thức nô lệ, cũng như xoá bỏ nạn buôn người, mại dâm, giúp đỡ họ trở lại cuộc sống bình thường.

03/12 Ngày Quốc tế Người khuyết tật

Ngày Quốc tế Người khuyết tật (International Day of Persons with Disabilities – IDPD) được tổ chức vào ngày 3 tháng 12 hàng năm nhằm khuyến khích những người khuyết tật tự tin hòa nhập với cộng đồng xã hội, chung tay xây dựng một môi trường làm việc và sinh sống bình đẳng cùng nhau.

04/12 Ngày Quốc tế Ôm tự do

Ngày quốc tế ôm tự do hay còn gọi là International Free Hugs Day, ngày này được ra đời với mục đích khuyến khích mỗi người chúng ta thể hiện tình yêu thương và lòng biết ơn, sự cảm thông, chia sẻ với những người xung quanh. Bên cạnh đó còn lan toả tình yêu thương đến với tất cả mọi người.

05/12 Ngày Tình nguyện viên Quốc tế

Ngày Tình nguyện viên Quốc tế (International Volunteer Day, viết tắt IVD) là ngày đã được Liên Hợp Quốc thông qua vào ngày 17 tháng 12 năm 1985. Với mục đích tạo cơ hội cho các cá nhân, tổ chức tích cực tham gia vào những hoạt động, công việc thiện nguyện tạo nên giá trị có ích cho cộng đồng và xã hội.

07/12 Ngày Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAD)

Ngày Hàng không Dân dụng Quốc tế, viết tắt là ICAD (International Civil Aviation Day) được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tuyên bố vào năm 1996. Mục đích của ngày này là công nhận được tầm quan trọng của ngành hàng không, đặc biệt là hàng không quốc tế. Giúp nâng cao nhận thức của con người về ngành hàng không trên toàn thế giới và hàng không dân dụng quốc tế đối với sự phát triển kinh tế và xã hội.

09/12 Ngày Quốc tế chống Tham nhũng (IACD)

Ngày Quốc tế chống tham nhũng, viết tắt là IACD (International Anti-Corruption Day) là một sự kiện thường niên do Liên Hợp Quốc tổ chức. Mục đích của ngày là khẳng định trách nhiệm ngăn chặn nạn tham nhũng của mỗi người dân, tạo nên một xã hội công bằng có trách nhiệm.

10/12 Ngày Nhân quyền Quốc tế

Ngày này được chọn làm Ngày Nhân quyền Quốc tế (Human Rights Day) là do vào ngày 10 tháng 12 năm 1948 Liên Hợp Quốc công bố Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Các quốc gia thuộc Liên Hợp Quốc khẳng định niềm tin vào các quyền cơ bản của con người, quyền bình đẳng giới, quyền được hưởng những điều kiện sống tốt hơn.

11/12 Ngày Núi Quốc tế

Với Nghị quyết 57/245, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã tuyên bố lấy ngày 11/12 hàng năm để kỷ niệm Ngày Núi quốc tế (International Mountain Day) mục đích nhằm để mọi người dân ý thức được tầm quan trọng của các ngọn núi cũng như giữ gìn và bảo vệ núi.

18/12 Ngày Di dân Quốc tế (IMD)

Ngày Di dân Quốc tế, viết tắt là IMD (International Migrants Day) là một sự kiện vào ngày 18 tháng 12 hàng năm, đây là ngày lễ quốc tế do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc chọn, nhằm để tuyên truyền về những đóng góp lớn lao của những người di dân trên toàn thế giới và tuyên truyền bảo vệ cho những lợi ích của họ.

20/12 Ngày Quốc tế đoàn kết nhân loại

Với Nghị quyết 60/209 vào ngày 22/12/2005, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã tuyên bố lấy ngày 20 tháng 12 hàng năm để kỷ niệm Ngày Quốc tế đoàn kết nhân loại (International Human Solidaruty Day). Đây là một dịp đặc biệt để mỗi quốc gia hướng về giá trị nòng cốt là sự đoàn kết của dân tộc, ghi nhớ và phát huy giá trị đó để tạo nên một quốc gia vững mạnh.

25/12 Lễ Giáng sinh

Lễ Giáng Sinh (còn được gọi là Noel, Christmas), một ngày lễ kỷ niệm sự ra đời của Chúa Giêsu. Là một ngày lễ trọng tâm của năm phụng vụ Kitô giáo, nó kết thúc mùa Mùa Vọng và bắt đầu mùa Giáng Sinh, ngoài ra đây cũng là một dịp để gia đình sum họp, tổ chức tiệc, trang trí nhà cửa tạo nên không khí ấm áp cho mùa lễ hội.

27/12 Ngày Quốc tế Phòng chống Dịch

Đảo Cà Phê – Quán Cà Phê Siêu Trăng Trong Ngõ Hẻm

1. Không gian thoáng mát ở Đào cà phê

Ẩn mình trong ngõ nhỏ nên Đảo cà phê thật bình yên. Quán được thiết kế đặc biệt như một chiếc xe mui trần với phần mái có thể kéo ra để các bạn khách tận hưởng khí trời.

Đảo cà phê có tone màu chủ đạo là trắng từ chiếc cổng cho đến bức tường. Chiếc cổng vòm và phần gạch lát màu trắng thuần khiến mọi người có cảm giác đang đi qua chiếc hầm không gian, đưa chúng ta xuyên đến một ốc đảo yên bình.

Không gian thoáng mát ở Đào cà phê

Những bức tường cũng là điểm nhấn cho quán. Không đơn điệu chỉ là một mảng màu trắng, tường tại quán cà phê ốc đảo này được khoét những ô tròn, tại mỗi ô lại có cành cây vươn đến, như mơn man tâm hồn có phần mệt mỏi của những người bạn quý.

Không gian thoáng mát ở Đào cà phê

Bàn ghế tại Đảo cà phê được làm bằng gỗ đơn giản, không màu mè hoa lá với 3 dạng chính: ghế thấp, ghế mây, ghế võng. Ở đây còn có cả mô hình đốt lửa trại và bãi cát nhỏ cho các bạn bé chơi đùa.

Đào cà phê

Ban đêm, những chiếc đèn lung linh càng làm không gian thêm mờ ảo, thơ mộng, lãng mạn lại trữ tình.

Đào cà phê

2. Siêu trăng ảo diệu tại Đảo cà phê

Góp phần làm nên sự đặc biệt của Đảo cà phê chính là mô hình siêu trăng với màu cam đỏ như hành tinh thực sự, khiến cho bức ảnh của bạn deep thật deep.

Siêu trăng ảo diệu tại Đảo cà phê

3. Đêm nhạc ở Đảo cà phê

Thi thoảng Đào cà phê sẽ tổ chức các đêm nhạc để phục vụ khách hàng. Vừa uống nước vừa chill theo giai điệu tại không gian lung linh như thế này thì chắc mọi người thích lắm.

Phụ phí cho mỗi đêm nhạc lfa 15.000 đồng/người.

4. Đảo cà phê menu

Menu của Đào cà phê có nhiều món, từ trà sữa, cà phê cho đến các món nước trái cây healthy. Tất cả chúng đều được trang trí đẹp mắt.

Đảo cà phê menu

Giá cả các món nước ở đây được mọi người đánh giá là học sinh sinh viên.

Đánh giá

Không giang tuyệt vời. Thoáng mát. Đẹp.

Không gian thoải mái, nhân viên nhiệt tình, giá nước ưu đãi, rất phù hợp

Quán view đẹp,không gian thoáng mát,đồ uống ngon rẻ,nhân viên chụp hình nhiệt tình, vui vẻ, rất tuyệt vời

5 sao cho quán, thức uống ngon, rẻ, nhân viên dễ thương, không gian thoáng, sạch. Mình đã ghé 2 lần rồi và sẽ còn ghé lại.

5. Địa chỉ Đảo cà phê

Quán cà phê có địa chỉ tại: K67/3 Núi Thành, Hải Châu, Đà Nẵng

Liên hệ

Số điện thoại: 089 908 95 68

Facebook: Đảo cà phê

Giờ mở cửa

Quán mở cửa tất cả các ngày trong tuần từ 7:00 – 22:00

Đăng bởi: Hà Nguyễn Thu

Từ khoá: Đảo cà phê – Quán cà phê siêu trăng trong ngõ hẻm

Cập nhật thông tin chi tiết về Lễ Dạm Ngõ Là Gì trên website Krxx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!