Xu Hướng 2/2024 # Lập Dàn Ý Thuyết Minh Về Cái Quạt Điện # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Lập Dàn Ý Thuyết Minh Về Cái Quạt Điện được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Krxx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Mở bài

Giới thiệu và dẫn dắt vào hình ảnh cái quạt điện.

Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn cách dẫn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân.

2. Thân bài

a. Nguồn gốc của quạt điện

Vào năm 1832, Omar-Rajeen Jumala đã phát minh ra chiếc quạt máy đầu tiên.

Đến cuối thế kỷ XIX, khi Edison và Tesla phát hiện nguồn năng lượng điện, quạt chạy bằng cơ đã được cải tiến thành quạt chạy bằng điện.

Đến năm 1882 thì Philip Diehl giới thiệu quạt trần. Ông được xem là cha đẻ của quạt hiện đại.

b. Thuyết minh chi tiết

Cấu tạo cơ bản của quạt điện gồm 4 phần: động cơ điện, cánh quạt, vỏ quạt và bộ điều khiển.

– Động cơ điện là phần cốt lõi quyết định chất lượng của chiếc quạt. Quạt chạy có êm ái, bền bỉ hay không phụ thuộc vào chất lượng của động cơ. Khi động cơ hoạt động, trục xoay của nó sẽ làm quay cánh quạt.

– Cánh quạt có thể có từ 3 – 5 cánh, đôi khi có dạng lồng sóc, cung cấp luồng không khí làm mát.

– Vỏ quạt thường được làm bằng chất liệu nhựa để bảo vệ thân quạt. Vỏ quạt cũng bao gồm cả lồng quạt để che chắn, không cho tay người va vào cánh quạt. T

– Bộ điều khiển là các nút bấm để tắt, mở hoặc thay đổi tốc độ quay của quạt.

c. Công dụng của quạt điện

Quạt điện là thiết bị được sử dụng phổ biến trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là vào những ngày hè nóng nực. Ngoài chức năng cơ bản để chống nóng, nhiều người thường sử dụng quạt điện để thổi khô quần áo, tóc tai…

Quạt điện còn được dùng bật để xua đuổi côn trùng không cho chúng cắn người,…

d. Lưu ý khi sử dụng quạt điện và bảo quản quạt điện

Không nên ngồi trước quạt máy quá lâu. Nhiệt độ cơ thể bị giảm theo sự bốc hơi của mồ hôi, khiến ta dễ bị cảm gió, khô da.

Nên để quạt ở chế độ xoay, luồng gió sẽ phát tán đi nhiều hướng nên không làm giảm quá nhiều nhiệt độ bề mặt da người. Từ đó tránh được việc bị đau lưng, mệt mỏi.

Khoảng cách hợp lý để đặt quạt là phải cách xa trên 2m.

Không nên để quạt quay ở tốc độ tối đa trong một thời gian dài. Định kỳ sáu tháng, ta châm dầu nhớt vào trục xoay và các bạc đạn.

Thường xuyên lau chùi quạt sạch sẽ, rửa cánh quạt khi nó đóng bụi quá nhiều. Nếu phát hiện những bất thường khi quạt hoạt động như có tiếng kêu lọc cọc, cánh quạt bị lỏng, vỏ quạt bị nứt… thì ta phải nhanh chóng đem đi sửa chữa.

3. Kết bài

Khái quát lại về hình ảnh cái quạt điện.

1. Mở bài

Giới thiệu, dẫn dắt vào cái quạt điện bằng hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp.

2. Thân bài

a. Phân loại quạt

Họ hàng nhà quạt chủ yếu được chia làm hai loại:

– Quạt thủ công: phổ biến hơn cả là quạt mo được làm bằng mo cau, quạt nan, quạt giấy làm bằng giấy và quạt xốp được sản xuất từ các mảnh xốp mỏng, nhiều màu sắc.

– Quạt điện: là quạt được sản xuất sau này, sử dụng điện để hoạt động, có công suất cao hơn, mát hơn và tiện lợi hơn.

b. Cấu tạo của quạt điện

Về cơ bản, quạt điện có hai bộ phận chính là cánh quạt và động cơ quạt.

– Động cơ điện là bộ phận quan trọng nhất của một chiếc quạt, chứa nhiều linh kiện quan trọng để quạt có thể hoạt động tốt, gồm có stato và roto.

– Cánh quạt được gắn với động cơ điện bằng một cái trục sắt. Nó thường được làm bằng nhựa hoặc kim loại với những mẫu mã vô cùng bắt mắt.

Ngoài ra quạt điện còn có vỏ bọc bên ngoài làm bằng nhựa vừa để bảo vệ phần động cơ bên trong vừa tránh cho nguồn điện bị rò rỉ ra bên ngoài sẽ gây nguy hiểm khi sử dụng.

Một phần nữa không thể thiếu của chiếc quạt điện là bộ công tắc điều khiển trên thân quạt để điều chỉnh tốc độ gió, hẹn giờ hay phân gió.

c. Công dụng, sử dụng, bảo quản

Công dụng: Quạt chủ yếu được dùng để làm mát, thông gió. Một số quạt được gò bằng nhôm, inox đặt phía trên hộp gien để hút mùi.

Sử dụng: Khi cắm phích điện vào ổ, 1 dòng điện sẽ chạy vào rôto làm cho nó quay vào cánh quạt. Lồng quạt phía ngoài có chức năng bảo vệ cánh quạt và giữ an toàn cho người sử dụng.

Bảo quản: Muốn quạt sử dụng được lâu, bền thì phải thường xuyên lau chùi, cho dầu mỡ. Khi sử dụng quạt, không bật quạt quá lâu tránh để quạt nóng dẫn đến cháy.

3. Kết bài

Khẳng định lại vai trò, lợi ích của chiếc quạt điện trong đời sống hiện nay.

1. Mở bài

Giới thiệu về cái quạt điện: Mỗi dịp hè về, bên cạnh niềm vui hân hoan khi được nghỉ học thì mỗi chúng ta lại mang nỗi lo về sự nóng nực, oi bức của cái nắng chói chang. Một trong những vật dụng vô cùng hữu hiệu giúp con người xua bớt đi cái nóng gay gắt ấy chính là chiếc quạt điện mà hầu như mỗi gia đình đều có và sử dụng.

2. Thân bài

a. Khái quát chung

Lịch sử ra đời: Năm 1882, Philip Diehl đã giới thiệu đến chiếc quạt điện trần và Diehl được xem là cha đẻ của chiếc quạt điện hiện đại ngày nay.

Có nhiều loại quạt điện khác nhau và phổ biến trên toàn thế giới, được con người sử dụng để làm mát trong thời tiết oi bức.

b. Thuyết minh chi tiết

Phân loại: quạt cây, quạt treo tường, quạt trần.

Cấu tạo:

Lồng quạt: là nơi chứa cánh quạt và động cơ.

Cánh quạt: thường là 3 cánh, được làm bằng nhựa cứng hoặc kim loại; giống hình cánh hoa, mang màu sắc khác nhau.

Thân quạt: thường làm bằng nhựa, bên trong có chứa môtơ, phía trên gắn với cánh quạt, phía dưới có những nút bấm để điều chỉnh tốc độ và mức độ gió.

Môtơ: là phần động cơ bên trong có chức năng làm cho cảnh quạt quay và tạo ra gió.

c. Ưu điểm, lợi ích

Công dụng:

Quạt điện tạo gió để làm giảm cái nóng oi bức mùa hè.

Dùng để thông gió, hút mùi.

Ưu điểm:

Dễ dàng tìm mua.

Có thể sử dụng nhiều lần, tiết kiệm chi phí.

Điện năng tiêu thụ không quá cao.

3. Kết bài

Khẳng định lại vấn đề thuyết minh: ngày nay, tuy nhiều thiết bị làm mát ra đời (điều hòa,…) nhưng quạt điện vẫn giữ một vị trí quan trọng trong xã hội.

1. Mở bài

Nước ta nằm ở khu vực Đông Nam châu Á, khí hậu nhiệt đới.

Trong những đồ dùng sinh hoạt hằng ngày của con người chúng tôi là loại thông dụng nhất.

Chúng tôi là quạt điện.

Vào ngày hè nóng bức tôi phải làm việc quần quật từ sáng đến đêm khuya.

Tôi rất vui được giới thiệu về dòng họ của mình với các bạn.

2. Thân bài

a. Chủng loại

Họ hàng nhà quạt rất đông gồm quạt cây, quạt treo tường, quạt bàn, quạt hộp, quạt thông gió, quạt hơi nước. Chúng tôi được gọi là quạt điện vì tồn tại chủ yếu nhờ năng lượng điện.

Anh em chúng tôi có nhiều mẫu mã và kiểu dáng khác nhau tùy thuộc vào các hãng sản xuất như là Senko, Mitsubishi, MD, Panasonic, Asia.

b. Cấu tạo

Cấu tạo của quạt điện gồm các phần cơ bản: Lồng quạt, cánh quạt, thân quạt, nút điều chỉnh, tốc độ hướng, đèn, nút hẹn giờ và môtơ.

Môtơ là phần quan trọng nhất trong cơ thể chúng tôi bao gồm quạt dây đồng quấn trên lõi sắt từ (stato), rôto là những tấm thép mỏng ghép lại có phần nhôm đúc bằng đồng, thép để gắn cánh quạt và đuôi quạt. Ngoài ra còn có tụ điện, vỏ nhôm để gắn kết rôto và stato, có bạc than có ổ chứa dầu để giảm bớt ma sát.

c. Nguồn gốc

Quạt xuất hiện từ rất lâu. Ban đầu là quạt thủ công gồm quạt nan, quạt giấy. Vua chúa ngày xưa cũng dùng quạt nan nhưng được gắn thêm lông chim công cho đẹp và sang trọng. Loại quạt này hiện nay ít xuất hiện trên thị trường nhưng vẫn có giá trị về lịch sử.

Từ khi có điện con người đã phát minh ra nhiều loại đồ dùng tiện ích trong đó có chúng tôi. Cha đẻ của chúng tôi là 1 người Mĩ có tên là Philip Diehl. Ông nội của chúng tôi được sinh vào năm 1882. Quạt ban đầu có cánh quạt làm bằng vải sau đó người ta cải tiến bằng nhôm, nhựa để tăng độ bền đẹp.

d. Công dụng, sử dụng, bảo quản

Công dụng:

Quạt chủ yếu được dùng để làm mát. Khi nó quay tạo ra gió giảm sức nóng của cơ thể khiến con người cảm thấy dễ chịu. Chúng ta đang sinh sống ở phương Nam 1 năm có 6 tháng mùa khô nếu không có quạt sẽ cảm thấy ngột ngạt, khó chịu.

Quạt được dùng để thông gió, hút mùi. Một số quạt được gò bằng nhôm, inox đặt phía trên hộp gien để hút mùi.

Quạt thủ công được dùng để trang trí, dùng để múa, là 1 vận dụng góp phần để tăng thêm sự nho nhã cho các sĩ tử, tiểu thư thời phong kiến.

Sử dụng: Khi cắm phích điện vào ổ, 1 dòng điện sẽ chạy vào rôto làm cho nó quay vào cánh quạt. Lồng quạt phía ngoài có chức năng bảo vệ cánh quạt và giữ an toàn cho người sử dụng. Khi quạt đang quay không được thò ngón tay hoặc chọc que vào quạt sẽ gây nguy hiểm.

Bảo quản: Muốn quạt sử dụng được lâu, bền thì phải thường xuyên lau chùi, cho dầu mỡ. Tuổi thọ của chúng tôi phụ thuộc vào người sử dụng.

Khi sử dụng quạt, không bật quạt quá lâu tránh để quạt nóng dẫn đến cháy. Cần phải sử dụng nút hẹn giờ vì bật quạt suốt đêm sẽ dẫn đến bệnh hô hấp và cảm lạnh.

3. Kết bài

Ngày nay xã hội phát triển con người đã phát minh ra nhiều loại đồ dùng tiện ích. Trong các phòng làm việc và công sở, phòng ngủ của gia đình, máy điều hòa đang dần thay thế cho quạt. Nhưng chúng tôi mãi mãi vẫn là người bạn đồng hành của con người. Qua phần tự giới thiệu của tôi các bạn sẽ hiểu hơn về quạt và biết cách sử dụng hợp lí.

1. Mở bài

Giới thiệu chung những vai trò, công dụng của chiếc quạt điện trong đời sống con người.

2. Thân bài

Nguồn gốc ra đời cái quạt.

Ưu điểm của quạt điện so với quạt giấy.

Quạt vật dụng hữu ích cho con người.

Phân loại các loại quạt điện: Quạt trần, quạt treo, quạt cây

Các động cơ sử dụng trong quạt điện: Điện một pha và điện ba pha

Cấu tạo: Chân quạt, thân quạt, cánh quạt, mô tơ, lồng bảo vệ.

Hướng dẫn vệ sinh quạt điện.

3. Kết bài

Cuộc sống có nhiều thay đổi, nhiều thiết bị làm mát khác ra đời nhưng quạt điện vẫn là người bạn trung thành và hữu ích với con người.

1. Mở bài: Giới thiệu về cái quạt

Ví dụ:

Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, chính vì thế mà thời tiết nước ta rất nóng bức. Sự nóng bức biểu hiện rất rõ ràng vào mùa hè. Mỗi khi mùa hè đến, khí hậu nước ta rất nóng, nhất là các tỉnh miền trung và miền Nam. Để xua đi cái nóng đó thì nhiều người đã dùng nhiều cách để có cách giải nóng hiệu quả nhất dành cho mình. Một cái quạt là dụng cụ cần thiết cho mỗi gia đình.

2. Thân bài

a. Khái quát về cái quạt:

Quạt là một thiết bị sử dụng điện.

Dùng làm mát cho con người.

Được sử dụng rất rộng rãi.

b. Chi tiết về cái quạt

Nguồn gốc của quạt:

Quạt được phát minh bởi nhà khoa học Mĩ, ban đầu được chạy bằng hơi nước.

Máy quạt hiện đại nhất hiện nay chạy bằng điện và sử dụng rất rộng rãi hiện nay.

Các loại quạt: Quạt treo tường, quạt để bàn, quạt đứng, quạt trần, quạt âm trần, quạt âm tường, quạt hút gió, quạt thổi gió.

Cấu tạo quạt:

Cánh quạt: quay tạo ra hơi mát khi sử dụng.

Bộ phận điều khiển: có các mức độ mạnh yếu tùy theo người sử dụng chọn.

Thân quạt: có thể chỉnh cao thấp tùy thích.

Chân quạt: giữ quạt cân bằng.

Lồng quạt: bảo vệ cánh quạt và sự nguy hại của cánh quạt với con người.

Chức năng của quạt: Quạt mát, điều hòa không khí.

3. Kết bài: Nêu cảm nghĩ của em về cái quạt

Ví dụ:

Với thời tiết hiện nay, trái đất ngày càng nóng lên thì con người không thể chịu được cái sự oai bức của nắng nóng. Chính vì thế mà quạt là vật dụng rất cần thiết cho mỗi gia đình.

1. Mở bài

Dẫn dắt, giới thiệu về cái quạt (vật dụng quen thuộc trong đời sống thường ngày, có ích,…)

2. Thân bài

a. Phân loại: Có nhiều loại quạt khác nhau, cơ bản chia làm 2 loại:

Quạt thủ công:

Quạt nan: Quạt bản tròn, có tay cầm, thường làm bằng các chất liệu khác nhau như: mo cau, lá cọ, lục bình khô, nhựa dẻo,…

Quạt xếp: Hình bán nguyệt khi xòe rộng, có thể xếp lại, thường làm bằng giấy hoặc vải dán trên khung xòe từ thanh tre nứa vót mỏng, ngày nay còn có loại làm bằng nhựa,…

Quạt điện: Cấu tạo chủ yếu gồm động cơ điện, cánh quạt,..

b. Đặc điểm

Quạt thủ công:

Có giá thành trên thị trường tương đối rẻ (tùy loại)

Có thể tự làm dễ dàng tại nhà với nguyên vật liệu có sẵn.

Trên quạt thường có tranh vẽ, chữ viết, hoa văn,…

Màu sắc phong phú, đa dạng,…

Quạt điện:

Cấu tạo tương đối phức tạp nên không thể tự sản xuất ở nhà.

Nhiều kiểu dáng, màu sắc và kích cỡ.

Hoạt động khi được kết nối với nguồn điện hoặc năng lượng thay thế

Phổ biến trong đời sống hiện đại.

c. Vai trò

Quạt điện hay quạt thủ công đều đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra gió giúp làm mát trong thời tiết nóng.

Quạt thủ công có thể dùng trang trí, trưng bày, làm dụng cụ dùng trong nghệ thuật ca múa, nhạc kịch,…

d. Ý nghĩa

Là vật dụng quen thuộc, hữu ích và cần thiết trong đời sống.

Thể hiện trí tuệ của con người trong việc sáng tạo ra vật dụng giúp cuộc sống thoải mái hơn.

Góp phần thể hiện và truyền lưu văn hóa nghệ thuật (tranh vẽ, chữ viết trên quạt,..).

3. Kết bài

Tổng kết suy nghĩ, cảm nhận của em về cái quạt (vật dụng có ích, không thể thiếu,…).

Dàn Ý Thuyết Minh Về Áo Dài ❤️️ 10 Mẫu Ngắn Hay Nhất

Dàn Ý Thuyết Minh Về Áo Dài ❤️️ 10 Mẫu Ngắn Hay Nhất ✅ Đón Đọc Tuyển Tập Mẫu Dàn Bài Giới Thiệu Về Chiếc Áo Dài Việt Nam Được chúng tôi Chọn Lọc.

👉 Bước 1: Dẫn dắt giới thiệu về chiếc áo dài cần thuyết minh

Là trang phục truyền thống của đất nước Việt Nam

Là biểu tượng cho vẻ đẹp duyên dáng, thanh lịch của người phụ nữ Việt

👉 Bước 2: Thuyết minh chi tiết về chiếc áo dài

Khái quát về nguồn gốc, quá trình ra đời và phát triển của chiếc áo dài.

Hình dáng và cấu tạo của chiếc áo dài: gồm 5 bộ phận chính là cổ áo, thân áo, tà áo, tay áo và quần dài.

Công dụng, vai trò và giá trị của chiếc áo dài trong đời sống của người Việt Nam xưa và nay.

👉 Bước 3: Khẳng định vị trí của chiếc áo dài

Áo dài là niềm tự hào của đất nước

Áo dài giúp lưu giữ và lan toả vẻ đẹp văn hoá của dân tộc

1.Mở bài: Giới thiệu khái quát về chiếc áo dài Việt Nam

Ví dụ: Với người phụ nữ Việt Nam, áo dài đã trở thành một trang phục truyền thống. Chiếc áo đã tôn vinh vẻ đẹp cao quý của người phụ nữ Việt. Nó được nâng niu yêu quý như một nét văn hóa đầy bản sắc.

2.Thân bài:

a. Nguồn gốc

Xuất hiện trên những hình khắc trên những chiếc trống đồng Ngọc Lũ cách đây vài nghìn năm.

Trang phục truyền thống của cả nam và nữ song phổ biến và thường được sử dụng nhiều hơn cả cho người phụ nữ.

Được cách tân từ áo Ngũ thân của Việt Nam, được mặc kết hợp với quần.

Có sự thay đổi về tên gọi và có sự cách tân để phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người sử dụng.

b. Chất liệu:

Thường được may bằng những loại vải mềm

Chủ yếu được may bằng vải lụa.

c. Cấu tạo: Một chiếc áo dài Việt Nam truyền thống thường có năm bộ phận: cổ áo, thân áo, tà áo, tay áo và quần.

-Cổ áo:

Thường có chiều cao từ bốn đến năm xăng-ti-mét, ôm sát vào cổ của người mặc.

Ngày nay, cổ của chiếc áo dài ít nhiều đã được cách tân, có thể là hình chữ U, hình tròn, được trang trí thêm những viên đá lấp lánh hoặc những chiếc hoa rất đẹp.

-Thân áo:

Quy ước tính từ cổ đến eo

Có một hàng khuy bấm được đính chéo từ phần cổ áo xuống ngang hông.

Phần thân áo khi đến ngang hông được chia đôi làm hai tà – tà trước và tà sau, gọi là phần tà áo.

-Tà áo:

Gồm tà trước và tà sau.

Độ dài của tà trước và tà sau được thiết kế linh hoạt, để phù hợp với nhu cầu của người sử dụng, nhưng thường thấy hơn cả là tà sau dài hơn tà trước và hai tà bằng nhau.

Trên cả hai tà áo thường được thêu hoặc trang trí những hình vẽ, họa tiết

-Tay áo:

Có thể là tay cộc, tay lỡ hoặc tay dài.

Thường được đính đá để tăng thêm nét đẹp, quý phái cho chiếc áo.

-Quần: Thông thường, áo dài thường được mặc kết hợp với quần.

Thường được may bằng vải lụa mềm, có độc dài đến chấm gót chân.

Màu sắc của chiếc quần thường đi liền với màu của áo nhưng phổ biến hơn cả là hai màu trắng và đen.

c. Ý nghĩa, vai trò, vị trí của chiếc áo dài (trong đời sống sinh hoạt và văn hóa tinh thần của con người Việt Nam):

Áo dài là loại trang phục truyền thống của dân tộc Việt Nam từ xưa cho đến tận hôm nay

Nó trở thành biểu tượng cho hình ảnh ảnh người phụ nữ Việt.

Trang phục không thể thiếu trong các cuộc thi người đẹp, cuộc thi hoa hậu và trong các cuộc thi sắc đẹp thế giới, góp phần tôn vinh cho vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm, duyên dáng mà không kém phần lịch lãm, sang trọng, quý phái của người phụ nữ Việt.

Chiếc áo dài cũng là nguồn đề tài bất tận cho thi, ca, nhạc họa với nhiều tác giả và tác phẩm nổi tiếng.

Kết bài: Khái quát về chiếc áo dài Việt Nam và cảm nhận của bản thân về chiếc áo dài.

Ví dụ: Áo dài Việt Nam là một trong những nét đẹp truyền thông, gắn liền với phong tục và văn hóa của người Việt Nam. Bảo vệ nét đẹp áo dài Việt Nam là bảo vệ văn hóa và phong tục của ta vậy.

Chia sẻ cùng bạn 🌹 Thuyết Minh Về Áo Dài 🌹 16 Bài Văn Về Chiếc Áo Dài Ngắn Gọn

I. Mở bài: Giới thiệu đối tượng cần thuyết minh.

Ví dụ: Nhắc đến tổ quốc, bạn nghĩ đến điều gì? Còn nhắc đến Việt Nam, có bao nhiêu con tim đã kéo gọi một bóng hình chữ S, một tô phở bò đậm hương, một tấm bánh trưng ngày Tết, và cũng bao nhiêu tâm trí mơ về một tà áo dài thướt tha. Chiếc áo dài từ lâu đã là một biểu tượng văn hóa gắn liền với đất nước và với dân tộc, một nét đặc trưng của riêng hương sắc Việt Nam.

II. Thân bài:

1.Lịch sử chiếc áo dài

2.Cấu tạo của chiếc áo dài

Cổ áo: Kiểu cổ điển, cổ áo cao từ bốn đến năm centimet. Ngày nay, những người thợ may đã cắt giảm bớt chi tiết cổ áo, thay bằng cổ tròn, cổ tim, cổ chữ U, cổ thấp để tạo sự thoải mái hơn cho người mặc.

Thân áo: Thân áo được tính từ phần cổ đến eo. Cúc áo được đính chéo từ cổ sang vai rồi kéo xuống ngang hông. Từ eo, thân áo được xẻ làm hai tà ở hai bên hông. Ngày nay, kiểu áo dài đính khuy cũng không còn phổ biến như trước mà kiểu có khóa kéo sau lưng được ưa chuộng hơn bởi tính tiện lợi và nhanh gọn.

Tà áo: Áo dài có hai tà: tà trước và tà sau. Xưa thì tà trước bằng tà sau, nhưng ngày nay có nhiều loại áo có tà trước ngắn hơn tà sau, phù hợp với việc di chuyển.

Tay áo: Tay áo dài được may ôm sát tay, dài đến qua cổ tay, những thiết kế năng động hơn thì phần tay áo thường dài đến qua khuỷu tay một chút.

Quần: Quần áo dài là quần ống rộng, dài đến gót chân.

Chất liệu: Áo dài thường được may bằng bằng những loại vải nhẹ để tạo độ bay và có độ co giãn thích hợp như lụa hoặc voan.

Màu sắc: Áo dài học sinh thường mang sắc trắng tinh khôi, phù hợp với lứa tuổi học trò. Các bà, các mẹ, các cô thường lựa chọn những mẫu áo dài đa dạng hơn với những tà áo được thêu hoa, vải có họa tiết,… với đủ các loại màu sắc chất liệu.

3.Ý nghĩa của tà áo dài

Là quốc phục của Việt Nam, mang màu sắc văn hóa đất nước ra với bạn bè quốc tế, cùng bao nhiêu bóng dáng yêu kiều của người phụ nữ sải bước trên những đấu trường nhan sắc và trí tuệ.

Tà áo dài còn trở thành trang phục công sở như tiếp viên hàng không, giáo viên, nữ nhân viên ngân hàng,…

Mỗi ngày hội tựu trường, ta lại thấy những bóng áo dài trắng của nữ sinh tinh khôi, thấy bóng cô dịu dàng trong những tà áo dài,… Mỗi ngày cưới, ta lại thấy cô dâu mới e ấp trong tà áo dài đỏ khi ra mặt quan viên hai họ….

Tạo cảm hứng cho bao nhà thiết kế, hàng loạt những bộ sưu tập thời trang đã được ra đời dựa trên chiếc áo dài truyền thống, để nét hiện đại và cổ truyền hòa hợp với nhau.

III. Kết bài: Nêu cảm nhận của em về đối tượng được thuyết minh.

Ví dụ:

Đinh Vũ Ngọc trong “Chiếc áo dài Việt Nam” đã vẽ nên đôi tà áo dài như thế. Bao tà áo dài đã tung bay trong gió, bao bóng áo thướt tha đã đi qua thời gian và tới bao miền đất. Áo dài là nếp sống không thể thiếu trong văn hóa người dân đất Việt, là chất vàng của phù sa văn hóa nước Nam mà đi đâu tim người cũng mang theo.

Gợi ý cho bạn 💧 Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá 💧 15 Bài Văn Về Cái Nón Lá Hay

I. Mở bài: Giới thiệu về đối tượng thuyết minh – chiếc áo dài Việt Nam.

II. Thân bài:

a. Nguồn gốc: Do chúa Nguyễn Phúc Khoát đặt tiền đề phát triển, ban đầu gọi là áo dài ngũ thân.

b. Cấu tạo:

Gồm hai bộ phận chính là áo và quần rộng ống mặc kèm bên trong tà áo.

Phần hông áo được may sát với vòng eo của người phụ nữ, để tôn triệt để các đường cong và vẻ uyển chuyển của người phụ nữ.

Tà áo: gồm có hai tà trước sau, độ dài của tà áo thì tùy theo sở thích, công dụng của bộ áo mà người ta may dài hẳn đến mắt cá chân, hay may lửng đến giữa bắp chân hoặc là ngắn vừa qua đầu gối,… một số mẫu thiết kế sẽ có kiểu tà trước ngắn hơn, tà sau được may rộng và kéo dài.

Cổ áo: Với các bộ áo truyền thống thì cổ áo cao tầm 4 – 5 cm, hoặc có các kiểu cổ tròn, cổ trái tim, cổ vuông, cổ hình chữ u, cổ thuyền, thậm chí có những bộ áo được thiết kế kiểu cúp ngực, không cổ,…

Thân áo, được ghép lại với nhau bằng hàng cúc bấm chéo từ cổ áo xuống nách áo, sau đó theo dọc thân đến phần xẻ tà, hoặc may khóa kéo ở phía sau lưng, hoặc ở bên hông để tiện cho việc mặc áo.

Phần tay áo ngày nay đã số được may sát, ôm với cánh tay, có kiểu tay lỡ hoặc tay dài đến cổ tay. Với áo tay dài đôi khi phần cổ tay sẽ hơi rộng ra một chút hoặc biến thể tùy theo mẫu thiết kế để tăng thêm phần điệu đà, duyên dáng.

Quần áo dài thường được may rộng rãi và dài trùm qua mắt cá, ống quần được may loe ra nhìn để trông được thướt tha giống như mặc váy bên trong, hoặc cũng có thể may ống đứng, ngắn hơn,… Vải may mềm có độ rủ, và màu sắc tương đồng với màu áo, hoặc có thể chọn vải màu trắng.

c. Công dụng và ý nghĩa:

Sử dụng được trong nhiều trường hợp từ thông thường như đi học, đi chơi, đến các trường hợp trang trọng ví như dự tiệc, lễ lộc, trong việc cưới xin.

Biểu tượng cho truyền thống văn hóa của người Việt, đại diện cho bản sắc của cả một dân tộc.

Là một trong những đề tài được yêu thích trong giới nghệ thuật, thời trang,…

III. Kết bài: Nêu cảm nhận chung.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

I. Mở bài: Giới thiệu chung về chiếc áo dài Việt Nam

Chiếc áo dài đã trở thành trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam.

Chúng ta hãnh diện,trân trọng chiếc áo dài truyền thống này.

II. Thân bài:

a. Nguồn gốc, xuất xứ:

Căn cứ vào sử liệu, văn chương, điêu khắc, hội hoa, sân khấu dân gian… chúng ta đã thấy hình ảnh tà áo dài qua nhiều giai đoạn lịch sử. Nghĩa là áo dài đã có từ rất lâu.

Tiền thân của áo dài hơi giống áo từ thân, sau đó qua lao động, sản xuất chiếc áo giao lãnh mới được chính sửa để phù hợp với thời trang của từng thời điểm.

b. Chất liệu vải: phong phú, đa dạng, nhưng đều có đặc điểm là mềm, nhẹ, thoáng mát.

c. Kiểu dáng:

Áo dài từ cổ xuống đến chân.

Cổ áo may theo kiểu cổ Tàu, cũng có khi là cổ thuyền, cổ tròn theo sở thích của người mặc. Khi mặc, cổ áo ôm khít lấy cổ, tạo vẻ kín đáo.

Khuy áo thường dùng bằng khuy bấm, từ cổ chéo sang vai rồi kéo xuống ngang hông.

Thân áo gồm 2 phần: Thân trước và thân sau, dài suốt từ trên xuống gần mắt cá chân.

Khi mặc áo ôm sát vào vòng eo, làm nổi bật vóc dáng của người phụ nữ.

Tà áo xẻ dài từ trên xuống, giúp người mặc đi lại dễ dàng, thướt tha, uyển chuyển. Đây là nét đặc trưng khác biệt của chiếc áo dài việt Nam.

Màu sắc: Đa dạng, tùy theo sở thích lựa chọn của mỗi người.

d. Ý nghĩa:

Chiếc áo dài luôn giữ được tầm quan trọng của nó và trở thành bộ lễ phục của các bà, các cô.

Áo dài Việt Nam đã được tổ chức Unesco công nhận là một di sản Văn hóa phi vật thể, là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam.

Từ xưa đến nay chiếc áo dài đã trở thành tác phẩm mỹ thuật.

III. Kết bài:

Ngày nay có nhiều kiểu áo thời trang của nước ngoài du nhập vào nước ta, nhưng trang phục truyền thống, chiếc áo dài dân tộc vẫn là một biểu tượng đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

Chiếc áo dài đã trở thành quốc phục. Đó là tâm hồn, cốt cách của người Việt gửi vào vẻ tha thướt, quyến rũ của chiếc áo.

Giới thiệu tuyển tập 🍀 Thuyết Minh Về Quê Hương Em 🍀 15 Bài Văn Hay Nhất

1.Mở bài:

Chiếc áo dài là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam, là quốc phục của đất nước.

Chiếc áo dài mang theo một bề dày lịch sử từ khi nó ra đời đến nay.

2.Thân bài:

a/ Lịch sử chiếc áo dài

b/ Cấu tạo:

-Các bộ phận:

Cổ áo cổ điển cao khoảng 4 đến 5 cm, khoét hình chữ V trước cổ. Kiểu cổ áo này càng làm tôn lên vẻ đẹp của chiếc cổ cao ba ngấn trắng ngần thanh tú của người phụ nữ. Ngay nay, kiểu cổ áo dài được biến tấu rất đa dạng như kiểu trái tim, cổ tròn, cổ chữ U,…

Thân áo được tính từ cổ xuống phần eo. Thân áo dài được may vừa vặn, ôm sát thân của người mặc, ở phần eo được chiết lại (hai bên ở thân sau và hai bên ở thân trước) làm nổi bật chiếc eo thon của người phụ nữ. Cúc áo dài thường là cúc bấm, được cài từ cổ qua vai xuống đến phần eo. Từ eo, thân áo dài được xẻ làm hai tà, vị trí xẻ tà ở hai bên hông.

Áo dài có hai tà: Tà trước và tà sau và bắt buộc dài qua gối.

Tay áo được tính từ vai, may ôm sát cánh tay, dài đến qua khỏi cổ tay.

Chiếc áo dài được mặc với quần thay cho chiếc váy đen ngày xưa. Quần áo dài được may chấm gót chân, ống quần rộng. Quần áo dài thường được may với vải mềm, rũ. Màu sắc thông dụng nhất là màu trắng. Nhưng xu thế thời trang hiện nay thì chiếc quần áo dài có màu đi tông với màu của áo.

-Chất liệu vải và màu sắc của chiếc áo dài:

Chọn vải để may áo dài ta nên chọn vải mềm và có độ rũ cao. Chất liệu vải để may áo dài rất đa dạng: nhung, voan, the, lụa,…

Màu sắc cũng rất phong phú. Chọn màu sắc để may áo dài tùy thuộc vào tuổi tác và sở thích của người mặc.

c/ Công dụng:

Chiếc áo dài ngày nay là trang phục lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn văn hóa dân tộc, là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam

Chiếc áo dài đã trở thành trang phục công sở như các ngành nghề: Tiếp viên hàng không, nữ giáo viên, nữ nhân viên ngân hàng, học sinh,…

Ngoài ra ta có thể diện áo dài để đi dự tiệc, dạo phố vừa kín đáo, duyên dáng nhưng cũng không kém phần thời trang, thanh lịch.

d/ Bảo quản:

Do chất liệu vải mềm mại nên áo dài đòi hỏi phải được bảo quản cẩn thận. Mặc xong nên giặt ngay để tránh ẩm mốc, giặt bằng tay, treo bằng móc áo, không phơi trực tiếp dưới ánh nắng để tránh gây bạc màu. Sau đó ủi với nhiệt độ vừa phải, treo vào mắc áo và cất vào tủ. Bảo quản tốt thì áo dài sẽ mặc bền, giữ được dáng áo và mình vải đẹp.

Chiếc áo dài may đẹp là đường chỉ phải sắc sảo, ôm sát, vừa vặn với người mặc. Ở Nam bộ, chiếc áo dài được cách điệu thành áo bà ba mặc với quần đen ống rộng cũng rất đẹp. Chiếc áo dài khi mặc thường được được đi kèm với chiếc nón lá đội đầu càng tôn vẻ dịu dàng nữ tính của người phụ nữ Việt Nam.

3.Kết bài:

Dù hiện nay có nhiều mẫu thời trang ra đời rất đẹp và hiện đại nhưng vẫn không có mẫu trang phục nào thay thế được chiếc áo dài

Áo dài là trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt Nam ta: dịu dàng, duyên dáng nhưng cũng rất hợp mốt, hợp thời.

Tham khảo trọn bộ 🍃 Thuyết Minh Về Loài Hoa Ngày Tết 🍃 15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất

1.Mở bài: Giới thiệu chung về áo dài (Là trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt Nam)

2.Thân bài:

a. Nguồn gốc: Không ai biết rõ chiếc áo dài nguyên thủy ra đời từ bao giờ, hình dáng ban đầu của nó ra sao? Trong cuốn sách Kể chuyện chín mùa, mười ba vua triều Nguyễn của ông Tôn Thất Bình (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1997) có ghi lại là chiếc áo dài được hình thành từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Như vậy, chiếc áo dài được ra đời từ thế kỉ thứ 18. Tuy ban đầu còn thô sơ nhưng đã rất kín đáo.

b. Chất liệu: Có thể may bằng nhiều loại vải, thông dụng là gấm, lụa, the … Các quan chức thì mới cho dùng xen the, đoạn … còn gấm vóc và các thứ rồng phượng thì dành cho các vua, chúa, vương công.

c. Kiểu dáng chiếc áo:

-Ngày xưa:

Đối với người phụ nữ Việt Nam trước đây, trang phục dân tộc là chiếc áo tứ thân màu nâu non đi chung với váy đen, yếm trắng, đầu chít khăn mỏ quạ, thêm vào đó là những chiếc thắt lưng màu thiên lí hay màu đào.

Lễ phục thì có những tấm áo mớ ba. Đó là loại áo dài gồm 3 chiếc: ngoài cùng là chiếc áo tứ thân bằng vải the thâm màu nâu non hoặc tam giang; chiếc áo thứ hai có màu mỡ gà, chiếc thứ ba là màu cánh sen. Khi mặc những chiếc áo dài này, các cô thường chỉ cài cúc cạnh sườn. Phần từ ngực áo đến cổ chỉ lật chéo để lộ ba màu áo ra ngoài. Bên trong là chiếc yếm đào đỏ thắm, đầu đội nón quai thao trong rất duyên dáng, kín đáo.

Thường phục may áo cổ đứng, ngắn tay, cửa ống tay có thể rộng hẹp tuỳ ý. Áo thì từ hai bên nách trở xuống phải khâu kín, không cho xẻ mở.

Lễ phục thì may áo cổ đứng dài tay, vải xanh, chàm hoặc đen, trắng tùy nghi. Cổ áo có thể viền và lót. Cũng kể từ thế kỉ 18, các phụ nữ biết thêu thùa hoa lá quanh cổ áo để tăng thêm vẻ đẹp, chất liệu vải ngày càng tốt hơn.

-Ngày nay:

Chiếc áo dài được dần dần thay đổi và hoàn thiện hơn. Đầu thế kỉ 20, phụ nữ Việt Nam chỉ mặc có một chiếc áo dài, bên trong là chiếc áo cộc và thay chiếc váy bằng chiếc quần dài.

Tùy theo lứa tuổi, chiều dài áo buông xuống dài ngắn khác nhau, lúc thì đến đầu lúc thì chấm bàn chân.

Cho đến nay, chiếc áo dài truyền thống tương đối ổn định.

d. Ý nghĩa:

Giờ đây chiếc áo dài của phụ nữ đã trở thành một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời. Đó là niềm tự hào của trang phục dân tộc.

Chiếc áo dài vừa kín đáo, vừa e ấp, vừa khêu gợi được những nét đẹp kiều diễm, mảnh mai của người phụ nữ Việt Nam.

3.Kết bài: Chúng ta hãnh diện về chiếc áo dài và trân trọng nâng nó lên hàng quốc phục hoặc gọi tên một cách hình ảnh là chiếc áo dài quê hương.

Đón đọc tuyển tập 💧 Thuyết Minh Về Món Ăn Dân Tộc 💧 15 Mẫu Hay

I. Mở bài: Giới thiệu khái quát về áo dài

Ví dụ: Áo dài là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam. Áo dài mang lại nét đẹp duyên dáng, đằm thắm làm say lòng người của người phụ nữ Việt. Bởi vậy đã có biết bao nhà thơ, nhà văn hết lời ca ngợi:

II. Thân bài:

a. Luận điểm 1: Nguồn gốc, lịch sử

Áo dài là trang phục truyền thống của Việt Nam

Cách đây khoảng vài nghìn năm, theo như hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ, phụ nữ Việt đã mặc trang phục với 2 tà áo xẻ.

Trải qua những thay đổi trong lối sống, nếp sống văn hóa Việt, áo dài từng có thời gian bị cấm song cho đến nay, áo dài đang ngày càng được yêu thích bởi sự duyên dáng, nhẹ nhàng, thanh thoát của nó.

b. Luận điểm 2: Chất liệu và cấu tạo

-Chất liệu: Áo dài được may bằng vải mềm, rũ, thường là lụa tơ tằm.

-Cấu tạo: Áo dài truyền thống Việt Nam gồm 5 phần chính: cổ áo, thân áo, tay áo, tà áo và quần.

Cổ áo cổ điển cao từ 4-5 cm, ôm sát vào cổ. Ngày nay, cổ áo dài được cách tân hơn rất nhiều, có cổ trái tim, cổ tròn, cổ chữ U,… Ở cổ áo thường được đính ngọc, thể hiện sự sang trọng, quý phái.

Thân áo được tính từ phần cổ xuống đến eo, có đính cúc từ cổ chéo đến vai rồi xuống kéo xuống ngang hông

Tà áo được xẻ từ eo xuống đến gót chân. Áo dài có 2 tà: tà trước và tà sau. Độ dài 2 tà tùy vào sở thích thiết kế, thường là tà sau dài hơn tà trước. Trên tà áo, người thợ thủ công thường thêu hoa văn hoặc bài thơ lên để tăng vẻ đẹp nhẹ nhàng, thanh thoát cho áo dài.

Tay áo được tính từ phần vai xuống đến cổ tay hoặc khuỷu tay (áo tay lỡ), hoặc cũng có thể làm tay cộc tùy sở thích, ôm sát lấy cánh tay khiến cho áo dài càng thon gọn.

Áo dài được mặc với quần lụa, ống rộng, chạm đến gót chân. Màu sắc của quần thường là màu đen hoặc trắng.

c. Luận điểm 3: Phân loại áo dài

Áo dài được chia làm 2 loại chính: áo dài cổ điển và áo dài cách tân

Áo dài cách tân có sự thay đổi về thiết kế ở cổ và độ dài tà áo, đáp ứng nhu cầu và sở thích của người mặc. Ngày nay, áo dài cách tân rất được ưa chuộng, đặc biệt là trong các ngày lễ, tết bởi phần tà áo ngắn hơn khá nhiều, dễ hoạt động nhưng vẫn giữ được nét duyên dáng, dịu dàng của áo.

d. Luận điểm 4: Ý nghĩa của áo dài trong truyền thống văn hóa Việt Nam

Áo dài là trang phục truyền thống Việt Nam, được chọn làm quốc phục và trở thành biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam. Chiếc áo dài làm tôn thêm vẻ đẹp quyến rũ, dịu dàng, đằm thắm mà lại không kém phần sang trọng, thanh lịch cho người phụ nữ Việt Nam.

Tà áo dài đã đi vào đời sống văn hóa nghệ thuật, đi vào thơ ca nhạc họa và trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, thể hiện tình cảm yêu mến, say đắm cuẩ người con trai dành cho người con gái.

Bài thơ “Áo trắng” của Huy Cận: Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong Hôm xưa em đến mắt như lòng Nở bừng ánh sáng em đi đến Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng

Bài “Áo lụa Hà Đông” của Nguyên Sa: Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông…

Hình ảnh chiếc áo dài cũng xuất hiện nhiều trong các tác phẩm âm nhạc của các nhạc sĩ: Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Sỹ Luân, Nguyễn Đức Cường,…

Trong hội họa không thể không kể đến bức họa “Thiếu nữ bên hoa huệ” của họa sĩ Tô Ngọc Vân

Trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác, áo dài cũng được đưa vào như một tình cảm, một sự tự hào về văn hóa dân tộc Việt Nam.

III. Kết bài: Khát quát về ý nghĩa của chiếc áo dài trong đời sống.

Ví dụ: Áo dài là quốc phục của nước Việt Nam, là niềm tự hào của dân tộc Việt. Dù thời gian có đổi thay, những mẫu trang phục ngày càng đa dạng và hiện đại nhưng trên khắp nẻo đường ở đất nước bình yên này, tà áo dài vẫn nhẹ nhàng tung bay mang theo nét đẹp, nét duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam.

Tiếp tục tham khảo 💧 Thuyết Minh Về Đồ Vật 💧 15 Mẫu Hay

I. Mở bài: Nêu lên đối tượng được thuyết minh – Chiếc áo dài Việt Nam.

Ví dụ: Trên thế giới, mỗi Quốc gia đều có một trang phục của riêng mình. Từ xưa đến nay, chiếc áo dài đã trở thành trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam.

II. Thân bài

a. Nguồn gốc, xuất xứ

Thời chúa Nguyễn Phúc Kháng: Do chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nên đến cuối thế kỉ 16 thì ăn mặc của người Việt vẫn giống người Phương Bắc. Trước làm song xâm nhập này, vua ban hành mọi người dân Việt đều mặc quần không đáy.

Thời vua Minh Mạng: Cho đến thế kỉ 17 phong tục mặc váy vẫn được duy trì.

Áo dài Le mor: Biến chiếc áo tứ thân để biến nó chỉ còn lại hai vạt trước và sau

Áo dài Lê Phổ: Bỏ bớt những nét lai căng, cứng cỏi của áo Le Mur, đồng thời đưa thêm các yếu tố dân tộc để tạo thành áo dài

Đời sống mới: Chiếc áo dài giờ vẫn có hai tà và ôm sát người.

Tuy đã xuất hiện rất nhiều những mẫu mã thời trang, nhưng chiếc áo dài vẫn giữ được tầm quan trọng của nó, và trở thành bộ lễ phục của các bà các cô mặc trong các dịp lễ đặc biệt.

b. Hình dáng, chất liệu, màu sắc:

-Hiện nay, áo có các phần chính như thân áo, tay áo, cổ áo.

Thân áo có hai thân, thân trước và thân sau. Thân trước có hai li ngực và hai li chiết eo để làm tăng thêm vẻ đẹp cho đường cong của người phụ nữ.

Tà áo được khâu bằng tay cho mềm mại. Hai thân áo giao nhau với phần tay và phần cổ.

Cổ áo nguyên bản là cổ đứng, cao từ 3 đến 7 phân. Ngày nay được kết hợp với nhiều kiểu cổ áo đa dạng.

Tay áo được nối với thân sau và thân trước.

-Chất liệu vải phong phú, đa dạng, nhưng đều có đặc điểm là mềm, nhẹ, thoáng mát. Thường là nhiễu, voan, nhất là lụa tơ tằm…

-Màu sắc sặc sỡ như đỏ hồng, cũng có khi nhẹ nhàng, thanh khiết như trắng, xanh nhạt. Tuỳ theo sở thích, độ tuổi.

c. Áo dài trong mắt người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế

Từ xưa đến nay, áo dài luôn được tôn trọng, nâng niu.…

Phụ nữ nước ngoài rất thích áo dài

III. Kết bài: Cảm nghĩ về tà áo dài.

Ví dụ: Ngày nay, mặc dù có nhiều trang phục hiện đại nhưng chiếc áo dài vẫn luôn gần gũi, quen thuộc với người Việt. Chúng ta phải có trách nhiệm bảo tồn, gìn giữ và phát triển để áo dài mãi mãi là biểu tượng của Việt Nam.

Mời bạn đón đọc 🌜 Thuyết Minh Về Đồ Dùng Học Tập 🌜 16 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

I. Mở bài: Giới thiệu về đối tượng cần thuyết minh – chiếc áo dài Việt Nam.

Ví dụ: Nhắc đến Việt Nam thế giới nghĩ ngay đến bản sắc văn hóa đa dạng, với áo dài và nón lá, tà áo dài thướt tha duyên dáng đại diện cho người phụ nữ Việt Nam xinh đẹp, dịu dàng. Đi đến đâu xuất hiện tà áo dài đều thấy hình ảnh quê hương Việt Nam.

II. Thân bài:

a. Nguồn gốc

Không rõ xuất xứ những tà áo dài xuất hiện từ hàng ngàn năm trước được khắc trên trống đồng Ngọc Lũ.

Chúa Nguyễn Phúc Khoát người có công giúp chiếc áo dài định hình.

Chiếc áo dài đầu tiên ra đời đó là sự kết hợp giữa váy người Chăm và chiếc váy sườn xám người Trung Hoa.

Áo dài là sự kết hợp của nhiều trang phục tinh hoa các nền văn hóa khác nhau.

b. Cấu tạo, hình dáng áo dài

-Áo dài gồm các phần:

Cổ áo: thường là cổ cao hoặc cổ tròn. So với áo dài truyền thống áo dài ngày nay thêm nhiều kiểu đặc biệt ở cổ áo như cổ chữ U, cổ tròn.

Thân áo: từ cổ đến eo, có 2 mảnh bó sát eo.

Tà áo: chia làm 2 phần tà áo trước và tà áo sau.

Tay áo: không có cầu vai, may liền, kéo dài từ cổ áo.

Phần quần: quần áo may rộng có thể cùng màu sắc với áo dài.

-Chất liệu: áo dài thường may bằng chất liệu nhẹ, mềm thoáng.

-Màu sắc đa dạng: không chỉ màu trắng truyền thống mà còn xanh, đỏ, vàng….

c. Sử dụng áo dài

Học sinh sinh viên mặc áo dài đến trường trong những ngày đặc biệt.

Người lớn mặc áo dài trong những dịp đặc biệt như lễ cưới, sự kiện, dự tiệc…duyên dáng, sang trọng.

Áo dài còn xuất hiện ở nhiều sự kiện lớn như Apec diễn ra ở Việt Nam.

d. Bảo quản áo dài

Sau khi sử dụng cần giặt sạch, phơi nơi thoáng mát.Không dùng thuốc tẩy dễ làm bay màu áo dài.

Nếu không mặc áo dài thường xuyên nên gấp áo lại và cho vào túi giấy giúp áo luôn mềm và sạch sẽ.

e. Ý nghĩa áo dài

Tượng trưng cho vẻ đẹp của người con gái Việt Nam yêu kiều, duyên dáng.

Trang phục đại diện cho hình ảnh người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

III. Kết bài: Khẳng định giá trị của chiếc áo dài

Khám phá thêm 💕 Dàn Ý Thuyết Minh Về Danh Lam Thắng Cảnh 💕 14 Mẫu Hay

Mở bài: Giới thiệu về tà áo dài Việt Nam

Ví dụ: Một trong những hình ảnh đại diện cho truyền thống, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam chính là tà áo dài.

Thân bài

a. Khái quát chung

Lịch sử ra đời: Chiếc áo dài ra đời lần đầu vào thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1739 – 1765). Năm 1934, họa sĩ Lê Phổ đã bỏ bớt những nét cứng cỏi của áo Lemur, đồng thời đưa các yếu tố dân tộc làm họa tiết trên áo. Chiếc áo dài này rất được ưa chuộng và tồn tại đến bây giờ.

Áo dài được thiết kế với nhiều màu sắc khác nhau phù hợp với nhu cầu và mục đích sử dụng và được mọi người dân biết đến, tôn vinh.

b. Thuyết minh chi tiết

Cổ áo cổ điển cao khoảng 4 đến 5 cm. Ngày nay, kiểu cổ áo dài được biến tấu khá đa dạng như kiểu cổ trái tim, cổ tròn, cổ chữ U, trên cổ áo thường được đính ngọc.

Thân áo được tính từ cổ xuống phần eo. Cúc áo dài thường từ cổ chéo sang vai rồi kéo xuống ngang hông. Thân áo dài được xẻ làm 2 tà từ vị trí eo đến hết chiều dài của áo.

Áo dài có hai tà: tà trước và tà sau. Ngày xưa tà trước bằng tà sau nhưng ngày nay đã có nhiều loại áo tà trước ngắn hơn tà sau. Trên tà áo trước thường được thêu những hoa văn hay những bài thơ.

Tay áo được tính từ vai, may ôm sát cánh tay, dài đến qua khỏi cổ tay.

Chiếc áo dài được mặc với quần. Quần áo dài khi xưa may bằng vải cứng cáp, nay thường được may với vải mềm, rũ. Màu sắc thông dụng nhất là màu trắng. Nhưng ngày nay áo dài còn được cách tân phối cùng chiếc chân váy dài tạo vẻ dịu dàng, thanh lịch.

c. Ý nghĩa, vai trò của áo dài

Vai trò: tô điểm cho người phụ nữ thêm xinh đẹp, duyên dáng, tôn lên vẻ đoan trang, dịu dàng của họ.

Ý nghĩa: Áo dài là quốc phục của người phụ nữ Việt Nam, là biểu tượng cho người phụ nữ, được mặc ở trong những dịp đặc biệt (cưới hỏi, cỗ bàn, những hội nghị thượng đỉnh,…) thậm chí nhiều đơn vị đã lấy áo dài làm trang phục bắt buộc (các hãng hàng không, nhân viên ngân hàng, giáo viên,…).

Kết bài: Khẳng định những giá trị của áo dài.

Ví dụ: Chiếc áo dài mãi mãi là niềm tự hào và hãnh diện của mỗi con người Việt Nam chúng ta. Vẻ đẹp chiếc áo dài gợi lên vẻ đẹp văn hoá truyền thống của đất nước và con người Việt Nam.

Có thể bạn sẽ thích ☘ Thuyết Minh Về Đặc Sản Quê Em ☘ 21 Món Ăn Đặc Sản Hay

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Cây Hoa Hồng Dàn Ý & 14 Bài Văn Thuyết Minh Lớp 8

Mỗi loài hoa đều mang trong mình vẻ đẹp, hương sắc và ý nghĩa riêng. Hoa hồng có rất nhiều loại, màu sắc khác nhau như hoa hồng nhung, hoa hồng trắng, hoa hồng vàng… Mời các em cùng theo dõi bài viết để rèn kỹ năng thuyết minh về loài hoa thật tốt.

I. Mở bài: giới thiệu về hoa hồng:

Ví dụ: Em rất thích hoa, trong tất cả các loài hoa em thích nhất là hoa hồng. hoa hồng rất đẹp và mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt.

II. Thân bài: thuyết minh về hoa hồng

1. Khái quát về hoa hồng: Là một loài hoa leo hoặc là loài hoa trồng chậu

Hoa của hồng rất thơm

Hoa hồng là loài hoa rất có ý nghĩa trong đời sống

2. Chi tiết về hoa hồng:

– Cấu tạo của hoa hồng:Thân cây hoa hồng nhỏ, có nhiều gai

Lá hoa hồng màu xanh đậm, có nhiều gân

Hoa hồng màu hồng, màu đỏ, màu trắng,…

Hoa hồng có nhiều cánh, mỗi cánh hoa hồng nhỏ và đẹp

Đài hoa hồng màu xanh

– Đặc điểm của hoa hồng:Hoa hồng thường mọc thành bụi hoặc leo

Hoa hồng có ý nghĩa vô cùng đặc biệt

Hoa hồng rất đẹp

– Ý nghĩa của hoa hồng: Là biểu hiện cho tình yêu

Là biểu hiện cho những tình cảm thiêng liêng : tình mẹ con, tình cha con, tình yêu trai gái,…

Là ý nghĩa, biểu tượng cho những vật có giá trị

– Hoa hồng trong nghệ thuật.

III. Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về hoa hồng

Ví dụ: Hoa hồng là một loài hoa rất có ý nghĩa và xinh đẹp. chúng ta nên phát huy loài hoa xinh đẹp này.

Hoa hồng vẫn thường được gọi là nữ hoàng của các loài hoa bởi vẻ đẹp kiêu sa của nó. Mỗi một loài hoa có một vẻ đẹp riêng nhưng với hoa hồng người ta thấy ở đó sự đằm thắm và có chút gì đó bí ẩn. Hoa hồng đã khiến cho biết bao nhiêu người say mê.

Xuất xứ của hoa hồng là từ xứ sở Ba Tư từ cách đây khoảng 35 triệu năm. Như vậy hoa hồng đã có một lịch sử vô cùng lâu đời. Cho đến nay hoa hồng vẫn là biểu tượng của tình yêu, sắc đẹp, chiến tranh và chính trị. Cách đây khoảng 3000 năm trước công nguyên, người Sumerian nay thuộc Iraq đã có những ghi nhận đầu tiên về hoa hồng. Đến khoảng 600 năm trước công nguyên, những bài thơ sáng tác về hoa hồng bắt đầu ra đời. Chúng chủ yếu ngợi ca vẻ đẹp của hoa hồng và kể từ ngày ấy người ta đã xem hoa hồng như là nữ hoàng của các loài hoa rồi. Sự phân bố của hoa hồng khá lớn từ Alaska cho đến Mexico và thậm chí là cả ở Bắc Phi. Vì khí hậu của những nơi này không giống nhau nên mỗi nơi lại có những loài hoa hồng khác nhau.

Cây hoa hồng thuộc giống thân cỏ, nhỏ như chiếc đũa và có màu xanh sẫm. Bao phủ bên ngoài thân là những chiếc gai nhọn giúp cho hoa hồng chống lại kẻ thù như sâu bọ. Với những người chăm sóc hoa hồng cũng phải vô cùng cẩn thận nếu không sẽ bị những cái gai nhọn làm chảy máu. Từ thân cây những cành hoa mọc ra với rất nhiều lá. Lá của hoa hồng có hình bầu dục với rìa ngoài như mép răng cưa, trên mặt lá còn có những đường gân nổi rõ. Trên mỗi cành nở một bông hoa hồng tuyệt đẹp. Đầu tiên chúng là những nụ hoa chụm lại với nhau. Khi hoa hồng nở, ta nhìn thấy rõ nhụy hoa nằm ở giữa, xung quanh là cánh hoa rồi đài hoa phía dưới. Hoa hồng càng nở thì càng khoe sắc. Mỗi bông hoa được tạo nên bởi vô vàn các cánh hoa mềm mịn. Hương hoa hồng thoang thoảng, quyến rũ đến mê người.

Hiện tại các nhà khoa học đã nghiên cứu và chỉ ra rằng có hơn 150 loài hoa hồng khác nhau. Một phần cũng là do sự lai tạo giống của con người còn vốn dĩ ban đầu chỉ có hoa hồng nhung và hồng trắng. Hoa hồng nhung có nhiều màu, chủ yếu là màu đỏ và màu hồng phấn. Nhờ được nhân giống mà ngày nay có thêm những loại hoa hồng nhiều màu sắc như hồng đen, hồng tím, hồng vàng, hồng xanh, hồng bảy sắc,… Ở châu Âu có nhiều cánh đồng hoa hồng với những màu sắc vô cùng rực rỡ. Có những nơi người ta tổ chức ngày hội hoa hồng như một cách để tôn vinh vẻ đẹp của loài hoa này.

Đối với cuộc sống hàng ngày của người dân Việt Nam hoa hồng đã trở nên vô cùng quen thuộc. Đà Lạt có lẽ là nơi trồng nhiều hoa hồng nhất nước ta. Đặc biệt là hoa ở đây rất đẹp và thơm. Những người buôn hoa thường đến vườn hồng của Đà Lạt chọn mua những bó hoa mang về bán lại cho người dân. Người dân mua về cắm hoa trong lọ sứ, lọ thủy tinh hay dùng làm trang trí,… Chỉ cần đặt một lọ hoa hồng lên bàn thôi là không gian trở nên lãng mạn hơn hẳn. Cánh hoa hồng thường được dùng là siro chữa ho, chiết làm nước hoa, làm nước tẩy trang,… Xưa kia người trong hoàng cung, đặc biệt là các phi tần của nhà vua thường tắm với cánh hoa hồng.

Ở một vài nước phương Tây như nước Pháp, hoa hồng là loài hoa biểu trưng. Còn trong văn hóa Ấn Độ bông hồng lại được ví với vẻ đẹp của người Mẹ. Nó biểu thị cho sự hoàn mĩ, không thiếu sót. Còn trong Kito giáo, hoa hồng lại là sự hóa thân của những giọt máu chảy ra từ vết thương của Chúa. Đối với nhiều quốc gia trên thế giới hoa hồng là biểu tượng của tình yêu, của lòng chung thủy. Vào các ngày lễ như 8/3, 20/10 nam giới thường tặng hoa hồng cho nữ giới thay cho lời yêu, lời cảm ơn. Vào ngày 20/11 học sinh cũng thường mua hoa hồng tặng thầy cô để tỏ lòng kính trọng.

Cách trồng hoa hồng không khó nhưng cần có sự chăm sóc cẩn thận để hoa khoe sắc và nở đều. Với những người yêu hoa hồng, được ngắm nhìn những bông hoa nở chính là niềm vui mỗi ngày.

Nhắc tới hoa hồng người ta nhắc tới vẻ đẹp của sự thăng hoa. Có hơn 160 quốc gia trên thế giới đều thừa nhận rằng hoa hồng có thể chế biến thuốc. Ở Việt Nam, hoa hồng còn là biểu tượng của tình yêu đôi lứa!

Muôn vạn sắc hoa, muôn vạn màu sắc. Mỗi loài đều có một đặc trưng riêng. Tuy nhiên màu đỏ là màu của lửa màu của chiến thắng vì vậy mà vua của các loài hoa chính là hoa hồng. Một loài hoa tượng trưng cho tình yêu bất tử. Hoa hồng được coi là loài hoa đẹp nhất trong các loại hoa bởi nó tượng trưng cho tình yêu mãnh liệt. Hoa hồng như cái tên của nó rất đẹp, nhưng cũng rất “nhọn”. Từ gốc đến ngọn được bao trùm bởi gai nhọn.

Dĩ nhiên, hoa hồng còn đẹp bởi mùi hương quyến rũ,mê hoặc. Hương hoa hồng vô cùng dễ chịu, nồng nàn, lan tỏa… Hoa hồng đỏ được xem là hoa thánh dành riêng cho thần Vệ nữ.Truyền thuyết về hoa hồng gắn liền với truyền thuyết về tình yêu của thần thánh. Hoa hồng không chỉ là nữ hoàng các loài hoa bởi vẻ đẹp kiêu sa và hương thơm quyến rũ, mà còn là một dược phẩm quý của thiên nhiên với những công dụng làm đẹp. “Hoa hồng có gai”vinh dự được gán cho những người đẹp.

Phía sau mỗi loài hoa đều có mang một ý nghĩa và truyền thuyết riêng. Người ta nói rằng hoa có một ngôn ngữ của riêng mình và chuyển tải thông điệp qua vẻ ngoài xinh đẹp. Mỗi bông hoa khác nhau có ý nghĩa hoa khác nhau được phản ánh trong sắc thái của chúng. Theo cách đó, mỗi loại hoa hồng cũng có một ý nghĩa riêng dựa trên các màu sắc sống động. Ý nghĩa quan trọng của hoa hồng màu vàng, đặc biệt là tình bạn, nhưng nó cũng có nhiều cách giải. Hoa hồng (Rose) có tên khoa học là Rosa sp. có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới vùng Bắc bán cầu, được xếp vào lớp Song tử diệp (Dicotyledoneae), bộ Hồng (Rosales), họ Hồng (Rosaceae).

Hoa hồng đã có mặt trên Trái đất cách đây 35 triệu năm. Vào khoảng 3000 năm trước công nguyên, người Sumerian, nay thuộc Iraq, đã có những ghi nhận đầu tiên về hoa hồng. Trung Quốc có thể là nơi đầu tiên thuần hóa hoa hồng, cách đây khoảng 5000 năm. Nhưng mãi đến thế kỷ XVIII thì những giống hồng từ Trung Quốc mới được giới thiệu ở châu Âu, sau đó du nhập qua Hà Lan, Pháp, Đức, Bungari và chính người Châu Âu mới có công lai tạo ra nhiều giống mới hiện đại như ngày nay, hầu hết những giống hồng ngày nay đều có nguồn gốc từ nó. Kể từ đây, bắt đầu một thời kỳ lịch sử mới của hoa hồng, với ngày càng nhiều giống hoa hồng lai tạo đã được ra đời.

Trong tự nhiên, giống hoa hồng có khoảng 150 loài, phân bố khắp bán cầu bắc, từ Alaska cho đến Mexico và ở cả Bắc Phi. Hoa hồng thuộc nhóm thân gỗ cây bụi thấp, thẳng, có nhiều cành và gai cong. Đặc điểm chung của hoa hồng là: Lá hoa hồng là lá kép lông chim mọc cách, ở cuống có lá kèm nhẵn, mỗi lá có 3-5 hoặc 7-9 lá con, xung quanh lá con có nhiều răng cưa nhỏ. Tùy mỗi giống cây mà lá có màu xanh đậm hay xanh nhạt, răng cưa nông hay sâu hoặc có dạng lá khác. Cánh hoa hồng cuộn tròn xếp thành nhiều vòng quanh một hình nón nhọn có hình dạng giọt nước mắt tròn. Hồng có mùi thơm nhẹ, cánh hoa mềm dễ bị dập nát. Hồng có nhiều màu sắc đa dạng, từ trắng, vàng, đỏ, cam, … cho đến các loại có 2 màu trên cùng một hoa (bi-color). Hoa hồng thuộc loại hoa lưỡng tính, nhị đực và nhị cái trên cùng một cành hoa, các nhị đực dính vào nhau bao xung quanh vòi nhụy, khi phấn chín rơi trên đầu nhụy nên có thể tự thụ phấn.

Ở Việt Nam hoa hồng được nhập trồng từ lâu trên khắp mọi miền Nam Bắc. Hoa hồng là loại hoa chủ lực chiếm 30% – 35% diện tích trồng hoa cắt cành của nước ta. Những vùng trồng hoa tập trung là Lâm Đồng, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh…Trong hệ tranh tượng Kitô giáo, hoa hồng hoặc là cái chén hứng máu của Chúa Kitô, hoặc là sự hóa thân của những giọt máu này và thậm chí, là chính vết thương của Chúa.

Trong văn hóa phương Tây, hoa hồng thường xuất hiện như là biểu tượng của sự phục sinh huyền bí. Abd Ul Kadir Gilani so sánh hoa hồng với những vết sẹo trên cơ thể sống. Với người Hy Lạp hoa hồng vốn là một loài hoa màu trắng, nhưng khi Adonis bị tử thương, nữ thần Aphrodite chạy đến cứu chàng đã bị đâm phải một cái gai và máu đã nhuộm thẫm những bông hồng cung tiến nàng. Chính ý nghĩa biểu trưng về sự tái sinh đã khiến con người, từ thời cổ đại, đặt những bông hồng lên các nấm mộ, và Hecate, nữ thần âm phủ đôi khi được thể hiện với hình ảnh đầu quấn một vòng hoa hồng có 5 lá.

Hoa hồng đã trở thành biểu tượng của tình yêu và còn hơn thế, của sự dâng hiến tình yêu, của tình yêu trong trắng (còn trinh), tương tự ý nghĩa của hoa sen Ai Cập và cây thủy tiên Hy Lạp.

Biểu tượng một số loại hoa hồng: Hoa hồng phấn: Biểu tượng của vẻ đẹp nhã nhặn, duyên dáng, nữ tính, hoa hồng cũng chở những ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào độ đậm nhạt. Màu hồng đậm thể hiện lòng biết ơn, cảm kích, trong khi màu hoa hồng nhạt lại có ý nghĩa duyên dáng thanh lịch, khâm phục, hạnh phúc. Hoa hồng 7 màu: Loại hoa hồng nhiều màu sắc, còn được biết tới với tên gọi hoa hồng hạnh phúc hay hoa hồng bảy sắc cầu vồng. Đó là sự kết hợp tinh tế những điều tưởng như không thể. Tặng hoa hồng 7 màu mang ý nghĩa thể hiện sự quyết tâm đạt được điều mình mong ước. Hoa hồng trắng: Mẫu mực, khiêm tốn, trong sáng ngây thơ, hoa hồng trắng – thường là hoa cho cô dâu, là loài hoa của tình yêu tuổi trẻ. Tại Scotland, khi hoa hồng trắng nở vào mùa thu, đó là dấu hiệu của mùa cưới tới sớm.

Cũng là biểu tượng của sự chân thật, tôn kính, nó truyền đi thông điệp của lòng trung thành, với lời “anh xứng đáng với em.” Hoa hồng vàng: Trong thời đại Victoria, màu vàng là biểu tượng của lòng ghen tuông, ngày nay nó biểu hiện tình bạn, sự quan tâm và niềm vui. Một bó hoa hồng vàng cả nụ sẽ mang tới sự ấm áp, sự say mê, hân hoan. Hoa hồng cam: Với sự ấm áp, những âm điệu ngân nga, màu cam biểu thị sự nhiệt tình, mong mỏi. Nếu bạn đang tìm cách biểu lộ lòng hâm mộ và sự lôi cuốn với một thông điệp thầm kín về nỗi đam mê rạo rực, hãy gửi bó hoa với những bông hồng cam đã nở rực rỡ. Hoa hồng tím: Hiếm và bí ẩn trong tự nhiên, với biểu tượng niềm say mê thèm khát, bất chấp tất cả, không ngạc nhiên rằng hoa hồng tím là thông điệp cho một tiếng sét ái tình, một loài hoa tuyệt vời cho ngày lễ tình yêu.

Hoa hồng đen: Hoa hồng đen – loài hoa mang sắc màu thần thoại và bí ẩn. Không rực rỡ và nổi bật như những loài hoa khác nhưng Hoa hồng đen” luôn luôn là loài hoa đẹp trên bình diện tinh thần – loài hoa tượng trưng cho những đam mê, khát khao. Hoa hồng đen không ồn ào khi xuất hiện, loài hoa này còn tượng trưng cho sự cô đơn và lạnh lùng. Hoa hồng song hỷ: Hoa hồng song hỷ một loại hoa hồng có cánh màu trắng ngà nhưng lại có viền màu hồng nhạt. Nó thể hiện sự hòa hợp giữa 2 con tim khác nhau hòa chung nhịp đập với nhau, thể hiện sự hợp nhất.Hoa hồng tỉ muội: Hoa hồng tỉ muội mang ý nghĩa như tên của nó. Nếu bạn được ai đó tặng những đóa hoa hồng tỉ muội, như thế bạn nên hiểu rằng người đó coi mình như người thân – anh em hoặc chị em.

Hoa hồng xanh: Nói đến hoa hồng, người ta thường nghĩ đến màu đỏ thắm – màu tiêu biểu nhất của loài hoa này. Nhưng giờ đây, nhờ vào một nghiên cứu của các nhà khoa học, bạn có thể nghĩ đến việc tặng cho người mình yêu thương những đóa hồng màu… xanh da trời – màu tượng trưng cho sự an bình và hy vọng. Hoa hồng đỏ: Không ai là không biết biểu tượng về tình yêu của hoa hồng đỏ. Ngày lễ tình yêu thật khó có thể thiếu những đóa hồng đỏ thắm, biểu tượng cơ bản của tình yêu lãng mạn và niềm đam mê bền bỉ, hoa hồng đỏ cũng có ý nghĩa của sự tôn trọng và tinh thần sáng tạo trong tình yêu. Thể hiện tình yêu đích thực mạnh hơn mọi chông gai, hoa hồng đỏ là đại diện cho loài hoa tình yêu khắp toàn cầu. Hoa hồng bất tử: Hoa hồng bất tử luôn luôn tươi mới mà vẫn giữ nguyên vẹn màu sắc tự nhiên cũng như tình yêu sẽ mãi theo thời gian.

Dưới đế chế La Mã, hoa hồng được trồng rộng rãi ở vùng Trung Đông. Chúng được dùng trang trí các buổi tiệc, hay được dùng làm thảo dược và nước hoa. Hoa hồng là một loại hoa có giá trị kinh tế cao, nhiều chủng loại với màu sắc đa dạng, được sử dụng nhiều dưới dạng hoa cắt cành và hoa chậu, hoa cảnh. Ngoài ra, hoa hồng còn được dùng để chưng cất nước hoa, tinh dầu cũng như được sử dụng khá nhiều để điều chế mỹ phẩm. Tinh dầu hoa hồng là một trong những tinh dầu thơm nhất và có nhiều công dụng nhất, chất an thần, làm chịu các chứng bệnh về tiêu hóa, trị đau nhức, căng thẳng thần kinh, suy nhược, mất ngủ, rối loạn kinh nguyệt.

Ngày nay, khá nhiều chị em phụ nữ sử dụng hoa hồng để pha chế nước hoa hồng để dưỡng da; dùng để xông hơi hoặc tắm. Nước hoa hồng có tác dụng như một loại sữa làm mát dịu và làm sạch da. Tắm bằng nước hoa hồng là một liệu pháp hoàn hảo chống lại các bệnh ở thần kinh, làm sạch da, làm dịu những lo lắng và mang lại sự thư thái, sảng khoái cho con người. Cánh hoa hồng ngâm dấm chua cũng tạo ra một dung dịch khử mùi hôi và sát trùng.

Trong y học, người ta cũng khám phá ra rất nhiều công dụng của hoa hồng. Trong cánh hoa hồng có chứa rất nhiều các loại chất như vitamin C, carotene, các loại vitamin nhóm B, vitamin K, canxi, kali, … Các chất này rất tốt cho các cơ quan trong cơ thể như tim, hệ tiêu hóa, miễn dịch, … Các nghiên cứu ở khoa Dược, Đại học UM’S Malaysia cho biết có thể phòng ngừa ung thư và làm hạ huyết áp bằng nước ép hoa hồng. Đồng thời, nhiều công trình nghiên cứu đang nghiên cứu chế biến loại trà và nước giải khát từ hoa hồng để điều trị bệnh cao huyết áp.

Các nhà khoa học cũng cho biết, vi khuẩn sẽ chết trong vòng 5 phút sau khi tiếp xúc với cánh hoa hồng tươi. Điều này sẽ làm cho hoa hồng trở thành một loại dược phẩm hoàn hảo để chống lại các bệnh về da. Cánh hoa hồng tươi còn hạn chế mưng mủ vết thương và vết bỏng. Chúng cũng có thể làm dịu những vết ngứa do dị ứng gây ra. Theo y học cổ truyền, hoa hồng có vị ngọt, tính ấm, tác dụng hoạt huyết, điều kinh, tiêu viêm, tiêu sung. Hồng đỏ (mai khôi hoa) dùng làm huyết mạch lưu thông, chữa kinh nguyệt không đều, đau ở vùng bụng dưới, vết sưng tấy, đinh nhọt và viêm mủ da, bệnh bạch cầu. Hoa hồng trắng chứa nhiều vitamin, đường, tinh dầu, dùng chữa ho trẻ em rất công hiệu, còn có tác dụng nhuận tràng. Trà hoa hồng vừa là một bài thuốc chữa cảm lạnh, viêm họng, viêm phổi và các chứng loạn thần kinh chức năng, đồng thời cũng là một đồ uống giàu vitamin.

Hoa hồng có ý nghĩa vô cùng tốt đẹp trong đời sống sinh hoạt cũng như tinh thần của con người. Qua mỗi loài hoa chúng ta lại hiểu hơn về tầm quan trọng cũng như vị thế của nó trong đời sống. Hoa hồng tượng trưng cho cái đẹp, cái đẹp đó cần được nâng niu và bảo vệ.

Các bạn có biết loài hoa nào tượng trưng cho tình yêu không? Chắc hẳn ai cũng biết câu trả lời đó chính là hoa hồng – nữ hoàng của các loài hoa. Nhắc đến hoa hồng là nhắc đến sự ngọt ngào giống như màu hồng của tình yêu vậy chính vì thế hoa hồng luôn là sự lựa chọn không tồi để làm quà tặng người mình yêu thương.

Hoa hồng đã xuất hiện từ rất lâu, nó có xuất xứ từ vùng ôn đới và nhiệt đới phía bắc bán cầu Bắc. Ở đất nước Việt Nam ta hoa hồng được trồng ở rất nhiều nơi từ miền núi, trung du cho đến đồng bằng châu thổ. Hoa hồng không phải vô tình cũng chẳng phải vô ý mà hoa hồng lại được mệnh danh là nữ hoàng của các lời hoa. Sở dĩ nó được mệnh danh như vậy là bở sự toàn bích cả về màu sắc lẫn hương thơm. Nhờ vẻ ngoài rực rỡ quyến rũ và hương thơm quý phái nên hoa hồng rất được ưa chuộng.

Hoa hồng có nguồn gốc địa phương một số là xuất xứ từ Trung Quốc và các nước châu Âu. Hoa hồng có rất nhiều màu: hồng, trắng, vàng,… nhưng phổ biến nhất vẫn là màu hồng. Hoa hồng cũng được chia thành những loại khác nhau ví dụ như: hoa hồng nhung, hoa hồng quế, hoa hồng bạch tuyền, hoa hồng bạch văn khôi,… Hoa hồng nhung thì màu đỏ sẫm bông lớn lâu tàn và có hương thơm ngát rất quý. Còn hoa hồng bạch văn khôi thì có cánh màu trắng hơi pha chút hồng phớt, bông lớn hơn, cây hoa hồng bạch văn khôi có ưu điểm là rất dẻo dai sức chịu đựng tốt.. Hoa hồng bạch tuyền cánh mỏng và mềm có màu trắng tinh khiết nhìn rất mỏng manh thường được dùng để trang trí phòng khách trông rất sang trọng. Khi trẻ em bị ho nếu dùng cánh của hoa hồng này chưng với mật ong và quất để ngậm thì hiệu quả rất tốt. Cuối cùng là hoa hồng quế thì mọc thành từng chùm ở đầu cành có màu đỏ giống màu của lá cờ tổ quốc nhụy màu vàng tươi hương thơm ngát. Loài hoa này thường được các bà, các mẹ dâng vào Chùa vào những ngày lễ tết để thể hiện lòng thành kính với Đức Phật.

Các loài hoa được nói đến bên trên đều là những loại hoa gặp thông thường.

Nhưng những người yêu hoa hồng chắc hẳn sẽ không thể bỏ qua một giống hoa tuy không quý hiếm nhưng lại được nhiều người ưa chuộng bởi vẻ ngoài và sự gần gũi. Đó chính là hoa hồng dại hay còn được gọi với tên nụ tầm xuân cây nhỏ cành mềm mọc lan tràn ở khắp nơi mọc thành từng khóm chi chit trông rất xinh xắn dễ thương điểm tô cho sự nhẹ nhàng bình yên thơ mộng của những góc phố . Loài hoa này còn trở thành nguồn cảm hứng của biết bao thi nhân. Nụ tầm xuân đã xuất hiện trong thơ ca làm phương tiện để người nghệ sĩ gửi gắm những tâm tư tình cảm thầm kín của mình, thể hiện một khát vọng về tình yêu đúng với ý nghĩa và chức năng của hoa hồng:

Hoa hồng tương đối dễ trồng và thích nghi với các loại khí hậu khá tốt. Hoa hồng ưa ánh sáng, nhưng cũng hay bị sâu đục khoét cho nên người trồng cũng nên thường xuyên bắt sâu, tỉa bớt lá già để cho cây được xanh tốt.

Hoa hồng không chỉ được yêu thích bởi vẻ ngoài quyến rũ đa dạng và phong phú mà nó còn được ưa chuộng bởi ý nghĩa sâu sắc là tượng trưng cho tình yêu. Hoa hồng quả là một món quà lý tưởng làm quà tặng cho người mình thương!

Cuộc sống như đẹp hơn nhờ sự tô điểm của các loài hoa từ những loài rực rỡ kiều diễm tới những loại giản dị, nhẹ nhàng. Trong đó, được mệnh danh “bà chúa của các loài hoa” chính là hoa hồng.

Có một câu chuyện thần thoại gắn liền với loài hoa này. Rosalia, tì nữ của nữ thần Mặt trăng và săn bắn đồng ý kết hôn đã khiến Diana vô cùng tức giận dùng tên bắn Rosalia. Nơi máu nàng chảy ra đã mọc ra một loại hoa màu trắng. Sau này nó được nhuộm màu đỏ bởi máu của nữ thần Venus. Ban đầu người ta gọi đó là Rosa, sau này thành Rose, dịch ra tiếng Việt là hoa hồng. Còn theo các nghiên cứu khoa học, nó đã xuất hiện khoảng ba mươi lăm triệu năm, từ khi sự sống Trái Đất khởi sinh. Nó đã trải qua một hành trình dài để trở thành loài hoa đẹp đẽ như hôm nay. Vào thế kỉ 18, Trung Quốc đã thuần hóa giống hoa hồng và phổ biến trên toàn thế giới.

Các bộ phận của hoa hồng cũng như đa số các loại cây là rễ, thân lá và cả hoa. Rễ của hoa hồng thuộc loại rễ chùm, không ăn sâu vào trong lòng đất. Bởi vậy chúng ta vẫn thường thấy hoa hồng được trồng trong chậu. Tuy vậy rễ vẫn có chức năng hút chất dinh dưỡng để nuôi cây. Thân hồng thuộc loại thân gỗ nhưng bụi thấp và đặc biệt có màu xanh lục, khá mảnh khảnh. Các cành cũng chỉ như chiếc đũa. Nhưng thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho loài cây tưởng như yếu ớt này một vũ khí sắc bén. Đó là những chiếc gai đâm tua tủa trên thân cành. Lá hồng hình bầu dục, ngắn và có các răng cưa ở viền. Một cành thường có ba lá. Là cây hoa nên hoa chính là bộ phận quan trọng nhất. Trước khi ra hoa phải trải qua giai đoạn nụ. Những nụ hoa hồng chúm chím xinh xinh như hình ánh nến được bao bọc bởi lớp áo xanh của đài. Khi hấp thủ đủ sinh dưỡng, các cánh hoa sẽ từ từ bung nở. Hoa hồng có nhiều lớp cánh xếp chồng so le lên nhau. Cánh nào cũng mịn màng, ở giữa là đốm nhụy vàng tươi. Hương thơm của nó lan tỏa khắp không gian thu hút đủ mọi ong bướm.

Theo các nhà khoa học có ba loại hoa hồng chính. Đầu tiên là hoa hồng cổ có khả năng chịu lạnh tốt và hương thơm cũng đậm hơn những loại khác. Hoa hồng hoang dã thường mọc tự do đôi khi chúng ta tình cờ bắt gặp. Còn loại cuối cùng chình là hồng hiện đại đã có sự can thiệp của con người trong cả việc chăm sóc và lai tạo.

Hoa hồng có rất nhiều màu sắc, mỗi màu lại mang một ý nghĩa khác nhau như màu đỏ tượng cho tình yêu mãnh liệt, màu trắng đại diện cho sự ngây thơ, màu vàng là món quà của tình bạn… Chưa kể ngày nay công nghệ hiện đại phát triển, người ta không ngừng lai tạo ra nhiều giống hoa hồng mới, thậm chí kết hợp nhiều màu trên cùng một bông hoa.

Hoa hồng tượng trưng cho cái đẹp mà cái đẹp sẽ đem đến cho con người niềm vui, niềm hoan lạc. Hoa hồng thường được chọn làm món quà để trao đi trong tất cả các dịp lễ như ngày quốc tế phụ nữ, lễ tình yêu hay ngay cat dịp sinh nhật… Hoa hồng cũng thường được các bà các mẹ lựa chọn trang trí trong nhà. No còn đi vào văn chương nghệ thuật và hội họa với những tầng bậc ý nghĩa khác nhau.

Biết bao đời nay, hoa hồng đã làm đắm say lòng người bởi sắc đẹp và hương thơm của nó. Nhờ hoa hồng, chúng ta thấy cuộc sống ngào ngạt hơn và tâm hồn cũng vì thế được nâng đỡ dịu dàng.

Trong thế giới tự nhiên có vô vàn những loại hoa đẹp, rực rỡ. Mỗi loài hoa lại mang một đặc trưng, một nét đẹp khác nhau, và cũng chính điều đó đã làm nên sự phong phú, đa dạng cho thế giới thực vật nói chung, họ nhà hoa nói riêng.

Một trong những loài hoa khá tiêu biểu, quen thuộc đối với cuộc sống thường nhật của con người, đó là đóa hoa hồng.

Hoa hồng là một loài thực vật có hoa, thường mọc theo bụi, theo khóm. Thân của hoa hồng thẳng, có màu xanh đậm, trên thân mọc ra rất nhiều gai sắc nhọn. Lá của hoa hình trứng, đường diềm của lá có hình răng cưa, lá của hoa hồng mọc phân tán trên thân cây, đôi khi mọc sát vào bong hoa.

Hoa hồng cũng rất đa dạng về chủng loại, màu sắc, có hoa hồng nhung, hồng vàng, hồng trắng, hồng xanh…. Mỗi loại hoa hồng lại mang một vẻ đẹp riêng.Tuy có sự khác nhau về màu sắc nhưng về cơ bản hình dáng của hoa hồng tương đối giống nhau.

Ở những vùng nông thôn hay trong những gia đình thường có xu hướng trồng những cây hoa hồng ta, tức là loại hoa hồng nhỏ, thường có sắc đỏ thắm hoặc màu hồng nhạt.

Loại hoa hồng này thường mọc theo khóm khá rậm rạp, phát triển quy mô của nhóm cũng rất nhanh. So với những loại hoa hồng khác thì hoa hồng ta có kích thước thân cây,kích thước lá cũng như bông hoa nhỏ hơn rất nhiều. Hoa hồng ta có những cánh nhỏ mà khi nở sẽ có xu hướng nở bung ra nhiều cánh chứ không chụm cánh thành một tâm đối xứng như những bông hoa hồng thường thấy. Về diện mạo thì hồng ta có thể không được rực rỡ, bắt mắt người nhìn như hoa hồng thường nhưng nó có mùi hương đặc biệt thơm, đặc biệt khi được khuếch trương vào trong gió thì tạo ra một mùi hương phảng phất, dịu nhẹ vô cùng dễ chịu. Và thời gian nở của hoa hồng ta cũng được lâu hơn so với những bông hoa hồng thường, từ khi bắt đầu nở rộ thì phải đến vài tuần sau thì bông hoa mới tàn.

Hiện nay, do nhu cầu tiêu dùng cũng như nhu cầu về thẩm mỹ của mọi người ngày càng cao nên hoa hồng được nhân giống thành nhiều mẫu mã hoa vô cùng đẹp mắt.

Nếu trước đây chỉ có những đóa hồng nhung hoặc hồng trắng thì ngày nay người ta đã nhân giống thành công hoa hồng xanh ( có thể là xanh dương hoặc xanh lá mạ), hoa hồng vàng, hoa hồng tím vô cùng bắt mắt, thu hút được thị hiếu của người mua.

Nếu những bông hồng ta thường phát triển theo khóm, một khóm có thể có rất nhiều bông hoa, nhưng những bông hồng được bán trên thị trường ngày nay thì mọc độc lập trên một thân cây,thân thẳng tắp, mỗi cây chỉ phát triển được một bông chúng tôi đó mà bông hoa hồng này thường to hơn, màu sắc đẹp hơn, đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người mua hàng. Mỗi loài hoa đều trở nên đặc biệt bởi nó chứa đựng những ý nghĩa, những biểu trưng cho những nội dung nhất định.Và hoa hồng càng đặc biệt hơn bởi nó có một ý nghĩa vô cùng thiêng liêng.

Người ta gọi hoa hồng là “ hoa của tình yêu”. Đúng vậy, những đóa hoa hồng là biểu tượng của tình yêu mãnh liệt, cho sự cuồng nhiệt, thủy chung của tuổi trẻ.

Hoa hồng là loài hoa có thể được coi là biểu tượng của tình yêu, chúng ta đều thấy được giá trị của nó đối với cuộc sống của chính mình, nó không chỉ là biểu tượng đẹp của cuộc sống và nó đã mang lại những điều có ý nghĩa nhất. Vẻ đẹp của nó có thể được đánh giá rất cao bởi bông hoa hồng thân rộng, hương thơm tỏa ra ngào ngạt, nó có thêm nhiều sức sống và giá trị sống của mỗi con người, mỗi chúng ta đều thấy được vẻ đẹp của nó đem tặng cho cuộc sống, bông hoa thơm ngát, nở rộ trên khoảng không gian trong cuộc sống để tạo nên những giá trị to lớn dành tặng cho mỗi người.

Chúng ta đều thấy giá trị và vẻ đẹp của nó, những hình ảnh của hoa hồng đem lại cho chúng ta những điều tố lành và những giá trị biểu tượng mãnh liệt nhất.Hình ảnh hoa hồng luôn luôn làm cho cuộc sống của chúng ta ngập tràn niềm vui và thêm yêu thương cuộc sống của chúng ta mỗi ngày, những hình ảnh đẹp và gợi nhiều sức sống cảm giác về đời sống tinh thần của chúng ta đang ngày càng được cải thiện và tươi đẹp.

Có lẽ cũng vì mang nhiều ý nghĩa đặc biệt như vậy nên hoa hồng đã trở thành một loại hoa phổ thông, vô cùng quen thuộc và có ý nghĩa đối với cuộc sống của con người. Nó đem lại may mắn và ý nghĩa biểu trưng của hoa hồng là biểu tượng của tình yêu những tình yêu nồng cháy và da diết, hoa hồng luôn phát huy được vẻ đẹp của mình qua những ý nghĩa giàu sức sống nhất.

Trong thế giới tự nhiên, có rất nhiều những loại hoa, nhưng mỗi loài hoa lại mang những vẻ đẹp riêng biệt, độc đáo khác nhau. Chúng không chỉ tươi thắm, rực rỡ, ngát hương thu hút thị giác và khứu giác của con người mà còn được con người yêu thích và ưu ái đặt cho nó những biệt danh, những ý nghĩa đặc biệt. Trong tất cả những loài hoa, loài mà em yêu thích nhất đó là hoa hồng nhung, loài hoa được con người rất yêu thích và đặt cho nó một cái tên đầy lãng mạn, đó là loài hoa của tình yêu.

Hoa hồng là một loại thực vật có hoa thân thẳng, có gai. Hoa hồng thường mọc thành bụi, thân cây thẳng, lá mọc phát triển từ dưới thân lên trên bông hoa. Hoa hồng thường có rất nhiều cánh, chúng mọc chụm vào với nhau tạo thành hình như một chiếc chén, nó đặc biệt trở nên rực rỡ khi nở bung các cánh, vì khi này hoa hồng khoe sắc trọn vẹn cái vẻ đẹp vốn có của nó. Lúc này ta cũng có thể nhìn thấy nhụy của hoa hồng. Nhụy của hoa hồng là những sợi mảnh có màu vàng trông rất rực rỡ. Sự kết hợp giữa sắc vàng của nhụy hoa và sắc hồng của bông hoa tạo ra một vẻ đẹp rực rỡ, kiều diễm. Lá của hoa hồng thường có dạng hình trứng, màu xanh đậm và đường diềm của lá có hình răng cưa. Cùng với nhụy, lá của hoa hồng cũng là một bộ phận làm cho màu sắc của bông hoa trở nên hài hòa, rực rỡ hơn.

Hoa hồng cũng có rất nhiều màu sắc, có hoa hồng nhung với sắc đỏ thắm tượng trưng cho tình yêu mãnh liệt, da diết. Có lẽ chính cái sắc đỏ thắm đã gợi cho con người ta liên tưởng đến sự nóng bỏng, nồng nhiệt của tình yêu, sắc hồng trắng tinh khôi, thanh bạch lại tượng trưng cho tình yêu đầu đời trong sáng, ngây thơ, hồn nhiên. Sắc vàng của hoa hồng lại gợi ra vẻ nền nã nhưng không kém phần cao cả của tình yêu. Hồng xanh tinh khôi, mới lạ lại mang đến sự tươi mới cho tình yêu đôi lứa. Hoa hồng cũng có thể chia làm hai loại hoa chính, đó là hoa hồng ta, tức hoa hồng được trồng ở các gia đình, đặc biệt là các vùng quê. Loại hoa hồng này mọc thành bụi, thân cây mảnh và không thẳng như những bông hoa hồng mà ta thường thấy bày bán trên thị trường, cả hoa và lá đề mảnh, nhỏ hơn rất nhiều. Những bông hoa hồng ta thường có xu hướng nở xòe những cánh, đối xứng với tâm của bông hoa.

Hoa hồng ta rất khó bọc thành bó hay cắm vào lọ vì thân hoa không thẳng, lá nhiều và rất nhỏ. Hoa bông nhỏ hơn rất nhiều so với hoa hồng thường. Loài hoa này thường được trồng để làm cảnh ở trong vườn, trong chậu ở các gia đình, loài hoa này tuy nhỏ và có vẻ không được rực rỡ, đằm thắm như những bông hoa hồng thường thấy. Tuy nhiên, đổi lại thì hoa hồng ta lại có sức sống rất mạnh mẽ, cho dù thời tiết khắc nghiệt thì nó vẫn phát triển tươi tốt, mùi hương của những bông hoa hồng ta đặc biệt rất thơm, nó vương vấn, để lại trong lòng người một cảm giác rất khó quên. Còn loại hoa hồng ta thường thấy phổ biến hơn ở trên thị trường thì người ta thường gọi nó là hồng nhung hay tên hoa hồng nói chung để phân biệt với hoa hồng ta.

Khác với những đóa hồng ta mọc thành bụi, bông nhỏ, lá mảnh thì thân của hoa hồng thẳng, lá to và dày hơn rất nhiều, khi nở thì hoa hồng có xu hướng chụm vào nhau. Và khi buộc những bông hoa hồng này vài với nhau thì sẽ tạo thành một bó hoa tuyệt đẹp. Trong tình yêu đôi lứa, người ta thường chọn tặng nhau những bông hồng vẫn chúm chím chuẩn bị nở, bởi người ta quan niệm lúc đấy là lúc hoa hồng đẹp nhất cũng là lúc tình yêu thăng hoa, tươi đẹp nhất.Nét đặc biệt của hoa hồng là loài hoa đại diện cho tình yêu, cho tình cảm chân thật, mãnh liệt. Vì vậy, để tặng cho nhau nhân những ngày lễ đặc biệt hay những ngày kỉ niệm thì đôi lứa thường đặc biệt chọn mua hoa hồng. Bởi tình yêu cũng đẹp, cũng đang độ nở như những đóa hồng. Mùi hương dịu nhẹ nhưng vấn vít lòng người cũng giống tình yêu đôi lứa nhẹ nhàng nhưng đầy mãnh liệt, da diết. Không chỉ có đôi lứa lựa chọn hoa hồng là loài hoa tình yêu mà đối với những người nội chợ, những người khác cũng cùng có sở thích đối với hoa hồng. Vì vậy hoa hồng là một loại hoa rất phổ biến trong đời sống sinh hoạt của người dân.

Ngày nay, đời sống của người dân được cải thiện nên nhu cầu về thẩm mĩ của con người cũng cao hơn. Nếu như bình thường thì chỉ có những ngày lễ hay dịp đặc biệt mới mua hoa hồng về cắm nhưng ngày nay người ta vẫn có thể mua hoa hồng để cắm lọ, trang hoàng nhà cửa cho rực rỡ, sắc màu hơn. Hoa hồng là một loài hoa đẹp, nét đẹp của hoa hồng không chỉ ở màu sắc tươi thắm, ở hương thơm dịu mát, vấn vương mà còn được yêu thích bởi chính ý nghĩa mà nó biểu trưng, đại diện. Hoa hồng cũng là một loài hoa rất phổ biến. Ngày nay để đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ ngày càng cao của con người thì người ta càng nhân giống ra các loài hoa hồng khác nhau về màu sắc, hình dáng. Tạo ra sự phong phú cho họ nhà hoa.

Hoa hồng được coi là loài hoa đẹp nhất trong các loại hoa bởi nó tượng trưng cho tình yêu mãnh liệt.

Hoa hồng như cái tên của nó – rất đẹp, nhưng cũng rất “nhọn”. Từ gốc đến ngọn được bao trùm bởi gai nhọn. Lá hoa hồng tròn trịa được viền răng cưa xung quanh. Nụ hồng chúm chím thường được như đôi môi đỏ hồng của các cô thiếu nữ. Dĩ nhiên, Hoa hồng còn đẹp bởi mùi hương quyến rũ, mê hoặc. Hương hoa hồng vô cùng dễ chịu, nồng nàn, lan tỏa…

Hoa hồng đỏ được xem là hoa thánh dành riêng cho thần Vệ nữ. Truyền thuyết về hoa hồng gắn liền với truyền thuyết về tình yêu của thần thánh. Hoa hồng không chỉ là nữ hoàng các loài hoa bởi vẻ đẹp kiêu sa và hương thơm quyến rũ, mà còn là một dược phẩm quý của thiên nhiên với những công dụng làm đẹp. “Hoa hồng có gai” vinh dự được gán cho những người đẹp.

Trong khi mỗi loài hoa đều có một câu chuyện tuyệt vời để kể, hoa hồng lại riêng biệt với vô vàn truyền thuyết và ý nghĩa. Nhiều đến độ chúng ta không thể không dành cho hoa hồng một cách đối xử ưu ái và một không gian riêng biệt với những biểu tượng phong phú của mình.

Được sử dụng từ hàng trăm năm nay để truyền tải thông điệp tình yêu phi ngôn ngữ, hoa hồng là một biểu tượng của niềm tin. Cụm từ tiếng Latinh sub rosa – dưới hoa hồng, ám chỉ một điều đang được giữ trong bí mật.

“Nữ hoàng của các loài hoa” Đó là cái tên kiêu sa mà người ta đặt cho hoa hồng. Không nhẹ nhàng như hoa bưởi, không rực rỡ như hoa phượng, không vàng tươi như hoa cúc. Hoa hồng mang một vẻ đẹp đằm thắm, bí ẩn khiến bao người đem lòng yêu.

Hoa hồng có xuất xứ từ xứ sở Ba Tư xa xôi. Hoa hồng có một lịch sử lâu đời và chúng là biểu tượng của tình yêu, sắc đẹp, chiến tranh và chính trị. Theo các mẫu hóa thạch thì hoa hồng đã có mặt cách đây 35 triệu năm. Vào khoảng 3000 năm trước công nguyên, người Sumerian, nay thuộc Iraq, đã có những ghi nhận đầu tiên về hoa hồng, khoảng 600 năm trước công nguyên, những bài thơ ca về hoa hồng đã ra đời, chúng ca ngợi vẻ đẹp hoa hồng như là nữ hoàng của các loài hoa. Hoa hồng phân bố rất rộng lớn từ Alaska cho đến Mexico và ở cả Bắc Phi. Ở mỗi nơi có đặc điểm khí hậu khác nhau lại có những loài hoa hồng khác nhau.

Hoa hồng thuộc giống thân cỏ. Thân cây mảnh chỉ bằng chiếc đũa, mang một xanh sẫm. Khắp thân nhỏ ấy là những chiếc gai nhọn bao phủ để bảo vệ cây khỏi kẻ thù. Vì thế khi hái hoa và chăm sóc chúng ta phải cẩn thận với những chiếc gai có thể làm chúng ta chảy máu này. Cành hoa hồng mang những chiếc lá hình bầu dục với rìa ngoài như mép răng cưa với hệ thống gân hình mạng nhện. Nhụy hoa được đặt trang trọng ở phần ngọn, nhỏ bé và được bao bọc lớp đài hoa phía dưới. Khi nở là lúc hoa hồng toả sắc đẹp kiêu hãnh của mình. Bông hồng có hình chiếc chén. Từng cánh hoa chụm vào nhau duyên dáng. Hoa hồng có nhiều cánh, xếp thành từng lớp. Cánh hoa hồng mềm và mịn. Hương hoa không ngào ngạt như hoa sữa mà thơm thoang thoảng. Một mùi hương dìu dịu mà quyến rũ.

Hoa hồng đa dạng và phong phú về loài. Theo như các nhà khoa học tìm hiểu thì có tới hơn 150 loài. Trước đây tự nhiên chỉ có những loài hồng nhung hoặc hồng trắng. Những bông hoa hồng màu sắc chủ yếu là đỏ thắm hoặc hồng phấn và có nhiều bông có sắc trắng tinh khôi. Cùng với xu hướng thị hiếu ngày càng cao, ngày nay người ta đã nhân giống thành công nhiều loại hoa hồng mới như hồng xanh, hồng vàng, hồng tím, hồng đen, hồng bảy sắc… vô cùng bắt mắt. Có nhiều cánh đồng hoa hồng màu sắc rực rỡ ở Châu Âu hay những ngày hội Hoa hồng hàng năm đủ để thấy sự phong phú đa dạng của hoa hồng.

Hồng trở thành loài hoa quen thuộc và gắn bó với cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Hoa hồng được trồng rất nhiều nơi. Ở Việt Nam có Đà Lạt là nơi trồng rất nhiều hoa hồng. Hoa ở đây rất đẹp và thơm. Nhiều xe buôn lên đây mua từ những vườn hồng những bó hoa lựa chọn kĩ càng mang về bán lại cho người dân theo nhu cầu của họ. Hoa hồng được dùng để trang trí trong các lọ thuỷ tinh, lọ sứ,… đầy kiêu sa. Căn phòng nhỏ có một lọ hoa hồng mang lại cảm giác dễ chịu và thẩm mĩ cao. Do cánh hoa hồng có khả năng thanh trùng, kháng khuẩn nên được sử dụng làm siro chữa ho, rất tốt cho trẻ nhỏ. Cánh hoa còn được dùng để chiết làm nước hoa. Nhiều nhãn hàng nước hoa nổi tiếng trên thế giới sử dụng hoa hồng làm thành phần chính: Chanel, Gucci,… Cánh hoa có khả năng thanh trùng nên được dùng làm nước tẩy trang rất tốt cho da người sử dụng.

Với vẻ đẹp, hình dáng cùng hương thơm nổi bật, hoa hồng là hoa biểu trưng được dùng nhiều nhất ở các nước phương Tây, nhất là Pháp. Trong văn hóa Ấn Độ, bông hồng được ví với vẻ đẹp của người Mẹ thánh thần, biểu thị một sự hoàn mĩ trọn vẹn và không có thiếu sót. Trong Kitô giáo, hoa hồng là sự hóa thân của những giọt máu, là chính vết thương của Chúa, nó trở thành biểu tượng của sự phục sinh huyền bí.

Chính vì hoa hồng là biểu tượng của tình yêu, lòng chung thuỷ, sự kính trọng mà hoa hồng còn là những món quà đơn giản dành tặng nhau. Ngày 20 – 10 người đàn ông sẽ tặng vợ, tặng mẹ,… những đóa hoa hồng đỏ thắm. Những ngày lễ tình yêu các chàng trai sẽ mua những bó hoa hồng tặng bạn gái thay lời yêu thương. Hay những ngày 20 – 11 học sinh mua bông hồng nhỏ tặng người thầy người cô kính trọng.

Hoa hồng có cách trồng đơn giản nhưng phải chăm sóc kĩ càng và cẩn thận để hoa có thể khoe hết được sắc đẹp của mình. Khi con người còn yêu hoa thì mãi mãi hoa hồng còn là biểu tượng sắc đẹp của muôn loài hoa.

Mỗi loài hoa đều mang trong mình những vẻ đẹp và ý nghĩa khác nhau. Nếu như hoa đào đem đến không khí Tết an khang, hạnh phúc. Hoa đồng tiền tượng trưng cho sự may mắn. Thì cũng không thể kể đến loài hoa xinh đẹp và kiều diễm như hoa hồng.

Cây hoa hồng có tên khoa học là Rose, có xuất xứ ôn đới và á nhiệt đới, vùng bắc bán cầu. Theo các nhà khoa học, thực vật học thì hoa hồng đã xuất hiện trên trái đất khoảng vài chục triệu năm, còn cây hoa hồng được con người thuần chủng đưa vào trồng trọt cũng đã cách nay khoảng vài ngàn năm. Phần lớn có nguồn gốc bản địa châu Á, số ít còn lại có nguồn gốc bản địa châu Âu, Bắc Mỹ, và Tây Bắc Phi. Các loài bản địa, giống cây trồng và cây lai ghép đều được trồng làm cảnh và lấy hương thơm. Ngày nay, cây hoa hồng đã được nhân rộng và trở thành loài hoa phổ biến trên khắp cả nước.

Advertisement

Hoa hồng thuộc học rễ chùm, là loại cây thân gỗ bụi, thân và cành có gai nhọn, đó là một trong những nét đặc trưng của cây hoa hồng. Đây là các cây bụi mọc đứng hoặc mọc leo, thân và cành có gai. Thân cây mảnh chỉ bằng chiếc đũa, mang một xanh sẫm. Khắp thân nhỏ ấy là những chiếc gai nhọn bao phủ để bảo vệ cây khỏi kẻ thù. Lá kép hình bầu dục, lá chét khía răng, có lá kèm. Hoa thơm, màu sắc đa dạng: hồng, trắng, vàng hay đỏ… Hoa thường có nhiều cánh, từng cánh hoa chụm vào nhau duyên dáng do nhị đực biến thành. Đế hoa hình chén. Quả bế, tụ nhau trong đế hoa tôn dày lên thành quả. Cây hồng đang độ trổ hoa, ở đầu mỗi cành có nhiều nụ lớn bằng đốt ngón tay, được bao bọc trong một lớp đài hoa màu xanh nhạt. Những nụ chị, nụ em chi chít, âm thầm chuẩn bị đến ngày khoe sắc, khoe hương. Hoa hồng khi hái về nhà có thể để được vài ngày với mùi hương dịu nhẹ lan tỏa khắp không gian.

Họ hàng nhà hồng rất đông, có nhiều loại có hoa hồng nhung màu đỏ thắm, cánh mịn, có loại hồng phấn. Ngày nay thì hoa hồng có nhiều màu khác nhau như màu tím, vàng, xanh,… Có rất nhiều những cánh đồng hoa hồng ở Châu Âu. Đến nơi đấy, tận hưởng vẻ đẹp của hoa hồng thì thật thích mắt. Nếu những bông hồng ta thường phát triển theo khóm, một khóm có thể có rất nhiều bông hoa, nhưng những bông hồng được bán trên thị trường ngày nay thì mọc độc lập trên một thân cây, thân thẳng tắp, mỗi cây chỉ phát triển được một bông hoa. Do đó mà bông hoa hồng này thường to hơn, màu sắc đẹp hơn, phù hợp với nhu cầu cho người sử dụng. Trên thị trường thì tùy thuộc vào từng loại hoa hồng với những giá cả theo mức phù hợp.

Hoa hồng ngày nay càng trở nên thân thuộc và gần gũi với mỗi con người Việt. Ở Việt Nam thì trồng chủ yếu là ở Đà Lạt với loài hoa đẹp. Hoa hồng còn được mệnh danh là “nữ hoàng của các loài hoa”. Hoa hồng có rất tác dụng. Hoa hồng được biết đến là loài hoa tượng trưng cho tình yêu, nhiều người thường chọn hoa hồng để gửi gắm những thông điệp yêu thương đến những người thân yêu của mình. Hoa hồng còn được dùng để trang trí phòng, để làm hoa nhân ngày sinh nhật. Ngày 20/11 hoa hồng được dùng rất nhiều trong dịp này để tri ân thầy cô. Hương thơm của hoa hồng lan tỏa khắp không gian tạo nên một mùi hương dễ chịu, sảng khoái tinh thần, tránh căng thẳng. Ngay từ thời cổ đại, hoa hồng được sử dụng là một phương pháp làm tăng hiệu ứng tích cực cho cơ thể con người, như tác động lên tâm trí và được sử dụng để làm đẹp da, người ta đã sử dụng hoa hồng làm ra nhiều loại nước hoa. Bên cạnh đó, hoa hồng không chỉ có tác dụng làm đẹp hoa hồng còn dùng làm thuốc chữa bệnh như mụn nhọt, dân gian còn dùng cánh hoa hồng hấp với đường phèn để chữa bệnh ho cho trẻ em.

Hoa hồng không biết tự bao giờ đã trở thành loài hoa gần gũi với con người chắc cũng bởi những vẻ đẹp kiêu sa và công dụng to lớn của nó. Hãy biết chăm sóc tốt cho loài cây này để nó mãi mang hương sắc cho đời, cho cuộc sống thêm tươi đẹp.

Không biết tự bao giờ, cây hoa hồng đã trở thành một loài hoa tôn quý, vẻ đẹp của nó không thanh cao như hoa mai, không sặc sỡ như hoa ngũ sắc. Nhưng nó mang một vẻ đẹp mềm mại mà nhẹ nhàng, êm đềm như tình cảm của con người.

Cây hoa hồng có tên khoa học là Rose, thuộc họ hoa hồng, có xuất xứ ôn đới và á nhiệt đới, vùng bắc bán cầu. Theo các nhà khoa học, thực vật học thì hoa hồng đã xuất hiện trên trái đất khoảng vài chục triệu năm, còn cây hoa hồng được con người thuần chủng đưa vào trồng trọt cũng đã cách nay khoảng vài ngàn năm. Người ta khẳng định hoa hồng đầu tiên ở Trung Quốc và Tiểu Á, sau đó mới du nhập vào châu Âu, những người châu Âu lại có công lai tạo ta giống hoa hồng hiện đại ngày nay. Trên thế giới, mỗi khi nhắc đến đất nước Bungari, người ta lại nhắc đến cây hoa hồng. Nếu như nói Nhật Bản là xứ sở của hoa anh đào thì Bungari lại là xứ sở của hoa hồng. Cây hoa hồng được trồng ở hầu khắp cả nước ta, đặc biệt là Đà Lạt.

Hoa Hồng thuộc họ rễ chùm, là loại cây thân gỗ bụi, thân và cành có gai nhọn, đó là một trong những nét đặc trưng của cây hoa hồng. Lá hoa hình bầu dục, rìa lá có răng cưa, gân lá hình mạng. Cánh hoa còn tùy thuộc vào từng loại hoa hồng. Hồng nhung Đà Lạt có thể xem là loại hồng đẹp nhất nước ta, cánh hoa mềm mại, xếp chồng xen kẽ lên nhau, gần như hình trái tim mang một màu đỏ tươi thắm, nó như hội tụ tất cả những tinh túy của đất trời, của cuộc sống, của thế giới các loài hoa. Hoa hồng có ba loại chính, đó là: hoa hồng dại, hoa hồng cổ điển và hoa hồng hiện đại.

Hồng dại thường được thấy ở những nơi hoang dã, mọc ngoằn nghèo nên còn gọi là hồng leo. Hồng cổ điển là những giống hồng được thuần chủng, lai tạo từ trước năm 1867. Còn hồng hiện đại là những giống hồng được lai tạo từ sau năm 1867. Ở nước ta, hoa hồng còn được phân loại theo đặc tính của cây như: hồng cứng, hồng thạch, hồng quế, hồng cánh sen, hồng vàng…

Cây hoa hồng như một món quà thiên nhiên đã ban tặng cho con người chúng ta, nó làm phong phú thêm đời sống vật chất và tinh thần của con người. Người ta nói, hoa hồng tượng trưng cho tình yêu: tình yêu gia đình, tình mẫu tử, tình thầy trò, tình yêu đôi lứa… Cây hoa hồng như mang trong nó tâm linh của loài người, mỗi cánh hoa như ấp ủ một nỗi niềm, một tình cảm sâu lắng nào đó của con người. Trong ngày lễ “vu lan”, vào chùa chúng ta thường thấy những bông hồng cài trên ngực áo thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng, rồi đến ngày Nhà giáo Việt Nam, từng lớp học trò lần lượt mang những cánh hồng đỏ thắm dâng tặng lên thầy, cô kính yêu như thể hiện lòng biết ơn. Ngày lễ Valentine, ngày 8/3… chúng ta cũng không quên những bông hồng xinh xắn tặng cho các mẹ, các chị và đặc biệt là người yêu mình. Cứ như thế, cây hoa hồng đi vào thơ ca một cách tự nhiên không biết từ lúc nào, chúng ta thường nghe câu nói dân gian Hoa đẹp là hoa có gai, câu nói đó ám chỉ cây hoa hồng, rồi ta cũng thường nghe bài hát Bông hồng cài áo, đọc tác phẩm Hoa hồng Bungari…

Không những phục vụ cho đời sống tinh thần, hoa hồng được phục vụ cho đời sống vật chất của con người. Một phòng họp, một phòng khách, một quán trà… có thêm một cành hồng trên bàn cùng đủ làm cho không gian thêm trang trọng và lãng mạn. Có thể nói rằng hoa hồng có tính trang trí cao. Hương hoa hồng không thơm ngát như hoa lài mà ngược lại rất nhẹ nhàng, dễ chịu. Vì vậy, hoa hồng được nhiều nước chọn nguyên liệu để làm nước hoa, mĩ phẩm, góp phần tôn lên vẻ đẹp của con người. Hoa hồng cũng được trồng để kinh doanh, thu lợi nhuận.

Nhìn chung, hoa hồng ở Việt Nam thích nghi nhiệt độ trung bình từ 18 – 25oC, độ ẩm tối đa 85%, lượng mưa trung bình hàng năm từ 1000-2000mm, độ pH từ 5,6 – 6,5. Trong mùa hè, do nhiệt độ lên cao, độ ẩm lớn cây hoa hồng có nguy cơ xuất hiện các loại bệnh như gỉ sắt, phấn trắng, rệp. Nếu cây bị nấm phấn trắng trong vụ xuân thì dùng đồng sulfat 1% để tưới, đồng thời phải cắt bỏ những cành bị bệnh nặng và đốt đi. Đất dùng để trồng hoa hồng phải bằng phẳng, tơi xốp.

Hoa hồng thường được nhân giống theo ba cách: giâm cành, chiết cành hoặc ghép cành.

Như thế, cây hoa hồng là loài hoa tượng trưng cho sắc đẹp và tâm tình, nó không thể thiếu trong đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người. Vì vậy, bảo vệ và phát triển giống hoa hồng là điều cần thiết mà con người cần làm hiện nay.

Mỗi khi nhắc đến thế giới loài hoa, thật khó có thể quên được loài hoa hồng kiêu sa, kiều diễm – loài hoa vốn được mệnh danh là “nữ hoàng của các loài hoa”. Đi sâu tìm hiểu về loài hoa này, chúng ta thấy có thật nhiều điều thú vị!

Hoa hồng vốn có nguồn gốc từ xứ sở Ba Tư xa xôi. Từ đất nước Ả-rập thần bí này, hoa hồng đến với khắp các quốc gia trên thế giới. Cho đến nay, có lẽ chưa có mảnh đất nào có bóng con người mà hoa hồng chưa đặt chân đến. Nhưng nổi tiếng nhất, có thể nhắc đến hoa hồng của những đất nước Bun-ga-ri. Một nhà thơ Việt nam đã từng thốt lên:

Hoa hồng Bun-ga-ri. Ôi! Loài hoa diệu kì!

Có lẽ chính vẻ đẹp và những ý nghĩa thiêng liêng của hoa hồng đã tạo nên sức hút diệu kì thu hút và chinh phục hàng triệu trái tim con người.

Hoa hồng thuộc giống thân cỏ và có rất nhiều loài. Có loài thân leo, có loài thân thẳng. Có loài không gai, có loài có gai. Tuy nhiên, phổ biến tiếp từ thân cây. Lá hoa thường có ba nhánh hình bầu dục, viền có răng cưa. Ngoài ra, trên thân cây thường có gai sắc, nhọn. Tuy nhiên, cũng có loài được lai ghép nên thân trơn nhẵn khiến người ôm hoa không sợ bị gai đâm. Nụ hoa được đặt trang trọng trên đỉnh của thân cây. Dưới nụ hoa xanh tươi còn có đài hoa nâng đỡ. Đủ ngày đủ tháng, nụ hoa bung nở hàng chục cánh hoa mềm mịn đan xếp vào nhau kiêu sa, quyến rũ. Cánh hoa hồng cũng có hình bầu dục, to hơn xu đồng tiền, cánh hoa rất mịn (“mịn như nhung”, nên có loài hoa hồng tên gọi là hồng nhung) và êm nhẹ. Đặc biệt, cánh hoa hồng thường có rất nhiều màu: màu đỏ, màu hồng, màu vàng, màu cam… Với mỗi màu lại có những sắc độ khác nhau: đỏ tươi, huyết dụ, đỏ nhung.

Hoa có rất nhiều tác dụng trong đời sống hàng ngày. Điều dễ thấy là hoa hồng được dùng để làm cảnh trong nhiều gia đình. Chúng ta trồng hoa hồng trong vườn nhà, chúng ta cắm hoa hồng trong lọ, chúng ta tặng nhau những đóa hoa hồng… Sở dĩ hoa hồng thường được trao tặng nhau một cách trang trọng như thế bởi hoa hồng có nhiều ý nghĩa. Hoa hồng đỏ tượng trưng cho tình yêu cháy bỏng, nồng nàn. Hoa hồng vàng thể hiện tình bạn cao quý, chân thành. Hoa hồng cam thể hiện sự thành đạt, hiển vinh… Số lượng hoa hồng trong mỗi đoá cũng mang những ý nghĩa nhất định thể hiện suy nghĩ của người tặng, đặc biệt là đối với những đoá hồng đỏ. Không chỉ dùng để làm đẹp, hoa hồng còn rất nhiều tác dụng khác. Từ cánh hoa hồng, nhiều quốc gia đã chiết xuất tinh dầu tạo nên những nền công nghiệp nước hoa khổng lồ như Bun-ga-ri, Pháp,… Cũng từ hoa hồng, dân gian ta chế ra những bài thuốc chữa nhiều bệnh thông thường: cảm, đau bụng,…

Có nhiều tác dụng như vậy nhưng hoa hồng không hề khó tính chút nào. Hoa có thể nở bốn mùa trong năm để dâng hương sắc cho cuộc đời đầy ý nghĩa này. Ở nước ta, hoa hồng đẹp nổi tiếng nhất là hoa hồng của cao nguyên Đà Lạt. Từ Đà Lạt, hoa hồng chẳng những đi khắp mọi nẻo đường đất nước mà hoa còn đến với bạn bè khắp năm châu.

….

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Chiếc Nồi Cơm Điện Dàn Ý & 10 Bài Văn Hay Lớp 8

Chiếc nồi cơm điện ra đời giúp chúng ta nấu những bữa cơm nóng hổi, thơm ngon nhanh chóng. Nồi cơm điện gồm thân nồi, mâm nhiệt và xoong. Vậy mời các em cùng theo dõi bài viết để hiểu rõ hơn về nguyên lý hoạt động, cách sử dụng của nồi cơm điện.

TOP 10 bài thuyết minh về chiếc nồi cơm điện

Dàn ý thuyết minh về chiếc nồi cơm điện

Thuyết minh nồi cơm điện ngắn gọn

Thuyết minh nồi cơm điện chi tiết (9 mẫu)

Dàn ý thuyết minh về chiếc nồi cơm điện

1. Mở bài

Giới thiệu chiếc nồi cơm điện: Một vật dụng không thể thiếu trong gia đình người Việt.

2. Thân bài

– Giới thiệu khái quát: Nồi cơm điện là một thiết bị gia dụng dùng để làm chín cơm, gồm một nguồn nhiệt, một nồi nấu, một thiết bị cảm ứng nhiệt và vỏ ngoài.

– Nguồn gốc xuất xứ của chiếc nồi cơm điện: Thời gian, địa điểm, ai sáng chế, ra mắt công chúng vào thời điểm nào, trải qua thời gian có những cải tiến gì so với chiếc nồi cơm điện ban đầu.

– Cấu tạo: Gồm phần vỏ, phần nhiệt, dây cắm điện và hệ thống điều khiển điện tử:

Dây dẫn được thiết kế nhỏ gọn, có thể rút gọn, vỏ làm bằng nhựa chuyên dụng, chịu được nhiệt độ cao.

Ruột nồi làm bằng gang hoặc kim loại bền, có những vạch đều nhau phân chia lượng nước.

Phía ngoài vỏ là bảng cảm ứng điện tử có các nút phù hợp với nhu cầu của người sử dụng như nấu, hấp… Có nồi cơm điện cơ thì chỉ có chức năng nấu cơm.

– Cách thức hoạt động:

Sau khi vo gạo và đổ lượng nước phù hợp, đặt phần lõi vào khoảng trống trong nồi, cắm dây điện và bấm nút nấu.

Cơm chín, nồi cơm sẽ có báo hiệu như tiếng kêu, bảng cảm ứng điện tử hiện màu báo hiệu đặc trưng và chuyển về chế độ ủ ấm.

– Vai trò:

Việt Nam là một nước nông nghiệp với lúa gạo là thành phần chính trong bữa cơm nên nồi cơm điện là vật dụng không thể thiếu trong mỗi gia đình.

Tùy thuộc vào nhu cầu và giá thành, nồi cơm điện có nhiều loại nhưng sẽ đáp ứng nhu cầu tối thiểu nhất. Ngoài ra, nồi cơm điện hiện đại được trang bị thêm chức năng làm bánh, hấp cách thủy…

– Bảo quản:

Lựa chọn nồi cơm điện vừa phải đúng nhu cầu sử dụng.

Lau vỏ nồi và ruột nồi thường xuyên, đặc biệt chú ý khu vực thoát hơi nước do dễ dính cặn bẩn.

Sau mỗi ngày đều rửa nồi gang sạch sẽ, hong khô. Trước khi cho nồi vào cắm điện phải lau sạch nước xung quanh để tránh cháy vỏ nồi.

3. Kết bài

Nồi cơm điện là một phần không thể thiếu trong căn bếp Việt.

Thuyết minh nồi cơm điện ngắn gọn

Trên thế giới, để phục vụ nhu cầu cho cuộc sống hằng ngày thì con người ta đã phát minh ra rất nhiều thứ từ bóng đèn, phích nước, bàn ủi hay các vật dụng, máy móc khác. Và một trong số đó phải kể đến là chiếc nồi cơm điện của chúng ta.

Nồi cơm điện là thuật ngữ nhen nhóm từ đầu thế kỷ 20. Khi ấy con người ta đã có ý định dùng điện để nấu chín thành cơm. Nhưng phải đến những năm 1940 thì mới có những nghiên cứu ban đầu để chế tạo ra nồi cơm điện. Đặc biệt là nghiên cứu từ công ty Mitsubishi đã sản xuất ra chiếc nồi cơm điện sơ khai đầu tiên. Khi đó, chiếc nồi được gắn thêm dây điện truyền nhiệt để tạo nhiệt làm chín gạo thành cơm. Nhưng thời này, chiếc nồi cơm điện có một hạn chế là phải theo dõi thường xuyên, nên lượng tiêu thụ cũng rất ít. Tiếp đến là công cuộc nghiên cứu và phát triển vào năm 1970 để cho ra được chiếc nồi cơm điện hoàn chỉnh như ngày nay.

Về cấu tạo cơ bản của một chiếc nồi cơm điện bao gồm thân nồi, mâm nhiệt và xoong. Thân nồi gồm ba lớp: lớp ngoài được gọi là vỏ nồi để bao bọc và bảo quản. Ngoài ra còn mang tính thẩm mĩ cho chiếc nồi. Màu sắc thì tùy vào từng thiết kế của nhà sản xuất, nhưng nhìn chung luôn có màu sắc đa dạng và bắt mắt. Lớp trong cùng là lớp tiếp xúc với xoong, cũng để tỏa nhiệt. Lớp thứ hai là lớp sứ cách nhiệt giúp nồi giữ nhiệt được lâu. Mâm nhiệt chính là bộ phận quan trọng nhất. Bởi nó sẽ giúp tạo nhiệt làm gạo chín thành cơm. Cách thiết kế là cứ một mâm sẽ có một rãnh truyền nhiệt để tạo nhiệt dưới đáy xoong. Đối với xoong thường được làm từ chất liệu nhẹ và chống dính. Hiện nay các nhà sản xuất rất lưu ý điểm này để cơm nấu lên chín đều và không bị cháy. Ngoài các bộ phận quan trọng như trên thì chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy nồi cơm điện còn có các bộ phận khác như điều khiển thông minh, nút ấn tự động… Đây là một số tính năng mà hiện nay các nhà sản xuất lưu ý và thiết kế thêm cho chiếc nồi thêm đa năng hơn.

Sau những cải tiến để có được chiếc nồi như bây giờ thì cách sử dụng của nó cũng khá đơn giản. Khi mua về, trước tiên hãy kiểm tra thật kĩ các bộ phận của nồi và hướng dẫn sử dụng kèm theo. Một số loại nồi cao cấp sẽ có thêm nhiều tính năng kèm theo như có thể làm bánh, nấu cháo, hầm xương ngoài chỉ nấu cơm như các nồi cơm điện thông thường khác. Vì vậy, các bạn phải đọc kĩ hướng dẫn để biết cách sử dụng chuẩn xác nhất. Trong suốt quá trình sử dụng, cần phải vệ sinh và lau chùi cẩn thận giúp nồi luôn sạch sẽ và không nhanh hỏng. Khi cho gạo vào nồi phải dàn đều và cho lượng nước phù hợp, thường thì các xoong đều có cốc nước để đong và có vạch chia. Khi cơm chín, nên mở nồi và xới đều tay để cơm chín đều và không bị nhão hay quá khô.

Như vậy chỉ với vài bước hết sức đơn giản, không tốn nhiều thời gian, chúng ta đã có một bữa cơm ngon. Thật không thể phủ nhận được tầm quan trọng cũng như sự hữu ích của chiếc nồi cơm điện phải không nào? Cho đến tận ngày nay, chiếc nồi cơm điện đã trở thành vật dụng không thể thiếu trong bếp của những bà nội trợ.

Thuyết minh nồi cơm điện chi tiết Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 1

Ý tưởng về việc dùng điện để nấu cơm lần đầu xuất hiện vào giai đoạn Âu hóa của thời kỳ Meiji. Cuối thời Taisho (giữa thập niên 1920), người ta đã bắt đầu sản xuất thử nghiệm bếp lò điện và nồi cơm điện. Cuối thập niên 1940, công ty điện tử Mitsubishi đã sản xuất ra một loại nồi cơm điện.

Thực chất, đó chỉ là một chiếc nồi có gắn thêm dây điện truyền nhiệt không có chức năng tự động. Nó chỉ đơn giản là một chiếc nồi nấu cơm nhờ sức nóng truyền từ dây điện thay vì nấu trên bếp củi hay bếp gas. Thiết bị này rất bất tiện, đòi hỏi người sử dụng phải chú ý theo dõi nó từ khi bật công tắc nấu cho đến khi cơm được nấu xong. Vậy nên, số lượng sản phẩm bán ra rất chậm.

Thay vì được xem là bước đi tiên phong cho chiếc nồi cơm điện hiện đại, nó lại bị xem như là dấu chấm hết cho lịch sử các thiết bị điện. Năm 1952, công ty điện tử Matsushita cũng đưa ra một sản phẩm cùng loại với Mitsubishi với kết quả tương tự. Sony cũng chẳng khá hơn.

Vào khoảng tháng 7/1951 với niềm tin rằng các thiết bị điện tử rồi sẽ trở thành một phần trong cuộc sống thường nhật ở Nhật Bản, công ty Toshiba quyết định tiếp tục với thử thách mà các nhà sản xuất hàng đầu như Mitsubishi và Matsush*ta đã thất bại: tạo ra một chiếc nồi cơm điện hoàn chỉnh. Dự án do Shogo Yamada, trưởng phòng phát triển thiết bị điện tử, điều hành.

Toshiba đã tiến hành những cuộc thử nghiệm với gạo và phát hiện ra rằng chỉ cần đun gạo trong 20 phút sau khi nó bắt đầu sôi thì sẽ có nồi cơm chín. Họ cũng nhận thấy rằng gạo bắt đầu chuyển sang dạng tinh bột ở nhiệt độ 57,80C. Ở nhiệt độ này, cần phải mất 15 đến 16 giờ để chuyển 1,5 kg gạo sang dạng tinh bột (cơm). Tiếp tục với các thí nghiệm tăng dần nhiệt độ, nhóm nghiên cứu nhận thấy nếu gạo chuyển sang dạng tinh bột ở 730C. Nó sẽ tiếp tục biến đổi ở nhiệt độ đó. Đây chính là nguyên tắc của chiếc nồi cơm điện cách nhiệt.

Họ tiếp tục đun gạo ở nhiệt độ 900C trong 20 phút, với nhiệt độ này gạo sẽ được chuyển hoàn toàn sang dạng tinh bột. Theo đó, thì trên lý thuyết chỉ cần nấu gạo ở nhiệt độ đó trong 20 phút hẹn giờ là có thể có cơm chín ngon.Vấn đề là làm thế nào để biết khi nào gạo thực sự bắt đầu sôi, và làm thế nào để có thể tắt nút sau đó đúng 20 phút. Giải pháp là một chiếc nồi hai lớp.

Với một cốc nước, nồi sẽ làm lượng nước này bốc hơi trong 20 phút. Khi nước bốc hơi, nhiệt độ nồi sẽ vượt 1000C. Một bộ ổn nhiệt lưỡng kim sẽ nhận biết và tự động tắt công tắc. Hơi nước đã được sử dụng như một bộ phận hẹn giờ, một ý tưởng hết sức đơn giản và độc đáo theo phong cách Nhật Bản.Tháng 10/1956, khoảng năm năm rưỡi sau khi dự án bắt đầu, 700 chiếc nồi cơm điện được đưa ra thị trường.

Các nhà phân phối đã từng biết đến thất bại trước đây của loại sản phẩm này nên họ tỏ ra hết sức e ngại.Trước tình hình đó, Toshiba đã tự tạo một hệ thống phân phối mới. Lúc đó, tình trạng sản xuất điện dư thừa đang đặt các công ty điện lực vào một tình thế khó khăn. Toshiba đã đề nghị Vonfram giúp làm nhà phân phối cho sản phẩm nồi cơm điện tự động và họ đã vui vẻ hợp tác.

Các nhân viên cùng với chiếc nồi cơm điện đã đi đến tận các hộ gia đình để giới thiệu và bán sản phẩm. Nhờ những nỗ lực như vậy, sản phẩm đã bắt đầu bán chạy. Một thời gian ngắn sau đó, công ty đã phải tăng sản lượng lên 200.000 chiếc một tháng. Bốn năm sau, nồi cơm điện đã có mặt ở 50% các gia đình Nhật Bản. Năm 1970, chiếc nồi cơm điện tiện dụng này đã có mặt trong nhà bếp của các bà nội trợ trên toàn thế giới.

Nồi cơm điện được cấu tạo bởi một bếp điện và các linh kiện điện tử tắt tự động. Cơm chín do sức nóng của mâm lửa đặt trong nồi. Vì vậy, nếu không chú ý bảo quản đúng cách, nồi dễ bị hỏng. Chọn mua nồi Khi mua, bạn yêu cầu nơi bán cắm điện để thử các bóng đèn (nấc đun, cạn cơm) để xem xét nồi hoạt động tốt hay không.

Yêu cầu mở vít đáy nồi, xem có chỗ nào rỉ sét không. Nhìn đáy nồi nếu thấy không còn bằng phẳng là đồ cũ. Nếu ưng bên trong thì tiếp tục xem bên ngoài có bị trầy xước không. Theo kinh nghiệm của nhiều bà nội trợ, nồi cơm điện Trung Quốc giá rẻ nhưng men chống dính kém bền, chỉ dùng vài ba lần đã bị tróc.

Sử dụng Phải lau khô mặt ngoài của nồi trước khi đặt vào vỏ để giữ sạch đĩa nhiệt và bộ cảm ứng nhiệt, đồng thời tránh tiếng kêu khi cấp nhiệt. Nồi có một lỗ thoát hơi ở trên vùng nên phải giữ cho lỗ thông thoáng, không bịt kín. Khi nấu, bạn không mở nắp. Khi cho gạo đã vo sạch vào nồi, nhớ dàn đều mặt gạo để cơm chín đều. Muốn cơm tơi khi nồi chuyển chế độ giữ ấm, hãy mở nắp nồi và xới nhanh, sau đó đậy lại.

Không nên để chế độ hâm cơm quá 12 giờ. Để lâu, cơm biến màu và kém thơm ngon. Khi vệ sinh nồi phải làm cả vỏ, lưu ý không dùng vật nháp cứng, dùng giẻ mềm. Ngâm nồi một chút trong chậu nước ấm rồi rửa, tránh cọ xát làm trầy xước lớp men chống dính. Dùng muỗng nhựa hoặc gỗ xúc cơm. Có thể dùng nồi cơm điện luộc rau, nấu canh nhưng không hầm thức ăn vì nồi sẽ mau hỏng. Không xào thức ăn bằng nồi cơm điện vì bộ phận kiểm soát sẽ ngắt mạch.

Nếu cơm sống, có thể mở đáy nồi, chỉnh ốc nhiệt độ cho 2 mặt công tắc điện sát nhau hơn. Nhưng nếu chỉnh quá sát 2 mặt công tắc điện, cơm sẽ bị khét. Có thể thử bằng cách cho một ít nước vào nồi, đun lên rồi điều chỉnh. Khi nước vừa cạn, hai mặt công tắc điện cũng vừa rời xa nhau.

Sửa chữa với loại nồi có dây điện trở quấn trên lõi mica (hình vành khăn tròn), khi dây điện đứt có thể nối, thay mới khá dễ. Loại nồi có dạng thanh điện trở, trong ống hợp kim và magie hỏng, đứt thì phải thay đáy mới. Nồi bị chạm điện, mát vỏ cần ngưng dùng. Nếu dây cháy hay vỡ công tắc nguồn thì phải thay mới. Nếu do ướt bị chạm thì có thể dùng máy sấy tóc làm khô dây hay chỗ bị ướt. Cầu chì bảo vệ nồi có thể bị cháy do phích cắm lỏng hoặc dây dẫn bị chập bên trong, cần kiểm tra kỹ để thay cái mới.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 2

Trong những đồ vật được con người phát minh mang lại tình hữu ích cho con người phải nhắc đến nồi cơm điện, chiếc nồi sử dụng điện giúp nấu cơm chín nhanh hơn, cơm ngon và không cần phải tốn thời gian theo dõi.

Từ thế kỷ XX con người đã có ý định dùng điện để nấu chín gạo. Vào những năm 1940, công ty Mitsubishi nghiên cứu và sản xuất ra nồi cơm điện sơ khai, chiếc nồi gắn thêm dây điện truyền nhiệt nhưng chưa có chức năng tự động như ngày nay. Chiếc nồi nhờ sức nóng truyền từ dây điện để nấu chín gạo trong nồi. Với thời kì sơ khai này chiếc nồi cơm điện phải tốn thời gian theo dõi vì vậy việc tiêu thụ rất chậm chạp.

Sau thời gian nghiên cứu và phát triển thêm chiếc nồi cơm điện hoàn chỉnh vào năm 1970 và đến tận tay những bà nội trợ trên toàn thế giới. Đây chính là sự nghiên cứu và thành quả của người Nhật Bản, có thể khẳng định nguồn gốc nồi cơm điện từ đất nước Nhật Bản.

Cấu tạo của nồi cơm điện ngày nay chủ yếu gồm các bộ phận: Thân nồi nằm bên ngoài cùng có tác dụng bảo vệ xong tránh bị va đập và giúp giữ nhiệt. Thân nồi được làm từ ba lớp, lớp trong cùng tiếp xúc với xoong tỏa nhiệt, lớp thứ hai là lớp sứ cách nhiệt giữ nhiệt cho nồi giúp nhiệt độ được duy trì ổn định. Lớp ngoài cùng vỏ nồi tạo tính thẩm mỹ cho chiếc nồi cơm điện. Mâm nhiệt là bộ phận rất quan trọng giúp tạo nhiệt độ khi nấu. Một mâm có các rãnh truyền nhiệt tạo nhiệt cho đáy xoong khi nấu. Xoong thường làm từ chất liệu nhẹ, chống dính giúp nấu cơm ngon hơn. Nồi cơm điện ngoài ba bộ phận chính trên còn có các bộ phận tinh vi khác như bộ điều khiển thông minh, điều khiển đồng bộ hệ thống…đều là các chức năng tự động khi cơm chín.

Khi mua nồi cơm điện chọn lựa rất quan trọng, trước tiên thu các công tắc bật mở, kiểm tra bên ngoài có rỉ sét hoặc bị trầy xước. Tốt nhất người dùng nên dùng những chiếc nồi cơm xuất xứ từ Nhật Bản sẽ đảm bảo độ an toàn và bền khi sử dụng trong nhiều năm. Với các chiếc nồi cơm điện Trung Quốc giá thành rẻ nhưng nhanh hỏng và tốn kém khi mua mới. Người tiêu dùng cũng có thể mua những chiếc nồi cơm điện xuất xứ từ Việt Nam giá thành rẻ và bền.

Một trong các yếu tố giúp sử dụng nồi cơm điện dài lâu đó là sử dụng đúng cách. Sau khi vo gạo xong nên lau sạch nước bám trên thành xoong và cả dưới đáy xoong, khi nấu chú ý lỗ thông khí trên cùng phải giữ cho thoáng khí. Lúc vo gạo phải dàn trải đều khi nấu cơm chín mới ngon, trong khi nấu không nên mở nắp nhiều. Khi cơm chín nhớ mở nắp và xới đều rồi đậy nắp lại. Sau một đến hai tháng sử dụng, người dùng nên vệ sinh định kỳ để đảm bảo nồi cơm điện hoạt động hiệu quả và sử dụng lâu dài. Cần vệ sinh ngâm vào nước ấm, chà rửa xoong nên dùng giẻ mềm lau nhẹ nhàng, không dùng vật cứng làm trầy lớp men bên trong.

Nồi cơm điện là một phát minh hữu ích của người Nhật Bản đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều gia đình giúp tiết kiệm thời gian và công sức rất lớn cho những người nội trợ.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 3

Trong thời đại hiện nay thì với cuộc sống bận rộn dường như mọi phụ nữ hay cả khi đàn ông ông vào bếp thì họ phần lớn đều không thích cảnh nấu cơm bằng củi hay ga nữa vì sẽ rất lâu và khó mà có nồi cơm ngon được. Cơm điện được dùng qua hiện tượng tỏa nhiệt của lò xo gắn ở trong nó nhờ làm nóng bởi nguồn điện nhờ vậy mà cơm có thể chín đều và ngon.

Nồi cơm điện thường được làm bằng gang, thiếp, inox… Nó gồm có hai phần chính là vỏ nồi và ruột nồi. Vỏ nồi thường được phủ nhựa để cách nhiệt, gồm có bộ phận điều khiển, ổ cắm điện, nắp nồi. Ruột nồi bên trong có một lò xo được cấu tạo rất đặc biệt, được làm để chịu lực và truyền nhiệt tốt, thành nồi được mạ kim loại để làm ấm đều xoong.

Khi sử dụng, ta chỉ cần đặt nhẹ xoong vào nồi, đậy nắp lại, găm phích điện rồi nhấn nút Cook trên bộ phận điều khiển là đã có thể sử dụng được. Một chiếc nồi cơm điện vừa nhỏ gọn, rất dễ đem theo đi xa cho những bữa picnic. Ngoài công dụng nấu cơm, nồi cơm điện còn có thể nấu cháo, luộc khoai… Thao tác sử dụng đơn giản, vừa tiết kiệm thời gian công sức. Muốn giữ nồi cơm điện bền thì không được tác dụng lực mạnh lên nồi cơm điện vì sẽ dễ làm móp méo, nên biết sử dụng đúng cách để đảm bảo độ bền của nồi cơm…

Hiện nay nồi cơm điện hiện đang là một vận dụng không thể thiếu, đối với hầu hết người tiêu dùng Việt từ nông thôn đến thành thị. Chính vì vậy mà nhu cầu tìm được một sản phẩm vừa túi tiền và có chất lượng luôn được đặt ra.

Theo tìm hiểu trên thị trường, nồi cơm điện có rất nhiều loại, những loại nồi thông dụng dùng trong gia đình thường có dung tích từ 0,6 đến 1,8 lít và được phân làm hai loại là nồi cơm điện cơ và nồi cơm điện tử, với giá khoảng từ bốn trăm nghìn đến một triệu đồng. Vì vậy, khi mua nồi cơm điện người tiêu dùng nên chú ý dung tích của nồi, để phụ thuộc vào số người trong gia đình. Ví dụ như một người ăn thì nên chọn 0,6 lít, 2 – 4 người nên chọn dung lượng nồi là 1,2 lít…

Đặc biệt đối với nồi cơm điện cơ loại nồi có rơ le tự ngắt, xuất hiện trên thị trường từ khá lâu, hoạt động dựa trên nguyên lý cơ học, khi nhiệt độ đạt đến mức nhiệt nhất định khoảng 102 độ C thì rơ le này sẽ tự ngắt và chuyển sang chức năng giữ ấm. Loại nồi này chỉ có hai chức năng: nấu chín và giữ ấm thông thường. Các loại nồi cơm điện cơ phổ biến và được nhiều người tiêu dùng lựa chọn, là các loại Panasonic, Sharp, Cuckoo….

Còn đối với nồi điện tử là loại nồi dành cho những gia đình thích hình thức đẹp và có nhiều tính năng. Bởi vì nồi cơm điện này được thiết kế với kỹ thuật khá cao, có khả năng tự điều chỉnh các chức năng nấu khác nhau, nhờ một chip điện tử đã được cài đặt sẵn các chương trình nấu nướng, hầm canh…. Với đặc thù là một nồi có nhiều tính năng hiện đại, nên loại nồi này thường có giá đắt hơn khoảng trên một triệu đồng/cái. Những loại nồi cơm điện tử phổ biến hiện nay và được nhiều người lựa chọn dùng là Tiger, Panasonic, Fuji xuất xứ Nhật…

Với những tính năng và phân tích như trên, người tiêu dùng có thể lựa chọn những sản phẩm phù hợp với sở thích và nhu cầu của từng gia đình. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của các chủ kinh doanh thì loại nồi phổ biến mà người tiêu dùng hay lựa chọn đó là nồi cơm điện cơ. Bởi giá cả phải chăng, đơn giản, có thể dùng tự động và độ bền cao, phù hợp với những gia đình có kinh tế trung bình. Riêng đối với những gia đình khá giả hơn, thích nhiều tính năng và công dụng khác nhau thì có thể dùng nồi cơm điện tử. Mẫu mã khá đa dạng và bắt mắt, tuy nhiên độ bền không được cao như nồi cơm điện cơ. Ngoài ra, thì người tiêu dùng cần lưu ý không nên chọn những loại nồi cơm quá rẻ, nhãn hiệu và xuất xứ không rõ ràng. Nguyên nhân là do những loại nồi này thường có lớp cách nhiệt rất kém, tiếp xúc giữa mâm nhiệt và đáy xoong không đều, hay nắp nồi không kín sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cơm. Đặc biệt, thời gian sử dụng không được bền.

Nhắc tới nồi cơm điện thì hầu hết đã quá quen thuộc đối với chúng ta. Chính bởi công dụng tuyệt vời của nó cũng như sự tiện lợi cũng như hiệu quả trong đời sống của con người.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 4

Thật dễ có thể nhận thấy được rằng chính trong những đồ vật được con người phát minh mang lại tình hữu ích cho con người phải nhắc đến nồi cơm điện. Không thể phủ nhận được rằng, chiếc nồi sử dụng điện giúp nấu cơm chín nhanh hơn, cơm ngon và không cần phải tốn thời gian theo dõi như chúng ta nấu những các bếp khác.

Theo tài liệu ghi lại thì ta biết được từ thế kỷ XX con người đã có ý định dùng điện để nấu chín gạo, tức là vào giai đoạn Âu hóa. Và ta như thấy được chính vào những năm 1940, thì lúc này ta như thấy được công ty Mitsubishi nghiên cứu và sản xuất ra nồi cơm điện sơ khai.

Và lúc này đây thì ta như thấy được chính chiếc nồi gắn thêm dây điện truyền nhiệt nhưng chưa có chức năng tự động như ngày nay. Chiếc nồi lúc này cũng như đã nhờ sức nóng truyền từ dây điện để nấu chín gạo trong nồi. Đặc biệt ta như thấy được, chính với thời kì sơ khai này chiếc nồi cơm điện phải tốn thời gian theo dõi vì vậy việc tiêu thụ rất chậm chạp biết bao nhiêu.

Thế rồi, trải qua một thời gian nghiên cứu và phát triển thêm chiếc nồi cơm điện hoàn chỉnh vào năm 1970. Chiếc nồi đầu tiên được hoàn chỉnh nó dường như cũng đã đến tận tay những bà nội trợ trên toàn thế giới. Có thể công nhận được đây chính là một sự nghiên cứu và thành quả đáng tự hào của người Nhật Bản. Thông qua đây ta cũng như đã có thể khẳng định nguồn gốc nồi cơm điện từ đất nước Nhật Bản.

Cấu tạo của nồi cơm điện mà chúng ta ngày nay chủ yếu gồm các bộ phận đó chính là thân nồi. Thân nồi thì ở bên ngoài cùng có tác dụng bảo vệ xong tránh bị va đập và giúp giữ nhiệt. Và cũng dễ nhận thấy được thân nồi được làm từ ba lớp, lớp trong cùng tiếp xúc với xoong nó dường như cũng đã được tỏa nhiệt, thế rồi ta như thấy được chính với lớp thứ hai là lớp sứ cách nhiệt giữ nhiệt cho nồi giúp nhiệt độ được duy trì ổn định. Thêm một lớp nữa đó chính là ở lớp ngoài cùng vỏ nồi tạo tính thẩm mỹ cho chiếc nồi cơm điện như chúng ta dùng như hiện nay.

Mâm nhiệt cũng được đánh giá chính bộ phận rất quan trọng giúp tạo nhiệt độ khi nấu. Dễ nhận thấy được cứ một mâm có các rãnh truyền nhiệt tạo nhiệt cho đáy xoong khi nấu. Còn đối với bộ phận xoong thường làm từ chất liệu nhẹ, chống dính giúp nấu cơm ngon hơn không bị cháy.

Nhận thấy được một chiếc nồi cơm điện ngoài ba bộ phận chính trên còn có các bộ phận tinh vi khác như bộ điều khiển thông minh, và lại còn có bộ điều khiển đồng bộ hệ thống… đều là các chức năng tự động khi cơm chín giúp người dùng tiết kiệm thời gian và công sức.

Việc lựa chọn được một chiếc nồi cơm điện phù hợp vô cùng quan trọng. Bước đầu tiên đó chính là kiểm tra và thử các công tắc bật mở, kiểm tra bên ngoài có rỉ sét hoặc bị trầy xước. Lời khuyên tốt nhất cho người dùng nên dùng những chiếc nồi cơm xuất xứ từ Nhật Bản sẽ đảm bảo độ an toàn và bền khi sử dụng trong nhiều năm.

Khi muốn nồi cơm điện bền, cần sử dụng đúng cách. Sau khi vo gạo xong nên lau sạch nước bám trên thành xoong và cả dưới đáy xoong. Đồng thời cần phải chú ý mực nước khi nấu cơm. Đặc biệt hơn bạn cũng phải nhớ đó chính là khi vo gạo phải dàn trải đều khi nấu cơm chín mới ngon và dẻo được. Còn trong khi nấu không nên mở nắp nhiều. Khi cơm chín nhớ mở nắp và xới đều rồi đậy nắp lại.

Tóm lại, ta như thấy được chính chiếc nồi cơm điện là một phát minh hữu ích của người Nhật Bản. Và nó dường như cũng đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều gia đình giúp tiết kiệm thời gian và công sức rất lớn cho những người nội trợ chúng ta hiện nay.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 5

Với truyền thống là nghề nông nghiệp trồng lúa nước, từ lâu cơm đã trở thành một phần không thể thiếu trong bữa ăn chính của người Việt. Chính vì vậy, nồi cơm điện là một thiết bị gia dụng quan trọng trong gia đình, giúp cả nhà có một bữa cơm ngon, nhanh gọn và tiện lợi.

Nồi cơm điện ra đời cùng sự phát triển của công nghệ hiện đại nên vào những năm 1940 công ty Mitsubishi tại Nhật Bản đã nghiên cứu và sản xuất ra loại nồi cơm điện sơ khai. Sau đó, trải qua một thời gian nghiên cứu và phát triển, nồi cơm điện đã được hoàn thành vào năm 1970.

Có thể thấy nhờ có sự ra đời nồi cơm điện đã thay thế cho các loại nồi nấu bằng bếp than, bếp củi… vừa tốn nhiều thời gian lại dễ bị bụi bẩn trước kia. Cũng từ đây, khi đến được tay người tiêu dùng, những người nội trợ cũng đã tiết kiệm được rất nhiều thời gian, công sức cho việc nấu cơm.

Nồi cơm điện được thiết kế rất gọn gàng, phù hợp với không gian bếp của mỗi gia đình. Nó có một dây dẫn nguồn nhiệt, vỏ chứa, ruột nồi nấu và thiết bị cảm ứng. Phần vỏ được làm từ nhựa cứng chịu được sức nóng tốt, có nắp đậy phía trên, bên dưới có nút điều khiển và đèn báo hiệu cơm đang nấu hoặc đã chín. Xung quanh vỏ nồi còn được phủ một lớp sơn để trang trí cho nồi thêm đẹp mắt.

Vì vậy có rất nhiều loại nồi được trang trí khác nhau phù hợp với sở thích của người tiêu dùng. Ruột nồi là nơi chứa gạo, thường được làm từ kim loại. Ngày nay người ta đã cải tiến phần ruột có khả năng chống dính cao, dễ dàng tách rời phần ruột để tiện cho người dùng khi đổ gạo vào bên trong cũng như vệ sinh nồi. Ngoài ra, bên trong ruột nồi còn có khắc nổi những vạch chia đo gạo và nước để giúp chúng ta nấu cơm ngon hơn với lượng nước và gạo vừa đủ.

Là một thiết bị gia dụng phổ biến, nồi cơm điện rất dễ sử dụng. Chúng ta chỉ cần đổ nước sạch và gạo vào bên trong của ruột nồi sau đó đậy nắp, bấm nấc cảm nhiệt về vị trí ban đầu là có được một nồi cơm ngon chỉ sau khoảng 20 phút. Khi nồi cơm điện hoạt động, nhờ có dây dẫn nhiệt hỗn hợp gạo và nước sẽ được làm nóng dần, đến khi nhiệt độ đạt 100 độ C, nước sẽ chuyển sang dạng hơi nóng nên nồi cơm cũng chuyển theo sang chế độ hâm nóng để giữ nồi cơm chín ở nhiệt độ an toàn.

Để giữ cho nồi cơm được bền, người sử dụng cũng cần biết cách để bảo vệ nồi. Chúng ta nên thường xuyên vệ sinh nồi sau mỗi lần nấu cơm và trước khi nấu cơm cần lau khô đáy của ruột nồi rồi mới cho vào. Khi nấu chúng ta không nên mở nắp nồi quá nhiều cũng như để nồi ủ lâu quá mười hai tiếng đồng hồ. Đặc biệt không được để nồi gần các vị trí gần lửa dễ gây cháy nổ.

Hiện nay, có rất nhiều loại nồi cơm điện khác nhau không chỉ đa dạng về mẫu mã, hình dáng, kích thước mà còn đa dạng cả về chức năng. Ngoài chức năng nấu cơm nồi cơm điện còn tích hợp được cả chức năng hầm các món ăn, nấu cháo, nấu chè… rất tiện lợi, đáp ứng được nhu cầu hằng ngày của con người.

Có thể nói, nồi cơm điện đã trở thành người bạn thân thiết không thể thiếu trong mỗi căn bếp của gia đình Việt. Chúng ta không thể phủ nhận được những tiện ích mà nồi cơm điện đã đem đến. Chính vì vậy, chiếc nồi cơm điện đã và đang được sử dụng vô cùng rộng rãi không chỉ ở Việt Nam mà còn trên khắp cả thế giới.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 6

Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển, con người đã phát minh ra nhiều sản phẩm tiện ích. Một vật dụng không thể thiếu trong căn bếp của người Việt nói riêng và người châu Á nói chung là chiếc nồi cơm điện.

Nồi cơm điện là một thiết bị gia dụng tự động dùng để làm chín cơm, một chiếc nồi cơm điện bao gồm một nguồn nhiệt, một nồi nấu, một thiết bị cảm ứng nhiệt và vỏ ngoài. Ngoài ra nó còn được trang bị thêm các chức năng và công dụng khác như cảm biến nhiệt, hấp, nướng không dầu…

Chiếc nồi cơm điện đầu tiên trên thế giới có nguồn gốc từ Nhật Bản, một quốc gia nổi tiếng với ngành công nghiệp điện tử rất phát triển và chất lượng cuộc sống của người dân rất cao. Xuất hiện trước công chúng lần đầu vào năm 1925, hơn hai thập kỷ sau, nồi cơm điện được cải tiến thành loại nồi nấu chín bằng hơi, hoạt động giống chức năng của nồi áp suất. Đến năm 1956, công ty đồ điện tử Toshiba đã cho ra mắt loại nồi cơm điện có thể tự động ngắt nguồn điện khi cơm chín để chuyển sang chế độ hâm nóng, khắc phục toàn bộ các khuyết điểm. Kể từ đó đến nay, nồi cơm điện ngày càng được hoàn thiện về kiểu dáng, kích thước, màu sắc sao cho phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng.

Xét về mặt cấu tạo, một chiếc nồi cơm điện hoàn chỉnh gồm phần vỏ, phần nhiệt, dây cắm điện và hệ thống điều khiển điện tử. Dây dẫn được thiết kế nhỏ gọn, có thể rút gọn hoặc tháo rời. Vỏ được làm bằng nhựa chuyên dụng, chịu được nhiệt độ cao và va đập mạnh. Ruột nồi làm bằng gang hoặc kim loại bền, có những vạch đều nhau phân chia lượng nước tương ứng với số lượng gạo. Phía ngoài vỏ là bảng cảm ứng điện tử có các nút phù hợp với nhu cầu của người sử dụng như nấu, hấp… Nồi cơm điện cơ thì chỉ có chức năng nấu cơm với một nút bấm duy nhất.

Nguyên lý hoạt động của một chiếc nồi cơm điện phụ thuộc vào lượng nhiệt dùng năng lượng điện truyền dẫn. Sau khi vo gạo và đổ lượng nước phù hợp, ta đặt phần lõi vào khoảng trống trong nồi, cắm dây điện và bấm nút nấu. Gạo và nước được đun sôi nhờ nhiệt điện, nước sẽ sôi và làm mềm hạt gạo, đồng thời hơi nước được nồi cơm giữ lại, áp suất ngược lại khiến hạt gạo chín đều cả trên và dưới.

Việt Nam là một nước thuần nông nghiệp. Cơm là một “món ăn” chính không thể thiếu trong cuộc sống. Chính vì vậy, việc có một chiếc nồi cơm điện trong nhà là vô cùng cần thiết. Trên thị trường ngày nay, nồi cơm điện có rất nhiều loại. Mỗi loại đều có ưu nhược điểm riêng. Chính vì vậy khi lựa chọn, mỗi người cần dựa vào nhu cầu của gia đình mình. Ngoài ra, nồi cơm điện hiện đại được trang bị thêm chức năng làm bánh, hấp cách thủy…

Bảo quản nồi cơm điện đúng cách là phương pháp giữ nồi sử dụng được lâu, bền đẹp. Khi mua nồi cơm điện, cần lựa chọn những nhãn hiệu uy tín, có thâm niên trong ngành đồ gia dụng. Chọn loại nồi kín nắp, chắc chắn, chất liệu bên bỉ, bên ngoài không bị móp, méo, trầy xước, ruột nồi không bị tróc hay vỡ nứt. Lựa chọn nồi cơm điện vừa phải đúng nhu cầu sử dụng, không mua nồi quá to hay quá bé so với diện tích căn bếp. Lau vỏ nồi và ruột nồi thường xuyên, đặc biệt chú ý khu vực thoát hơi nước do dễ dính cặn bẩn. Sau mỗi ngày đều rửa nồi gang sạch sẽ, hong khô. Trước khi cho nồi vào cắm điện phải lau sạch nước xung quanh ruột để tránh cháy.

Chiếc nồi cơm điện ở hiện tại đã có thêm rất nhiều chức năng. Chất lượng của nồi cũng được nâng cao. Một chiếc nồi cơm điện tốt sẽ sử dụng được rất lâu, vì vậy, nên lựa chọn một chiếc nồi chất lượng với giá thành phù hợp, thay vì tiếc tiền mua một chiếc tạm bợ, kém an toàn.

Như vậy, nồi cơm điện đã trở thành vật dụng vô cùng quan trọng trong cuộc sống của con người, đặc biệt là ở Việt Nam.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 7

Khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, nhiều phát minh được con người tạo ra nhằm phục vụ các nhu cầu trong cuộc sống. Một trong số đó phải kể đến chiếc nồi cơm điện.

Nồi cơm điện được hiểu đơn giản là một thiết bị gia dụng tự động, được thiết kế để nấu cơm bằng cách hấp hơi gạo. Nồi cơm điện có nguồn gốc từ đất nước Nhật Bản. Ý tưởng ban đầu dùng điện để nấu cơm xuất hiện lần đầu tiên vào những năm giữa thập niên 1920. Khoảng 20 năm sau, một công ty điện tử cho ra đời thành công loại nồi cơm điện làm chín cơm nhờ chuyển năng lượng điện thành năng lượng hơi. Nhưng, vấn đề nằm ở chỗ, chiếc nồi này yêu cầu người dùng phải chú ý theo dõi từ khi bật công tắc nấu cho đến lúc cơm được nấu xong – đây chính là nhược điểm lớn nhất của chiếc nồi cơm điện này. Đến năm 1956, công ty Toshiba của Nhật Bản đã cải tiến và khắc phục nhược điểm rồi từ đó cho ra đời một sản phẩm hợp lý hơn.

Cấu tạo của một chiếc nồi cơm điện gồm có: gồm dây dẫn nguồn nhiệt, vỏ chứa, ruột nồi nấu và thiết bị cảm ứng nhiệt. Dây dẫn dùng để dẫn điện từ nguồn vào nồi. Vỏ nồi cơm điện thường làm bằng nhựa chịu sức nóng tốt, thường có nắp để đậy lại. Trên nắp nồi có một lỗ nhỏ để thoát hơi ra ngoài. Ruột nồi nằm bên trong, thường làm từ kim loại bền, chống dính cao. Trên ruột có các mức nước được kẻ thành vạch, dựa vào đó mà chọn lượng nước phù hợp với gạo để cơm ngon hơn. Thiết bị cảm ứng là thiết bị điện tử, đo nhiệt độ của nồi và kiểm soát nhiệt lượng, báo hiệu tình trạng nồi cơm. Ngoài ra, một chiếc nồi cơm điện hoàn chỉnh sẽ còn có nhiều phụ kiện khác. Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu sử dụng của con người cũng thay đổi. Nhiều chiếc nồi cơm điện được sản xuất không chỉ nấu cơm. Mà nó còn phục vụ với nhiều mục đích khác.

Nguyên lý họa động của một chiếc nồi cơm điện như sau: Để nấu cơm, cho gạo và nước sạch vào ruột nồi trước, chọn nấc cảm ứng nhiệt về vị trí nấu. Trong thời gian nấu, nước và gạo được làm nóng với toàn bộ công suất nhờ một dây dẫn điện tạo ra. Khi đạt đến nhiệt độ 100 °C, nước sẽ chuyển từ lỏng sang dạng hơi, thoát ra theo lỗ thông của vỏ nồi. Nhiệt độ cao tạo ra sẽ nấu chín gạo, đèn báo chuyển chế độ thì kết thúc nấu. Thông thường, sau đó nồi cơm điện sẽ chuyển sang chế độ “hâm nóng” để tiết kiệm năng lượng, giữ cơm đã chín ở nhiệt độ an toàn, tự động ngắt nguồn điện.

Advertisement

Cuộc sống hằng ngày của con người cần bổ sung một lượng tinh bột cần thiết có từ cơm. Vậy nên, trong bất cứ một gia đình nào, chiếc nồi cơm điện đã trở thành một vật dụng không thể thiếu. Nhờ có chiếc nồi cơm điện mà con người đã tiết kiệm thời gian, công sức hơn rất nhiều trong công việc nội trợ so với trước đây.

Trên thị trường hiện nay, nồi cơm điểm có rất nhiều mẫu mã. Một số hãng nồi cơm điện phổ biến ở Việt Nam như: Sunhouse, Sharp, Happycook, Hitachi, Toshiba, Kangaroo… Khi sử dụng nồi cơm điện, chúng ta cần lưu ý thường xuyên lau chùi, giữ cho lỗ thông hơi trên vỏ sạch sẽ, thoáng. Không mở nắp quá nhiều khi nồi đang nấu để tiết kiệm điện. Cũng không nên để cơm chín quá 12 giờ mà không dùng, không rút điện gây hại cho nguồn điện…

Nồi cơm điện có một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của con người. Trong tương lai, dù cuộc sống có ngày càng trở nên hiện đại, nhưng nó vẫn là một vật dụng quan trọng của con người.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 8

Khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, cuộc sống của con người cũng ngày càng hiện đại hơn. Với sự bao phủ của các thiết bị điện tử thông minh, đời sống được cải thiện bởi những phát minh mới. Một trong những phát minh hữu ích cho đời sống sinh hoạt là chiếc nồi cơm điện.

Nồi cơm điện đến với loài người từ đất nước công nghệ phát triển vượt bậc – Nhật Bản. Ý tưởng về việc dùng điện để nấu cơm xuất hiện lần đầu tiên vào những năm giữa thập niên 1920. Khoảng 20 năm sau, một công ty điện tử cho ra đời thành công loại nồi cơm điện làm chín cơm nhờ chuyển năng lượng điện thành năng lượng hơi. Tuy nhiên, chiếc nồi này yêu cầu người dùng phải chú ý theo dõi từ khi bật công tắc nấu cho đến lúc cơm được nấu xong, khá bất tiện. Năm 1956, công ty Toshiba (Nhật Bản) cải tiến và khắc phục nhược điểm đó, cho ra đời một chiếc nồi thuận tiện sử dụng hơn. Theo đó, hơn bảy trăm chiếc nồi cơm điện được đưa ra thị trường và có mặt trong nhà bếp của các bà nội trợ trên toàn thế giới.

Nồi cơm điện bao gồm dây dẫn nguồn nhiệt, vỏ chứa, ruột nồi nấu và thiết bị cảm ứng nhiệt. Dây dẫn dùng để dẫn điện từ nguồn vào nồi. Vỏ nồi cơm điện thường làm bằng nhựa chịu sức nóng tốt, thường có nắp để đậy lại. Trên nắp nồi có một lỗ nhỏ để thoát hơi ra ngoài. Ruột nồi nằm bên trong, thường làm từ kim loại bền, chống dính cao. Trên ruột có các mức nước được kẻ thành vạch, dựa vào đó mà chọn lượng nước phù hợp với gạo để cơm ngon hơn. Thiết bị cảm ứng là thiết bị điện tử, đo nhiệt độ của nồi và kiểm soát nhiệt lượng, báo hiệu tình trạng nồi cơm. Một chiếc nồi hoàn chỉnh sẽ có thêm nhiều phụ kiện khác.

Theo sự phát triển và nhu cầu của từng thời đại mà nồi cơm điện lại được thiết kế theo kiểu mã, chức năng khác nhau. Hiện nay, nhiều loại nồi cơm điện phức tạp được phát minh có nhiều cảm biến hơn và đa chức năng hơn. Những chiếc nồi đơn giản thì có nút bật, chỉ để nấu cơm. Hiện đại hơn, sẽ có cả bảng chức năng cảm ứng, muốn dùng chức năng nào thì chọn nút đó.

Nguyên lý hoạt động của nồi cơm điện khá đơn giản. Để nấu cơm, cho gạo và nước sạch vào ruột nồi trước, chọn nấc cảm ứng nhiệt về vị trí nấu. Trong thời gian nấu, nước và gạo được làm nóng với toàn bộ công suất nhờ một dây dẫn điện tạo ra. Khi đạt đến nhiệt độ 100 °C, nước sẽ chuyển từ lỏng sang dạng hơi, thoát ra theo lỗ thông của vỏ nồi. Nhiệt độ cao tạo ra sẽ nấu chín gạo, đèn báo chuyển chế độ thì kết thúc nấu. Thông thường, sau đó nồi cơm điện sẽ chuyển sang chế độ “hâm nóng” để tiết kiệm năng lượng, giữ cơm đã chín ở nhiệt độ an toàn, tự động ngắt nguồn điện.

Nồi cơm điện đã trở thành vật dụng quen thuộc không thế thiếu trong mỗi gia đình. Nó giúp chúng ta tiết kiệm thời gian đun nấu mà lại có những bát cơm dẻo ngon. Không những thế, nồi cơm điện còn có nhiều chức năng như hấp, nấu cháo, làm bánh, hầm… Chỉ với một chiếc nồi, chúng ta có thể làm bất cứ món gì mình muốn. Nó giống như cầu nối gắn kết cả gia đình với những bữa cơm đầm ấm sum họp.

Trong quá trình sử dụng, cần biết cách để giữ cho nồi bền. Ngay khi đi chọn mua, bạn nên cắm điện thử ngay tại nơi bán, kiểm tra các nút nấu có hoạt động chính xác hay không. Kiểm tra cả trong lẫn ngoài đảm báo nồi không bị trầy xước bên ngoài và ruột men bên trong tráng chống dính không bị bong tróc. Trước khi cho ruột vào nấu, nên lau khô mặt ngoài của ruột nồi. Thường xuyên lau chùi, giữ cho lỗ thông hơi trên vỏ sạch sẽ, thoáng. Không mở nắp quá nhiều khi nồi đang nấu để tiết kiệm điện. Ngoài ra, không nên để cơm chín quá 12 giờ mà không dùng, không rút điện gây hại cho nguồn điện. Thường xuyên lau chùi vỏ nồi và vệ sinh ruột nồi đúng cách để bảo vệ lớp men chống dính. Sử dụng đúng chức năng có ở nồi. Nếu nồi chỉ dùng để nấu cơm, không xào nấu để giữ tuổi thọ của nồi. Chiếc nồi cơm điện có sử dụng tốt được lâu hay không là nhờ vào cách bảo quản của người dùng.

Với sự phát triển tốc độ của kỹ thuật số, giống như nhiều thiết bị, vật dụng khác, nồi cơm điện cũng được cải tiến từng ngày. Nồi cơm điện đi vào đời sống sinh hoạt, có mặt ở khắp thế giới và trở thành một phần trong cuộc sống của con người.

Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện – Mẫu 9

Ngày nay, cuộc sống ngày càng trở nên công nghiệp, nồi cơm điện đã trở thành đồ dùng không thể thiếu trong gia đình Việt. Bà nội trợ không còn nhiều thời gian để dành cho việc vào bếp, nấu ăn cho gia đình. Công nghệ đang dần hiện đại hơn, đáp ứng được nhu cầu nấu ăn nhanh chóng và ngon miệng của chúng ta ngày nay. Cấu tạo nồi cơm điện cũng dần phức tạp hơn, đa tính năng hơn – phụ giúp hơn nữa bà nội trợ gia đình trong công việc nấu nướng.

Trong lịch sử phát triển của, nồi cơm điện chỉ đơn giản là nấu, bạn sẽ phải tự tắt bếp khi cơm chín, đảo hâm cơm. Nhưng ngày nay nồi cơm điện dần phức tạp hơn, nhiều chức năng hơn. Bạn chỉ cần vo gạo sẵn và để vào nồi, nồi sẽ tự động nấu và chuyển chế độ khi cần thiết, ngoài ra những nồi cơm điện thông minh ngày nay còn có chức năng hẹn giờ, điều khiển tự động có khả năng kết nối thiết bị từ xa. Bạn sẽ chỉ cần từ văn phòng hoặc từ bất cứ nơi đâu có internet bạn đã có thể điều khiển chiếc nồi nấu cơm theo ý muốn.

Về cơ bản, nồi vẫn hoạt động theo nguyên lý đun gạo để gạo chín thành cơm. Cấu tạo nồi cơm điện gồm các bộ phận chính:

Thân nồi: có tác dụng bảo vệ xong tránh bị va đập đồng thời cũng là bộ phận giữ nhiệt giúp câm được ấm. Với những nồi ngày nay, thân nồi thường có 3 lớp lớp trong cùng tiếp xúc với xong có tác dụng tỏa nhiệt tạo sức ấm đều cho xong. Lớp thứ 2 là lớp sứ cách nhiệt, sẽ là bộ phận quan trọng giữ nhiệt cho nồi. Lớp ngoài cùng là lớp vỏ nồi, mang lại vẻ đẹp cho chiếc nồi, thường được làm từ thép chống gỉ, chịu nhiệt.

Mâm nhiệt: Đây là bộ phận chính tạo nhiệt độ nấu ăn cho nồi cơm. Một mâm điện đạt tiêu chuẩn cần phải có các rãnh truyền nhiệt, giúp truyền đều nhiệt dưới đáy xong. Giúp cơm được chín đều. Mâm nhiệt được thiết kế bám sát xoong tạo nên hiệu suất nấu cơm cao hơn.

Cuối cùng là xoong, xoong là bộ phận nấu cơm trực tiếp, thiết kế xoong ngày nay có nhiều thay đổi. Xoong nhẹ hơn, được làm từ hợp kim nhôm, nhẹ hơn, chịu nhiệt tốt hơn.

Ngoài ra, xoong còn được phủ lớp chống dính giúp cơm nấu không bị dính nồi, hạt cơm sẽ đều hơn và bạn dễ dàng cọ rửa, lau chùi.

Nồi cơm điện ngày nay còn được trang bị thêm những thiết bị hiện đại như: kết nối thiết bị ngoại vi, bộ điều khiển thông minh, điều khiển đồng bộ cùng hệ thống. Những nồi cơm điện này sẽ tự động báo khi cơm chín, tự động bật tắt theo thiết đặt của người dùng.

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Dàn Ý & 9 Bài Văn Thuyết Minh Lớp 8 Hay

Thơ lục bát có nguồn gốc lâu đời, chính là tinh hoa của nước ta, thể thơ có sự phóng khoáng chứ không quá nghiêm ngặt như thơ Đường luật. Với 9 bài thuyết minh thơ lục bát sẽ giúp các em hiểu rõ hơn, để viết bài văn thuyết minh thật hay.

1. Mở bài

Giới thiệu khái quát về thể thơ lục bát (do người Việt sáng tạo, dễ bộc lộ cảm xúc).

2. Thân bài

a. Các đặc điểm của thể thơ lục bát

* Lục bát chỉnh thể – (tuân đúng những quy định)

– Số câu, số tiếng:

Số dòng: Một câu gồm hai dòng (một cặp) gồm: Một dòng có sáu tiếng và một dòng có tám tiếng.

Số câu: Không giới hạn nhưng khi kết thúc phải dừng lại ở câu tám tiếng.

– Cách gieo vần:

Âm tiết cuối của dòng sáu hiệp vần với âm tiết thứ sáu của dòng tám theo từng cặp. Âm tiết cuối của dòng tám lại hiệp vần với âm tiết thứ sáu của dòng sáu nối tiếp. Cứ thế luân chuyển như vậy cho đến hết bài.

Vần cuối dòng là vần chân, vần ở giữa dòng là vần lưng.

– Phối thanh:

Chỉ bắt buộc: các tiếng thứ tư phải là trắc; các tiếng thứ hai, sáu, thứ tám phải là bằng.

Những câu tám tiếng thì tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám phải khác dấu (nếu tiếng trước là dấu huyền thì tiếng sau phải không có dấu và ngược lại).

Các tiếng thứ một, ba, năm, bảy của cả hai câu sáu tiếng, tám tiếng và âm tiết thứ hai (của cả hai câu) có thể linh động tuỳ ý về bằng trắc

– Nhịp và đối trong thơ lục bát:

Cách ngắt nhịp: thường là nhịp chẵn.

Đối: Thơ lục bát không nhất thiết phải sử dụng phép đối. Nhưng đôi khi để làm nổi bật một ý nào đó, người làm thơ có thể sử dụng tiểu đối trong từng cặp hoặc từng câu thơ.

* Lục bát biến thể (không tuân thủ quy tắc)

Số chữ tăng lên: Vần lưng tất nhiên cũng xê dịch theo.

Thanh: Tiếng thứ hai có thể là thanh trắc:

Gieo vần: Có thể gieo vần trắc.

b. Tác dụng của thơ lục bát

Phản ánh và cô kết trung thành những phẩm chất thẩm mĩ của Tiếng Việt.

Cách gieo vần và phối thanh, ngắt nhịp giản dị mà biến hoá vô cùng linh hoạt, phong phú và đa dạng làm cho thơ lục bát dồi dào khả năng diễn tả.

3. Kết bài

Nêu vị trí của thơ lục bát trong nền văn học Việt Nam.

Bắt nguồn từ ca dao, dân ca, được phát triển qua các truyện thơ Nôm, các kịch bản ca kịch dân tộc và đạt đến mức hoàn thiện với các thiên tài như Nguyễn Du …

Được tiếp tục phát huy qua các thế hệ sau như Tố Hữu …

Lục bát được xem là một trong những thể thơ ra đời sớm ở Việt Nam. Bởi thơ lục bát giản dị; gần gũi; gắn bó với người nông dân, nhân dân Việt nên được ưa chuộng rất nhiều. Nói đến thơ lục bát Việt Nam ta như dựng lên cả một bức tranh hòa hợp; hữu tình; đậm đà trong đó. Thơ lục bát- thơ truyền thống của con người Việt, dân tộc Việt.

Thể thơ Lục Bát có nguồn gốc lâu đời trong lịch sử văn học nhân loại. Có nhiều ý kiến cho rằng thơ lục bát xuất hiện từ cuối thế kỉ XV; là bắt nguồn từ các câu ca dao; đồng dao của người nông dân; người lao động để xua tan mệt mỏi; hứng thú hăng say lao động. Trải qua hàng nghìn năm phát triển thơ lục bát cũng ngày càng hoàn thiện hơn; khuôn mẫu hơn và có những biến chuyển cho phù hợp với tiêu chí thơ ca, trở thành nét đặc sắc rất riêng của người Việt.

Về cấu tạo, thơ lục bát gồm một cặp câu đối ứng. Một câu 6 chữ bên trên và câu 8 chữ đặt liền kề bên dưới. Trong bài không giới hạn số câu. Thông thường sẽ mở đầu bằng câu 6 chữ và kết thúc bằng câu 8 chữ trừ những trường hợp đặc biệt với ẩn ý, tình cảm và dư vị riêng của tác giả. Hai câu thơ đan xen, hài hòa, bệ đỡ nhau nhằm biểu đạt ý nghĩa rất riêng của cặp câu và ý nghĩa chung cho toàn bài.

Tuy là thể thơ phóng khoáng; gợi nhiều hơn tả nhưng thơ Lục Bát vẫn tôn trọng nghiêm ngặt quy luật về thanh. Cũng giống như thơ đường Luật; thanh trong câu lục bát cũng phải theo sườn: Nhất; tam; ngũ bất luận nhị tứ lục phân minh. Theo đó, các tiếng 2 4 và 6 sẽ theo khuôn khổ. Cụ thể như sau:

Đối với câu lục: 2-4-6 lần lượt sẽ là Bằng(B)- Trắc- Bằng. Đối với câu bát: các thanh 2-4-6-8 sẽ tương ứng với B-T-B-B (Tiếng thứ 6 với tiếng thứ 8 không được đồng dấu). Quy luật chặt chẽ về thanh tạo nên âm hương thanh nhẹ; cộng hưởng trong mỗi cặp câu thơ tương ứng.

Một điểm đặc trưng không thể trộn lẫn của thể thơ lục bát đó chính là cách gieo vần của thơ. Vần được sử dụng trong thơ hầu hết là vần bằng. Tùy khả năng tác giả và tình cảm cũng như nội dung biểu đạt mà có thể gieo nhiều vần linh hoạt, vấn đề này không hề khiên cưỡng nhưng nhà thơ vẫn phải đáp ứng yêu cầu: đó là tiếng cuối cùng câu lục phải hiệp vần với tiếng thứ 6 của câu bát, cứ như thế tiếp tục cho đến hết bài. Sở dĩ có quy định như vậy là để thơ được xuyên suốt, dòng cảm xúc được bất tận và thăng hoa. Ví dụ như trong bài thơ Quê hương nỗi nhớ có viết:

Nỗi nhớ quê hương trong lòng tác giả như trải dài ra đầy miên man, da diết, dư cảm đong đầy. Nổi tiếng với bút danh thơ của dân gian; thơ gần gũi Thơ lục bát khoác trên mình cái dáng vẻ nền nã; đôi lúc trầm mặc; yên ả nhưng đôi lúc cũng dữ dội; da diết khôn cùng. Chính nhịp thơ đã làm chất hồn; chất sóng trong thơ. Để diễn tả nỗi buồn đau thê lương tha thiết người ta dùng nhịp chẵn 2/2/2; 4/4. Trái lại để diễn tả dữ đội; xúc cảm mạnh mẽ; quyết liệt; những đột ngột bất ngờ ta dùng nhịp lẻ 1/5; 3/5 Và đôi khi để nhấn mạnh; để phô bày cái cảm xúc hạnh phúc, vui sướng ta lại dùng nhịp 3/3.

Thơ lục bát là thể thơ được sử dụng khá nhiều trong cả văn nói lẫn văn viết bởi khả năng sử dụng linh hoạt; ý nghĩa câu từ phong phú; đơn giản; không kén người đọc; người nghe; người sáng tác. Thơ lục bát xuất hiện nhiều chiều trong cuộc sống từ sinh hoạt đến vui chơi; giải trí; lao động. Thơ lục bát là tiếng nói hạnh phúc; ngọt ngào của tình yêu đôi lứa:

Là tình yêu gia đình, xóm làng thống thiết:

Và đó còn là những giọt tâm sự sâu cay của người phụ nữ trong xã hội bạc bẽo:

Thơ lục bát là tiếng nói, là nhịp đập của người nhân dân Việt Nam; thể hiện biết bao ước mơ về một cuộc sống âm no; thái bình thịnh trị của đất nước Đại Việt. Những bài thơ Lục bát nổi tiếng như vẫn còn nguyên hơi thở và giá trị cho đến ngày nay ta có thể kể đến như Truyện Lục Vân Tiên; Truyện kiều hay những câu ru con chan chứa nghĩa lý nghĩa tình. Hiện nay với sự phát triển và làm giàu hơn vốn văn thơ nước nhà thể thơ lục bát có nhiều dạng biến thể phong phú hơn: nhịp; tăng số tiếng; tiếng lục bát biến thể giảm số tiếng; hiệp vần thay đổi;… Nhưng dù thay đổi nó vẫn mang một khí chất rất riêng rất nồng nàn truyền thống.

Kho tàng thơ văn Việt Nam có rất nhiều những tác phẩm đặc sắc, từ nội dung cho đến từng thể loại. Và khi nhắc riêng đến thi ca Việt Nam thì chúng ta không thể không nhắc đến những bài thơ đã đi sâu vào tiềm thức mỗi người như Truyện Kiều của Nguyễn Du hay cho đến các câu ca dao được bà, được mẹ đưa vào mỗi giấc ngủ.

Tất cả từng câu từng chữ như mang một giai điệu khác nhau và khi được kết hợp bằng thể lục bát thì chúng như hòa vào làm một, thật nhịp nhàng và hoàn hảo, nhưng lại gần gũi, mộc mạc, chân chất như chính hơi thở cuộc sống. Lục bát là phương tiện phổ dụng để người Việt giải tỏa tâm sự, kí thác tâm trạng, thăng hoa tâm hồn.Gắn với tiếng Việt, gắn với hồn Việt, thơ lục bát đã thuộc về bản sắc dân tộc này.Thật tự hào mỗi khi nhắc đến thể thơ của dân tộc là nhắc đến lục bát.

Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đi tìm câu trả lời nhưng đây vẫn là câu hỏi chưa có câu trả lời chính xác, chỉ biết là đã từ rất lâu rồi. Văn hóa đặc trưng của người Việt là văn hóa lúa nước, gắn liền với lao động sản xuất nên luôn có những cách sáng tạo để quên đi nỗi nhọc nhằn sớm hôm. Họ thường vừa cùng nhau làm việc trên đồng, vừa cùng nhau sáng tạo thi ca. Đơn giản chỉ là thể hiện những ước mong giản đơn:

Đơn vị cơ bản của thơ lục bát gồm một cặp câu: câu lục (sáu tiếng) và câu bát (tám tiếng). Thông thường một bài thơ lục bát thường được mở đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát.Về số lượng câu trong một bài thơ lục bát không hề bị giới hạn nghiêm ngặt như các bài thơ đường luật. Một bài thơ lục bát có thể bao gồm hai hoặc bốn câu như:

Hoặc cũng có thể kéo dài ra hàng nghìn câu thơ, mà điển hình nhất mà ta có thể kể đến, đó chính là kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều) của đại thi hào Nguyễn Du ( gồm 3253 câu, trong đó gồm 1627 câu lục và 1627 câu bát). Số lượng câu thơ hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung và ý đồ mà nhà văn muốn truyền tải độc giả.

Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà.Các vần chính là hình thức kết dính các câu thơ lại với nhau, tạo ra “tiếng nhạc” cho cả bài thơ.Vần trong thơ lục bát có hai loại: vần lưng và vần chân. Hai dòng lục bát hiệp theo vần lưng có nghĩa là tiếng thứ sáu của câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát. Nếu tiếp tục kéo dài thì tiếng thứ tám của câu bát lại vần với tiếng thứ sáu của câu lục bên dưới. Đó là vần chân. Ví dụ:

Quy luật phối thanh của thơ lục bát khá linh hoạt, uyển chuyển. Thường thường thì ở câu lục các tiếng ở vị trí thứ hai, bốn, sáu là bằng (B), trắc (T), bằng (T), còn ở câu bát các tiếng ở vị trí thứ hai, bốn, sáu, tám là B-T-B-B.

Nhịp trong thơ lục bát phần lớn là nhịp chẵn, tạo nên âm điệu êm đềm, thong thả, thích hợp làm lời hát ru, hát ngâm.

Ví dụ:

Hay có thể đảo nhịp:

Thơ lục bát từ lâu đến nay luôn có một vị trí vững chắc trong lòng mỗi người dân đất Việt. Chúng ta dùng lục bát để bày tỏ những tâm tư tình cảm, những cung bậc cảm xúc của mình trong cuộc sống, công việc, tình bạn, tình yêu,… Chúng ta cũng đến với lục bát như là chốn an yên cho tâm hồn được tĩnh lặng sau những giông bão, khó khăn của cuộc đời, là được trở về với ấu thơ cùng câu hát ru chứa chan yêu thương của bà, của mẹ. Chẳng thể tìm ở đâu được loại thơ mà từng câu từng chữ đều mang giai điệu, đều chất chứa cảm xúc mà lại gần gũi, mộc mạc đến lạ.

Dù không rõ là bắt đầu từ khi nào nhưng lục bát là đứa con cưng của tiếng Việt, tiếng Việt đã nuôi lớn lục bát, đồng thời, chính lục bát cũng góp mình làm cho tiếng Việt hay hơn, đẹp hơn.

Trong nền văn học đồ sộ của Việt Nam, để làm nên các tác phẩm thực sự có giá trị không thể kể đến công lao của các hình thức thơ mà các nhà thơ, nhà văn đã lựa chọn làm chất liệu cho tác phẩm của mình. Nếu nói nội dung là phần hồn của bài thơ, bài văn thì hình thức thơ lại được xem là phương tiện truyền tải để những nội dung ấy, quan niệm của tác giả có thể đến được với bạn đọc. Một trong những thể thơ được xem là mang đậm màu sắc của dân tộc Việt Nam có thể kể đến là thể thơ lục bát.

So với nền văn học già lâu đời như nền văn học Trung Hoa, nền văn học Việt Nam có thể coi là non trẻ hơn. Nhưng qua bao thế hệ người Việt Nam luôn có ý thức trong việc tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, sau đó tiếp thu, chọn lọc một cách có sáng tạo vào Việt Nam, sự chọn lọc này hoàn toàn sáng tạo, bởi người Việt Nam ta chỉ tiếp thu những cái phù hợp nhất với quốc gia, dân tộc mình, và sự kế thừa đó không phải sao chép mà là sáng tạo. Nhìn lại quá trình tiếp thu ấy ta có thể thấy được bản lĩnh dân tộc của con người Việt Nam.

Xét về thể loại và các hình thức thơ trong văn học, người Việt Nam bên cạnh tiếp thu của người Trung Hoa như thể thơ cổ phong hay thơ Đường luật. Bên cạnh đó, ông cha ta cũng sáng tạo riêng cho dân tộc mình những thể thơ độc đáo, mang đậm màu sắc, văn hóa của dân tộc Việt Nam, như thể thơ Song thất lục bát hay thể thơ Lục bát đã trở nên vô cùng quen thuộc trong văn học Việt Nam. Trong đó, thể thơ Lục bát được nhiều nhà thơ lựa chọn làm chất liệu để xây dựng nên các tác phẩm văn chương của mình, cũng là xây dựng nên những bài văn mang đậm tinh thần dân tộc nhất.

Thơ lục bát là thể thơ bao gồm có hai phần câu sáu (câu lục) và câu tám (câu bát) nối tiếp nhau. Thông thường một bài thơ lục bát thường được mở đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát. Về số lượng câu trong một bài thơ lục bát không hề bị giới hạn nghiêm ngặt như các bài thơ đường luật hay thể thơ song thất lục bát. Một bài thơ lục bát có thể bao gồm hai hoặc bốn câu như:

Hoặc cũng có thể kéo dài ra hàng nghìn câu thơ, mà điển hình nhất mà ta có thể kể đến, đó chính là kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều) của đại thi hào Nguyễn Du ( gồm 3253 câu, trong đó gồm 1627 câu lục và 1627 câu bát). Số lượng câu thơ hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung và ý đồ mà nhà văn muốn truyền tải đến những độc giả.

Về cách gieo vần, thơ Lục bát tuy không bị giới hạn bởi những luật lệ nghiêm ngặt như thể thơ Đường luật nhưng vẫn phải đảm bảo những yếu tố cơ bản. Cụ thể là trong một bài thơ Lục bát thì câu thơ cuối của câu lục phải vần với câu thơ thứ sáu của câu bát. Tương tự, câu cuối của câu bát phải hiệp vần với câu cuối của câu lục. Có thể lấy một ví dụ trong bài thơ “Việt Bắc” của nhà thơ Tố Hữu như:

Những câu thơ trên thể hiện được tình cảm thiết tha, gắn bó của nhà thơ Tố Hữu với chiến khu Việt Bắc. Nhưng ở đây ta quan tâm đến cách gieo vần của bốn câu thơ này. Như ta thấy, câu thơ cuối của câu lục kết thúc là chữ “ta” thì trong câu thơ thứ tám của câu bát được hiệp vần bằng từ “tha”. Tương tự, câu bát kết thúc bằng vần “ông” thì câu cuối của câu lục lại được hiệp vần bằng từ “không”. Chính vì đảm bảo những quy tắc trên mà những câu thơ lục bát đọc lên rất dễ nhớ, dễ hiểu, dù đọc một lần thì người đọc cũng có thể có thể đọc lại.

Về thanh điệu của bài thơ Lục bát ta có thể thấy, chữ thứ hai và chữ thứ sáu của câu bát thì đều là vần bằng, nhưng yêu cầu đặt ra ở đây là chúng không được cùng một thanh. Nếu thứ thứ sáu là thanh không có dấu , hay còn gọi là phù bình thì chữ thứ tám phải thuộc thanh trầm bình. Ví dụ cụ thể như trong bài ca dao sau:

Như vậy, ta có thể thấy một cách khái quát về định nghĩa cũng như những đặc điểm, những luật lệ cơ bản trong một bài thơ lục bát. Qua đó ta cũng phần nào hiểu được cách mà các nhà thơ sáng tạo ra một tác phẩm văn chương, đó là cả một quá trình, vừa thể hiện được tài năng, vừa thể hiện được tư duy nhanh nhạy của các thi sĩ.

Lục bát là một trong hai thể loại thơ chính của Việt Nam (lục bát và song thất lục bát). Thơ lục bát ở Việt Nam được truyền bá và phát triển hàng trăm năm nay. Thơ lục bát đã thấm đẫm tâm hồn người Việt chúng ta vì đó là thể thơ trong ca dao, đồng dao và các bài ru con. Ngày nay thơ lục bát vẫn được các nhà thơ hiện đại tiếp thu, hoàn chỉnh và giữ một vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Thể thơ lục bát rất giản dị về quy luật, dễ làm thường dùng để diễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau trong tâm hồn con người.

Thể thơ lục bát có nguồn gốc lâu đời, là một thể thơ dân tộc ta, thơ lục bát bao gồm có thể từ hai câu trở lên. Trong đó thì cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu. Các cặp câu gồm có một câu sáu tiếng (câu lục) và một câu tám tiếng (câu bát), và xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác, số câu trong bài không giới hạn. Thông thường thì bắt đầu bằng câu sáu chữ và chấm dứt ớ câu tám chữ. Nhưng cũng có khi kết thúc bằng câu sáu để đạt tính cách lơ lửng, thanh và vần, vì vậy tìm hiểu thơ lục bát là tìm hiểu về luật và vần của nó. Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà. Các vần chính là hình thức kết dính các câu thơ lại với nhau.

Luật thanh trong thơ lục bát: Thơ lục bát có 2 câu chuẩn là câu lục và 2 câu là câu bát, cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắc nhất, tam, ngũ bất luận; nhị, tứ, lục phân minh. Nghĩa là các tiếng thứ 1, 3, 5 trong câu có thể tự do về thanh, nhưng các tiếng thứ 2, 4, 6 thì phải theo luật chặt chẽ. Luật như sau:

Câu lục: Theo thứ tự tiếng thứ 2 – 4 – 6 là Bằng (B) – Trắc (T) – Bằng (B). Câu bát: Theo thứ tự tiếng thứ 2 – 4 – 6 – 8 là B – T – B – B

Ví dụ như:

(Tố Hữu)

Về phối thanh, chỉ bắt buộc các tiếng thứ tư phải là trắc, các tiếng thứ hai, thứ sáu, thứ tám phải là bằng, nhưng trong câu tám các tiếng thứ sáu thứ tám phải khác dấu, nếu trước là dấu huyền thì sau phải là không dấu hoặc ngược lại:

Thế nhưng đôi khi có thể tự do về tiếng thứ hai của câu lục hay câu bát, có thể biến nó thành thanh trắc. Hoặc là câu lục giữ nguyên mà câu bát thì lại theo thứ tự T – B – T – B những câu thơ thế này ta gọi là lục bát biến thể.

Ví dụ:

Hay:

Cách gieo vần trong thơ lục bát: Thơ lục bát có cách gieo vần khác với các thơ khác. Có nhiều vần được gieo trong thơ nhiều câu chứ không phải là một vần, điều này tạo cho thơ lục bát tính linh hoạt về vần. Thể thơ lục bát thường được gieo vần bằng; tiếng cuối của câu lục hiệp với tiếng thứ sáu của câu bát, tiếng thứ sáu của câu bát hiệp với tiếng của câu lục tiếp; cứ như thế đến hết bài lục bát:

Như thế ngoài vần chân có ở hai câu 6 và 8, lại có cả vần lưng trong câu tám.Tiểu đối trong thơ lục bát: Đó là đôi thanh trong hai tiếng thứ 6 (hoặc thứ 4) của câu bát với tiếng thứ 8 câu đó. Nếu tiếng này mang thanh huyền thì tiếng kia bắt buộc là thanh ngang và ngược lại.

Ví dụ:

(Bích câu kỳ ngộ)

Cách ngắt nhịp trong thơ lục bát: Thơ lục bát thông thường ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, hoặc 4/4 để diễn tả những tình cảm thương yêu, buồn đau…

Đôi khi để nhấn mạnh nên người ta đổi thành nhịp lẻ đó là nhịp 3/3: Chồng gì anh/ vợ gì tôi Chẳng qua là cái nợ đòi chi đây. Khi cần diễn đạt những điều trắc trở, khúc mắc, mạnh mẽ, đột ngột hay tâm trạng bất thường, bất định thì có thể chuyển sang nhịp lẻ 3/3, 1/5, 3/5… Thể thơ lục bát với cách gieo vần, phối thanh và ngắt nhịp giản dị mà biến hóa vô cùng linh hoạt, phong phú và đa dạng, nó rất dồi dào khả năng diễn tả. Đa số ca dao được sáng tác theo thể lục bát. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu có hơn 90% lời thơ trong ca dao được sáng tác bằng thể thơ này.

Từ những đặc trưng cấu trúc ngữ nghĩa trên có thể thấy về cơ bản thể thơ lục bát vẫn là thể thơ nền nã, chỉnh chu với những quy định rõ ràng về vần nhịp, về số tiếng mỗi dòng thơ, về chức năng đảm trách của mồi câu trong thể. Tuy vậy cũng có lúc câu lục tràn sang câu bát, câu lục và câu bát dài quá khổ, có khi xê dịch phối thanh, hiệp vần… đó là dạng lục bát biến thể. Sự biến đổi đó là do nhu cầu biểu đạt tình cảm ngày càng phong phú, đa dạng phá vỡ khuôn hình 6/8 thông thường. Tuy nhiên dù phá khuôn hình, âm luật, cách gieo vần của thể thơ lục bát cơ bản vẫn giữ nguyên. Đó là dấu hiệu đặc trưng cho ta nhận biết nó vẫn là thể lục bát.

Bên cạnh lục bát truyền thống còn có lục bát biến thể là những câu có hình thức lục bát nhưng không phải trên sáu dưới tám mà có sự co giãn nhất định về âm tiết về vị trí hiệp vần… Hiện tượng lục bát biến thể là vấn đề đáng chú ý trong ca dao, chúng ta có thể xem xét một số trường hợp: Lục bát biến thể tăng, tiếng lục bát biến thể giảm số tiếng.

Xét về mặt nội dung thơ lục bát diễn đạt tâm trạng nhiều chiều của nhân vật trữ tình. Thông thường người bình dân hay mượn thể loại văn vần này để bày tỏ nỗi lòng, tâm trạng của mình trong cuộc sống, sinh hoạt, tình yêu… Do vậy thể thơ chủ yếu của ca dao vần là thể lục bát vì nó có khả năng diễn đạt tất thảy những cung bậc cảm xúc như: Tình yêu trai gái, tình yêu gia đình, xóm làng, yêu đồng ruộng, đất được, yêu lao động, yêu thiên nhiên. Dân tộc nào cũng có một thể thơ, một điệu nhạc phù hợp với cách điệu cuộc sống của dân tộc đó. Lục bát là thể thơ hài hòa với nhịp đập của con tim, nếp nghĩ, cách sinh hoạt của người dân Việt Nam. Ca dao, tiếng nói mang đầy âm sắc dân tộc cũng được chuyền tải bằng lục bát. Việc sáng tạo thể thơ độc đáo này thể hiện đời sống tinh thần phong phú của người bình dân, rất nhiều nhà thơ thành công nhờ thể thơ này. Những truyện thơ vĩ đại nhất của Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên đều được thể hiện bằng hình thức thơ Lục bát. Sau này các nhà thơ hiện đại cũng đã rất thành công khi vận dụng thể lục bát trong các sáng tác của mình. Nguyễn Bính, Đồng Đức Bốn tiêu biểu cho dòng lục bát dân gian. Dòng lục bát trí tuệ có thể xem Lửa thiêng của Huy Cận trong phong trào Thơ Mới là thành tựu mở đầu. Dòng lục bát hiện đại có Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Tố Hữu…

Như vậy, lục bát là thể thơ vô cùng quan trong trong nền văn học của dân tộc.

Trong nền thơ ca phong phú của dân tộc, lục bát chính là thể thơ tiêu biểu nhất – một thể thơ cách luật cổ điển thuần túy Việt Nam.

Về nguồn gốc, thể thơ lục bát vốn rất phổ biến trong ca dao dân ca và lời ăn tiếng nói của dân tộc. Bởi thê mà, nhiều người nhầm lẫn thể thơ này có từ lâu đời. Thực tế, thể thơ lục bát có thể xuất hiện vào khoảng trước thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII. Từ một loại hình nghệ thuật dân gian, lục bát trở thành một kiểu loại của văn học viết và bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các thế kỉ sau đó.

Thể thơ này gắn bó với cuộc sống văn hóa tinh thần của dân tộc. Từ lối nói vần nói vè đến đối đáp giao duyên, than thân trách phận, tranh đấu tuyên truyền đều dùng thể thơ lục bát. Thơ lục bát rất giản dị về quy luật, dễ làm, thường dùng để diễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau trong tâm hồn con người.

Một bài lục bất phải bao gồm từ hai câu trở lên. Trong đó thì cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu. Các cặp câu gồm có một câu 6 tiếng (câu lục) và một câu 8 tiếng (câu bát) và xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác, số câu trong bài không giới hạn. Chính đặc điểm này có thể xem lục bát là một thể loại đoản thiên hay trường thiên đều được.

Đơn vị cơ bản của thể thơ này là một tổ hợp gồm hai câu sáu tiếng và tám tiếng. Số câu không hạn định, về gieo vần, chủ yếu là vần bằng, cứ mỗi cặp hai câu mới đổi vần. Tiếng cuối câu sáu vần với tiếng thứ sáu câu tám, rồi tiếng cuối câu tám lại vần với tiếng cuối câu sáu sau. Như thế ngoài vần chân có cả ở hai câu sáu và tám, lại có cả vần lưng trong câu tám. Ví dụ như trong bài ca dao sau:

(Ca dao)

Luật thanh trong thơ lục bát; Thơ lục bát có hai câu chuẩn là câu lục và câu bát, cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắc nhất, tam, ngũ bất luận; nhị, tứ, lục phân minh. Nghĩa là các tiếng thứ 1, 3, 5 trong câu có thể tự do về thanh, nhưng các tiếng thứ 2, 4, 6 thì phải theo luật chặt chẽ. Luật như sau:

Về phối thanh, chỉ bắt buộc các tiếng thứ tư phải là trắc, các tiếng thứ hai, thứ sáu, thứ tám phải là bằng. Nhưng trong câu tám, hai tiếng thứ sáu và thứ tám phải khác dấu. Nếu trước là dấu huyền thì sau phải là không dấu, hoặc ngược lại:

(Truyện Kiều)

Cách gieo vần trong thơ lục bát: Thơ lục bát có cách gieo vần khác với các thơ khác. Có nhiều vần được gieo trong thơ nhiều câu chứ không phải là một vần, điều này tạo cho thơ lục bát tính linh hoạt về vần. Thể thơ lục bát thường được gieo vần bằng; tiếng cuối của câu lục hiệp với tiếng thứ sáu của cậu bát, tiếng thứ sáu của câu bát hiệp với tiếng của câu lục tiếp; cứ như thế đến hết bài lục bát:

(Truyện Kiều)

Ngoài vần chân có cả ở hai câu 6, 8 lại có cả vần lưng trong câu tám. Tiểu đối trong thơ lục bát: Đó là đối thanh trong hai tiếng thứ 6 (hoặc thứ 4) của câu bát với tiếng thứ 8 câu đó. Nếu tiếng này mang thanh huyền thì tiếng kia bắt buộc là thanh ngang và ngược lại:

(Chinh phụ ngâm khúc)

Cách ngắt nhịp trong thơ lục bát: Thơ lục bát thông thường ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, hoặc 4/4 hoặc để diễn tả những tình cảm thương yêu, buồn đau…

(Chinh phụ ngâm khúc)

Khi cần diễn đạt những điều trắc trở, khúc mắc, mạnh mẽ, đột ngột hay tâm trạng bất thường, bất định thì có thể chuyển sang nhịp lẻ 3/3, 1/5, 3/5…

(Truyện Kiều)

Ngoài ra, còn có thể loại lục bát biến thể. Luật thơ vẫn tuân thủ luật thơ lục bát nhưng số chữ hoặc cách gieo vần có thể thay đổi. Kiểu biến thể vốn phổ biến trong ca dao:

(Ca dao)

Thơ lục bát diễn đạt tâm trạng nhiều chiều của nhân vật trữ tình. Thông thường người bình dân hay mượn thể loại văn vần này để bày tỏ nỗi lòng, tâm trạng của mình trong cuộc sống, sinh hoạt, tình yêu… Do vậy thể thơ chủ yếu của ca dao vẫn là thể lục bát vì nó có khả năng diễn đạt tất thảy những cung bậc cảm xúc như: tình yêu trai gái, tình yêu gia đình, xóm làng, yêu đồng ruộng, đất đai, yêu lao động, yêu thiên nhiên…

Ở xã hội hiện đại, việc con người dành thời gian để thưởng thức một tác phẩm thơ ca đã ngày càng ít đi. Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển sẽ vô cùng quan trọng, cần thiết đối với con người.

Thể thơ lục bát được coi là thể thơ của dân tộc. Nó chứa đựng nhiều giá trị sâu sắc về truyền thống văn hóa của dân tộc.

Thể thơ này bao gồm tối thiểu là hai câu: một câu sáu (câu lục) và một câu tám (câu bát) nối tiếp nhau. Một bài thơ lục bát thường được mở đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát. Về số lượng câu trong một bài thơ lục bát không hề bị giới hạn nghiêm ngặt như các bài thơ đường luật hay thể thơ song thất lục bát. Một bài thơ lục bát có thể bao gồm hai hoặc bốn câu như:

Hay như:

Hoặc cũng có thể kéo dài ra hàng nghìn câu thơ, mà điển hình nhất mà ta có thể kể đến, đó chính là kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều) của đại thi hào Nguyễn Du (gồm 3253 câu, trong đó gồm 1627 câu lục và 1627 câu bát). Hay như Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu với bản dịch được sử dụng nhiều nhất có 2082 câu thơ lục bát. Số lượng câu thơ hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung và ý đồ mà nhà văn muốn truyền tải đến những độc giả.

Về cách gieo vần, thơ lục bát tuy không bị giới hạn bởi những luật lệ nghiêm ngặt như thể thơ Đường luật nhưng vẫn phải đảm bảo những yếu tố cơ bản. Cụ thể là trong một bài thơ Lục bát thì câu thơ cuối của câu lục phải vần với câu thơ thứ sáu của câu bát. Tương tự, câu cuối của câu bát phải hiệp vần với câu cuối của câu lục. Có thể ví dụ như:

(Tương tư, Nguyễn Bính)

Các vần trong bài thơ là nàng – làng (chữ cuối câu 8 với chữ cuối câu 6), này – ngày (chữ cuối câu 6 với chữ cuối câu 8), vàng – giang (chữ cuối câu 8 với chữ cuối câu 6). Tất cả đều là vần chân.

Về thanh điệu của bài thơ lục bát ta có thể thấy, chữ thứ hai và chữ thứ sáu của câu bát thì đều là vần bằng. Ví dụ cụ thể như trong bài ca dao sau:

Các câu bát với chữ thứ hai và thứ sáu đều là vần bằng: nay – bề, mưa – đêm, yên – lòng.

Về cách ngắt nhịp, thơ lục bát thường ngắt nhịp ở các chữ 2/4/6 trong câu lục, thường ngắt nhịp ở các chữ 2/4/6/8 trong câu bát (gọi là nhịp 2/2/2 và 2/2/2/2) tuy nhiên đó không phải là luật mà chỉ là thường thấy. Ví dụ trong một bài thơ sau:

(Núi Dục Thúy, Nguyễn Đình Giác)

Thể thơ lục bát quả thật là một thể thơ tiêu biểu của dân tộc. Thể thơ không chỉ đóng góp về giá trị nghệ thuật mà còn góp phần thể hiện giá trị về nội dung.

Để có được nền văn học phong phú như hiện nay, chúng ta phải kể đến công lao của các nhà thơ, nhà văn từ thuở sơ khai cho đến hiện đại. Nội dung của tác phẩm là phần hồn và hình thức thơ giúp chuyển tải cho người đọc sự tinh túy của tác phẩm. Trong các thể thơ nổi tiếng của nước nhà phải kể đến thể thơ lục bát.

Nền văn học Việt Nam hình thành và phát triển hàng ngàn năm và tiếp thu và chọn lọc nhiều từ văn chương của Trung Quốc. Trải qua bao thế hệ người Việt ý thức tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, chọn lọc sáng tạo tạo ra sự phù hợp quốc gia, dân tộc. Đối với thể loại và hình thức thơ, người Việt tiếp thu tinh hoa của Trung Hoa như thể thơ Cổ Phong, thơ Đường Luật làm đa dạng văn học. Ngoài ra, ông cha còn tạo ra thể thơ độc đáo, thể hiện tinh hóa dân tộc Việt Nam, các thể thơ Song thất lục bát hay thơ Lục bát vô cùng quen thuộc và gần gũi với nhiều người. Thể thơ Lục bát được nhiều nhà thơ trong nước sử dụng trong các tác phẩm nhằm chuyển tải nội dung đến người đọc hiệu quả.

Thơ lục bát đặc trưng dễ nhận ra đó là câu đầu sáu (câu lục) và câu sau tám (câu bát). Bài thơ lục bát mở đầu bằng câu lục và kết thúc bài thơ bằng câu bát. Trong bài thơ sẽ không bị giới hạn cứng nhắc như các thể thơ khác. Thơ lục bát có thể hai bốn hoặc sáu câu như:

“Con cò lặn lội bờ sông

Lam lũ nuôi chồng, nuôi cả đàn con

Tháng năm thân mẹ hao mòn

Sớm khuya vất vả, héo hon khô gầy.”

Có trường hợp thơ có hàng nghìn câu như tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều) Nguyễn Du. Số lượng câu thơ không giới hạn mà dựa vào tác giả. Trong thơ lục bát cách gieo vần khá đặc biệt, trong bài thơ Lục bát câu thơ cuối trong câu lục phải vần với câu thơ thứ sáu trong câu bát. Tương tự như vậy câu cuối câu bát cần phải hiệp vần với câu cuối câu lục bên dưới. Có thể thấy cách gieo vần có điểm độc đáo riêng không giống với các thể thơ khác. Về thanh điệu thơ Lục bát, tiếng hiệp vần thường mang thanh bằng:

“Trên trời có đám mây xanh

Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng.

Ước gì anh lấy được nàng,

Để anh mua gạch Bát Tràng về xây”

Hoặc

Thanh bằng trong thơ lục bát chính là điểm nhấn. Thanh bằng kết hợp cùng vần /ay/ gợi lên cảm giác đau xót cho người nghe. Thơ lục bát còn có đặc điểm riêng đó là sự phối hợp bổng trầm, chuyển đổi bổng trầm của tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám trong bát. Với sự chuyển đổi linh hoạt giúp âm điệu bài thơ trở nên thanh thoát.

Thơ lục bát chính là tinh hoa của nước nha, thể thơ có sự phóng khoáng chứ không quá nghiêm ngặt như thơ Đường luật. Song vẫn đảm bảo các yếu tố cơ bản nhằm giúp chuyển tải nội dung bài thơ đến người đọc. Thơ lục bát cũng là thể thơ dễ đọc dễ nhớ vì vậy rất phổ biến và được nhiều tác giả sử dụng trong các tác phẩm văn học.

Có thể nói rằng không người Việt Nam nào mà lại không biết đến thơ lục bát, một thể thơ thuần túy dân tộc, xuất hiện đã hàng ngàn năm nay. Từ thuở nằm nôi, nằm võng, theo lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ, thơ lục bát đã ngấm vào tim óc, làm nên đời sống tâm hồn phong phú của mỗi con người.

Thể lục bát bắt nguồn từ những bài ca dao, dân ca và được phát triển qua các truyện thơ Nôm thơ lục bát đã đạt đến sự hoàn thiện hoàn mỹ với Truyện Kiều của thiên tài Nguyễn Du. Trong thơ ca hiện đại, thơ lục bát vẫn được tiếp tục phát huy qua thơ Nguyễn Bính, Tố Hữu, Xuân Diệu, Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa… và nhiều nhà thơ khác, chứng tỏ sức sống mãnh liệt của nó trong lòng người đọc.

Đơn vị cơ bản của thơ lục bát gồm một cặp câu: Câu lục (sáu tiếng) và câu bát (tám tiếng). Số câu trong bài không hạn định, ít nhất là hai, nhiều có thể lên tới hàng ngàn, vài ngàn câu như các truyện thơ Nôm mà tiêu biểu nhất là Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Trong ca dao, có những bài chỉ vẻn vẹn hai câu mà đủ sức thể hiện, khái quát một nội dung, một vấn đề nào đó của xã hội, hay một trạng thái tình cảm của con người. Bên cạnh đó là những truyện thơ lục bát trường thiên kể về bao biến cố trong suốt cuộc đời dài dằng dặc của nhân vật. Điều đó chứng tỏ độ dài ngắn của thơ lục bát là hoàn toàn phụ thuộc vào chủ định của người sáng tác.

Vần trong thơ lục bát có hai loại: Vần lưng và vần chân. Hai dòng lục bát hiệp theo vần lưng có nghĩa là tiếng thứ sáu của câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát. Nếu tiếp tục kéo dài thì tiếng thứ tám của câu bát lại vần với tiếng thứ sáu của câu lục bên dưới, đó là vần chân. Ví dụ:

Advertisement

(Việt Bắc, Tố Hữu)

Ngoài dạng lục bát nguyên thể như trên, còn có dạng lục bát biến thể đôi chút bằng cách thêm bớt một số tiếng hoặc xê dịch về cách hiệp vần hay phối thanh.

Ví dụ:

(Ca dao)

Tiếng thứ sáu của câu lục lại vần với tiếng thứ tư của câu bát, tuy vậy đọc lên vẫn thấy du dương. Trường hợp thêm chữ như câu ca dao sau đây:

(Ca dao)

Câu lục đã được thêm vào hai tiếng (gió đẩy). Nếu bớt đi hai tiếng này thì hai câu lục bát trên sẽ trở lại dạng nguyên thể về vần, nó vẫn tuân thủ theo cách hiệp vần lưng.

Quy luật phối thanh của thơ lục bát khá linh hoạt, uyển chuyển. Thường thường thì các tiếng ở vị trí thứ hai, bốn, sáu, tám là thanh bằng, vị trí thứ tư là thanh trắc. Còn các tiếng ở vị trí lẻ một, ba, năm, bảy thì có thể là bằng hay trắc đều được cả. Tiếng thứ hai thanh trắc, tiếng thứ tư thanh bằng, khác với cách phối thanh của câu lục bình thường.

Nhịp trong thơ lục bát phần lớn là nhịp chẵn, tạo nên âm điệu êm đềm, thong thả, thích hợp làm lời hát ru, hát ngâm.

Ví dụ:

Hay:

(Ca dao)

Nhưng khi cần biểu đạt một nội dung tư tưởng, tình cảm nhất định nào đó, người ta có thể biến đổi nhịp thơ cho thích hợp. Ví dụ như lời Thúy Kiều nói với Hoạn Thư trong cảnh Kiều báo ân báo oán:

Rõ ràng là giọng đay nghiến, chì chiết khi Thúy Kiều nhắc tới máu ghen đáo để có một không hai của tiểu thư họ Hoạn.

Thơ lục bát đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Việt Nam. Cái hay, cái đẹp của nó là kết tinh hoa ngôn ngữ tiếng Việt. Với những ưu điểm trong cách gieo vần, phối thanh, ngắt nhịp… biến hóa linh hoạt, uyển chuyển, thơ lục bát dễ nhớ, dễ đi sâu vào tâm hồn.

Lục bát là một trong hai thể loại thơ chính của Việt Nam (lục bát và song thất lục bát). Thơ lục bát ở Việt Nam được phát triển hàng trăm năm nay. Thơ lục bát đã thấm đẫm tâm hồn người Việt chúng ta vì đó là thể thơ trong ca dao, đồng dao và các bài ru con. Ngày nay thơ lục bát vẫn được các nhà thơ hiện đại tiếp thu, hoàn chỉnh và giữ một vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Thơ lục bát rất giản dị về quy luật, dễ làm, thường dùng để diễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau trong tâm hồn con người.

Thật khó để xác định một cách chính xác thể thơ lục bát ra đời từ bao giờ bởi không có sách ghi lại điều này. Bắt nguồn từ ca dao dân ca, lời ca tiếng hát của những người bình dân, thể thơ lục bát dần dần hiện hình trong đời sống nghệ thuật của dân tộc. Có giả thuyết cho rằng, từ những bài ca, bài đồng giao, người Việt bắt đầu hình dung về vần điệu của thể thơ lục bát, từ đó ghi nhớ và hoàn thiện thể loại thơ này từ thế kỉ XVI.

Tiếp tục phát triển theo thời gian, thể thơ lục bát đạt được những thành tựu rực rỡ ở cuối thế kỉ XVII và thế kỉ XVIII, với tác phẩm tiêu biểu là truyện Kiều của Nguyễn Du. Với Truyện Kiều, lục bát đã khẳng định được khả năng mạnh mẽ trong việc biểu đạt chiều sâu đời sống tình cảm của con người.

Một bài lục bát gồm ít nhất 2 câu: một câu lục (6 tiếng) và một câu bát (tám tiếng) và không hạn định về số lượng câu trong một bài.

Cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắc nhất, tam, ngũ bất luận; nhị, tứ, lục phân minh. Nghĩa là các tiếng thứ 1,3,5 trong câu có thể tự do về thanh, nhưng các tiếng thứ 2,4,6 thì phải theo luật chặt chẽ. Luật như sau:

Câu số Vần

Câu lục 0 B 0 T 0 B(vần)

Câu bát 0 B 0 T 0 B(vần) 0 B

Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7 8

Ví dụ:

Chỉ bắt buộc các tiếng thứ tư phải là trắc, các tiếng thứ hai, thứ sáu, thứ tám phải là bằng, nhưng trong câu tám các tiếng thứ sáu thứ tám phải khác dấu, nếu trước là dấu huyền thì sau phải là không dấu hoặc ngược lại.

Trong thơ lục bát biến thể, những quy định trên có thay đổi chút ít. Trước hết là số chữ có thể tăng thêm và vần lưng tất nhiên cũng xê dịch theo:

Thơ lục bát có cách gieo vần khác với các thơ khác. Có nhiều vần được gieo trong thơ nhiều câu chứ không phải là một vần, điều này tạo cho thơ lục bát tính linh hoạt về vần. Thể thơ lục bát thường được gieo vần bằng; tiếng cuối của câu lục hiệp với tiếng thứ sáu của cậu bát, tiếng thứ sáu của câu bát hiệp với tiếng của câu lục tiếp; cứ như thế đến hết bài lục bát:

Ngoài ra, có thể gieo vần trắc, hệ thống bằng trắc trong tổ hợp hai câu sáu tám, do đó, cũng thay đổi:

Vần lưng có thể ở tiếng thứ hai, nhất là ở tiếng thứ tư, và lúc đó tiếng thứ tư đổi ra thanh bằng, và tiếng thứ sáu tiếp theo phải đổi sang thanh trắc:

Như vậy, có thể nhận thấy, thể thơ lục bát vẫn là thể thơ nền nã, chỉnh chu với những quy định rõ ràng về vần nhịp, về số tiếng mỗi dòng thơ, về chức năng đảm trách của mỗi câu trong thể thơ này.

Thể thơ lục bát phản ánh và cô kết trung thành những phẩm chất thẩm mĩ của tiếng Việt. Với cách gieo vần, phối thanh, ngắt nhịp giản dị mà biến hoá vô cùng linh hoạt, phong phú và đa dạng, nó có khả năng diễn đạt tất thảy những cung bậc cảm xúc như: tình yêu trai gái, tình yêu gia đình, xóm làng, yêu đồng ruộng, đất đai, yêu lao động, yêu thiên nhiên….

Lục bát là phương tiện phổ dụng để người Việt giải toả tâm sự, kí thác tâm trạng, làm thăng hoa tâm hồn. Gắn với tiếng Việt, gắn với hồn Việt, thơ lục bát đã thuộc về bản sắc dân tộc này. Nếu tâm hồn một dân tộc thường gửi trọn vào thi ca của dân tộc mình, thì lục bát là thể thơ mà phần hồn của dân Việt đã nương náu ở đó nhiều nhất, sâu nhất. Sức biểu đạt kì diệu của thơ lục bát thật to lớn. Chỉ có hai câu, mười bốn tiếng, mà một cặp lục bát tiềm tàng những khả năng biểu hiện vô tận. Nó luôn dư sức trần thuật:

Nó vô cùng dồi dào năng lực trữ tình:

Nó dôi dả năng lực triết luận:

Nó đáp ứng mọi yêu cầu trào phúng:

Trong thời buổi hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, dường như đang có hai thái độ trái ngược đối với lục bát. Lắm kẻ thờ ơ, hoài nghi khả năng của lục bát. Họ thành kiến rằng lục bát là thể thơ quá gò bó về vần luật, về thanh luật, về tiết tấu; nó đơn điệu, nó bằng phẳng, quê mùa. Họ vội cho rằng lục bát chỉ biểu hiện được những cảm xúc quen thuộc của người Việt truyền thông. Còn tâm sự đầy những suy cảm tinh vi phức tạp của người hiện đại thì lục bát khó chuyển tải. Họ lầm tưởng rằng lục bát sẽ khó theo kịp nhịp biến hoá đầy bấn loạn của tư duy thơ hiện đại. Thậm chí, có người còn coi lục bát như một rào cản đối với những lối tư duy nghệ thuật tân kỳ. Và, họ từ chối lục bát đế một mực chạy theo những thể khác.

Vì thế mà có xu hướng ngược lại, nhiều người đã nhận thấy ở lục bát những ưu thế không thể thơ nào có được. Họ đã tìm về lục bát. Họ nâng niu, chăm chút. Họ làm mới, họ cách tân, để gửi gắm tấm lòng của con người hôm nay vào thể thơ hương hỏa của cha ông. Họ dùng lục bát như một phương tiện tâm tình gần gũi, để nói những gì sâu sắc nhất của tâm tư. Đọc thơ lục bát của thế kỷ qua, có thể thấy rõ rệt, càng về sau, dáng điệu lục bát càng trẻ trung, hơi thở lục bát càng hiện đại hơn so với hồi đầu. Điều đó là bằng chứng khẳng định lục bát vẫn trường tồn, lục bát vẫn gắn bó máu thịt với tâm hồn Việt trên con đường hiện đại. Trân trọng lục bát cũng là một thước đo về văn hoá thơ với một người Việt.

Chừng nào tre còn xanh, sen còn ngát, chừng nào tà áo dài còn tha thướt, tiếng đàn bầu còn ngân nga, chừng ấy những điệu lục bát vẫn tiếp tục sinh sôi trên xứ sở này. Thể thơ lục bát mãi mãi là một tài sản thiêng liêng của nền văn hoá Việt. Chừng nào thế giới còn chưa thấu tỏ vẻ đẹp của lục bát, chừng ấy họ chưa thực sự hiểu vẻ đẹp của thơ Việt. Và, chừng nào ta còn chưa làm cho thế giới tiếp nhận được vẻ đẹp của lục bát, chừng ấy nền thơ Việt vẫn còn chưa thực sự làm tròn sứ mệnh của mình.

Văn Mẫu Lớp 10: Thuyết Minh Về Lễ Hội Giỗ Tổ Hùng Vương (Dàn Ý + 11 Mẫu) Thuyết Minh Lễ Hội Truyền Thống

I. Mở bài

– Câu ca dao quen thuộc nhắc nhở bất kì người con đất Việt nào nhớ về ngày giỗ Tổ Hùng Vương.

– Ngày này đã từ lâu là một ngày quốc lễ của đất nước Việt Nam.

II. Thân bài

– Tại đền thờ chính ở Phú Thọ ngày giỗ tổ rất đông vui, dân chúng các nơi trên toàn quốc đổ về (kể cả các em tráng nhi cũng được đi theo), đội lễ vật lên đền dâng lễ nườm nượp, trước là dâng lễ tại đền thờ hai bà Công chúa (Tiên Dung và Ngọc Dung) ờ chân núi Nghĩa Lĩnh (còn gọi là núi Đen).

– Đó là đều Hạ (còn gọi là đền Giếng vì có một giếng mạch nước trong và mát). Sau mới lên dâng lễ đền thờ Quốc tổ ở lưng chừng núi là đền Trung (trước đền có nhà Bia và gần đền có chùa của xã Hy Cương) và cuối cùng là lên dâng lễ ở đền Thượng, tại đỉnh núi thờ 18 vị vua Hùng Vương, trước đền có bức hoành phi đề Nam triều tổ. cạnh đền là Ngôi mộ tổ Hùng Vương (không rõ của vị vua nào).

– Từ đền Hạ lên đền Thượng phải leo 296 bực (bậc) đá.

– Hội đền Hùng mở từ đầu tháng đón hết mùng 10 tháng 3 mới rã đám.

– Trong thời gian Hội có rước sách và các buổi tế lễ. mà lễ chính là buổi Quốc tế (Tế chính của Quốc gia) do đại diện của triều đình thường là vị chủ tỉnh Phú Thọ chủ tế có đông đủ quan chức địa phương tham dự và có các cuộc bách hí cố tri. gồm leo dây, múa roi, đánh cờ, thi diều sáo, treo đèn (thắp đèn dọc từ đền Hạ tới Thượng tại chùa và các lăng miếu, ban đêm rất rực rỡ), đu tiên và đánh còn.

– Tại lễ hội quốc Tổ, đặc sắc nhất là có các tục nam thanh nữ tú trẩy hội vui vẻ tha hồ.

Nhưng nếu có thanh niên nào bờm son làm trò khiếm nhã để trêu chọc phụ nữ, nhất là các cô thôn nữ ở Phú Thọ, sẽ bị bắt bỏ rọ lợn vứt trước cửa đền Hạ 2 giờ trong ngày.

– Sau 1975 một thời gian dài, lễ giỗ Tổ Hùng Vương không được coi là quốc lễ, nhưng kể từ năm 2003, Quốc hội thông qua việc coi giỗ tổ Hùng Vương là ngày Giỗ quốc tổ và đến 2007 nhà nước mới có nghị định chính thức coi lễ Giỗ tổ Hùng Vương là quốc lễ được nghỉ làm việc một ngày.

– Bây giờ ngày giỗ này lại được chính quyền địa phương (Phú Thọ) tổ chức long trọng vừa để thu hút khách du lịch vừa để dân chúng kể cả giới chức chính quyền (UBND tỉnh) có dịp đến chính thức kính lễ Quốc tổ như trước.

III. Kết bài

– Lễ giỗ Tổ là biểu hiện của sự nhớ ơn tổ tiên của mọi người dân Việt Nam.

– Cần phải giữ gìn và phát huy nó nhiều hơn.

Có một câu nói mà con người của muôn thời đại đều cần phải khắc ghi, đó là nếu đánh mất và bỏ mặc quá khứ, bạn không bao giờ có hiện tại và tương lai. Hay một cách ngắn gọn, nó đằm mình trong câu tục ngữ truyền thống bao đời của dân tộc ta Uống nước nhớ nguồn”. Chính vì thế, hàng năm, vẫn có những lễ hội truyền thống để nhắc nhở con cháu đời đời về nguồn cội vĩnh hằng của cha ông, lễ hội đền hùng chính là mang ý nghĩa thiêng liêng ấy.

Câu ca dao xưa đã cho thấy tầm quan trọng về ý nghĩa lịch sử thiêng liêng của lễ hội đền Hùng, một trong những nghi thức lễ lâu đời nhất trong lịch sử dân tộc. Đặc biệt đó cũng là một dịp thiêng liêng để cả nước cùng hướng về tri ân, cùng nhau ôn lại những nét đẹp lịch sử văn hóa đã đồng hành cùng thời gian vượt lên trên cả sự băng biến. Lễ hội đền Hùng diễn ra vào ngày mùng mười tháng ba âm lịch hàng năm, đây là dịp những đứa con ở khắp nơi trên tổ quốc cùng trở về Phú Thọ quê tổ để cùng thể hiện lòng thờ kính thiêng liêng dành cho nguồn cội lịch sử của dân tộc ta, để tri ân các vị vua Hùng đã có công dựng nước để con cháu sau này đời đời được sống trên mảnh đất giàu truyền thống và mang những nét đẹp tâm hồn riêng. Hàng năm, cứ vào dịp này, những người con đất Việt từ khắp nơi trên tổ quốc, thậm chí cả kiều bào ta sinh sống công tác ở nước ngoài cũng luôn lắng lòng để tưởng nhớ về lễ hội truyền thống của dân tộc.Chính vì mang trong nó không chỉ tính nghi lễ mà còn bao chứa cả lớp trầm tích văn hóa lịch sử ngàn đời cùng đạo lí dân tộc sâu sắc, mà ngày lễ giỗ tổ Hùng Vương được xem là ngày quốc lễ của dân tộc ta.

Như tên gọi, phần nào ta có thể khái quát, lễ hội đền Hùng gồm hai phần chính, đó là phần lễ và phần hội. Trước tiên là phần Lễ, gồm lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương. Lễ rước kiệu vua, đây là nghi thức để tưởng nhớ công ơn những vị vua hùng đã hi sinh vì dân tộc, phần rước kiệu diễn ra long trọng với các đoàn rước, cùng cờ hoa biểu tượng sặc sỡ sang nghiêm cùng tấm lòng thành kính thiêng liêng của những người tham gia rước kiệu. Vì phần lễ rước kiệu vô cùng cao quý, trang trọng, vậy nên công tác chuẩn bị vô cùng cầu kì kĩ lượng để đảm bảo không làm thất lễ đối với các vị thần.

Sau phần lễ rước kiệu để tưởng nhớ vô cùng trang kính tôn nghiêm, thì không khí cũng được trở nên ấm thiêng hơn bởi khói hương nghi ngút của phần lễ dâng hương. Đây là dịp mà những đứa con trên khắp mỏi dải đất cùng hướng về cha tổ, để cầu nguyện những điều tốt đẹp và nói ra những mong ước, gửi gắm của mình trong dịp đầu năm. Đây cũng là một nét đẹp, giúp không khí xung quanh khói hương nghi ngút vô cùng thiêng liêng, đó không khí của chân tâm dâng kính, của nét đẹp văn hóa lịch sử của dân tộc. Phần rước kiệu và phần lễ hội có lẽ là phần lễ dành cho mọi người thờ khấn, cầu nguyện.

Sang phần hội, có nhiều trò chơi dân gian thú vị, hấp dẫn đang chờ đợi mọi người tham gia. Đây cũng là dịp để những đứa trẻ đang trưởng thành trong thời kỳ mới, kỷ nguyên công nghệ hiện đại có thể ngược dòng cảm nhận nét đẹp truyền thống tích lũy bao đời qua lớp lớp tháng năm ,có các trò chơi như kéo co, đấu vật, ..đặc biệt là hội thi hát xoan truyền thống, nơi bạn được thưởng thức những làn điệu dân ca đã đằm mình vào nét đẹp tâm hồn con người nơi đây, đã mang giai điệu riêng của mảnh đất Phú Thọ để giới thiệu đến người dân xứ sở, để một lần nữa cùng cất lên lòng cảm phục và ngưỡng mộ với nét đẹp âm nhạc dân gian đáng quý ấy.

Lễ hội đền Hùng không chỉ là một nét đẹp, mà còn là một di tích nghệ thuật văn hóa được thế hệ muôn đời truyền tụng, gối nhau vẻ đẹp của đạo lí uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, từ đó, gợi đến vẻ đẹp của giá trị vĩnh hằng vượt lên dòng chảy băng hoại của thời gian.

Đền Hùng biểu tượng lịch sử của dân tộc Việt Nam, khu di tích lịch sử Đền Hùng là nơi thờ phụng các Vua Hùng những người có công dựng nước từ xa xưa. Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 trở thành ngày lễ trọng đại của dân tộc.

Đền Hùng xây dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, hiện nay thuộc Hy Cương, Việt Trì, Phú Thọ. Nơi đây là tập hợp lăng tẩm, miếu, thờ các vua Hùng. Nếu du khách đi từ chân núi sẽ bắt đầu khám phá nơi thấp nhất đó là đền Hạ – nơi đây theo dân gian tương truyền mẹ Âu Cơ đẻ ra bọc trứng, nửa còn lại theo cha số còn lại theo mẹ. Tiếp đến du khách sẽ được khám phá đền Trung địa điểm thường tổ chức các cuộc hội họp bàn các vấn đề quốc gia của vua Hùng thử xưa, qua đền Trung sẽ đến đền Thượng nơi thờ vua Hùng thứ 6 đây chính là vị trí cao nhất.

Mỗi năm ngày giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức rất linh đình theo nghi thức quốc gia, Giỗ Tổ bao gồm có 2 phần riêng biệt đó là phần lễ và phần hội. Lễ Rước Kiệu với các đền, chùa trên núi, các vị lãnh đạo của đất nước dâng hương lên vua Hùng tổ chức tại đền Thượng. Các nghi thức tổ chức, dâng hương sẽ được tổ chức long trọng, thành kính và sẽ được báo chí, phát thanh truyền hình đưa tin. Đồng bào trong cả nước được dâng lễ trong các đền, chùa, với sự thành kính và cầu mong yên bình, làm ăn thành công.

Bên cạnh đó phải nhắc đến lễ Dâng Hương các đền, chùa trên núi. Lễ hội còn giúp người dân tham gia sinh hoạt văn hoá cổ xưa. Người dân sẽ được xem các trò chơi như đấu vật, chọi gà, rước kiệu, đánh cờ người…. Còn có sân khấu riêng của các đoàn nghệ thuật: chèo, kịch nói, hát quan họ,… Các nghệ sĩ, nghệ nhân từ nhiều nơi về đây để trình diễn những làn điệu hát xoan mượt mà, đặc sắc mang đến cho cho lễ hội đền Hùng đặc trưng riêng của Đất Tổ.

Những người đến đây không chỉ là xem lễ hội mà còn thể hiện sự tâm linh, thành kính với quê hương đất Tổ, ai cũng biết đây là nơi gốc gác linh thiêng,cội nguồn của dân tộc. Hàng năm, cứ đến mùng 10 tháng 3, người dân và du khách tham gia trẩy hội đền Hùng, đây là nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. Lễ hội rất linh thiêng và thể hiện sự biết ơn công lao dựng nước và giữ nước của các vua Hùng.

Hàng năm, lễ hội Giỗ Tổ vẫn được tổ chức theo truyền thống văn hoá của dân tộc. Vào những năm chẵn (5 năm một lần), Giỗ Tổ được tổ chức theo nghi lễ quốc gia, năm lẻ do tỉnh Phú Thọ tổ chức. Việc tổ chức lễ hội Giỗ Tổ rất chặt chẽ, bao gồm hai phần: lễ và hội.

Lễ hội Rước Kiệu được duy trì trang nghiêm trong các đền, chùa trên núi Hùng. Nghi thức dâng hương hoa của các đoàn đại biểu của Đảng, Chính phủ, các địa phương trong toàn quốc, được tổ chức long trọng tại đền Thượng. Từ chiều ngày mùng 9, làng nào được Ban tổ chức lễ hội cho phép rước kiệu dâng lễ đã tập trung tại nhà bảo tàng dưới chân núi, trên kiệu đặt lễ vật. Sáng sớm ngày mùng 10, các đoàn đại biểu tập trung ở một địa điểm tại thành phố Việt Trì, có xe tiêu binh rước vòng hoa dẫn đầu, diễu hành tới chân núi Hùng. Các đoàn đại biểu xếp hàng chỉnh tề đi sau kiệu lễ, lần lượt lên đền theo tiếng nhạc của phường bát âm và đội múa sinh tiền. Tới trước thềm của “Điện Kính Thiên”, đoàn dừng lại, kính cẩn dâng lễ vào thượng cung đền Thượng. Một đồng chí lãnh đạo tỉnh (năm chẵn là nguyên thủ quốc gia hoặc đại biểu đại diện Bộ Văn hoá), thay mặt cho tỉnh và nhân dân cả nước đọc chúc căn lễ Tổ. Toàn bộ nghi thức hành lễ được hệ thống báo chí, phát thanh truyền hình đưa tin hoặc tường thuật trực tiếp để đồng bào cả nước có thể theo dõi lễ hội. Đồng bào dâng lễ trong các đền, chùa trên núi, ai cũng có tâm nguyện cầu mong tổ tiên chứng giám, phù hộ độ trì cho con cháu.

Lễ Dâng Hương sẽ được diễn ra tưng bừng, náo nhiệt xung quanh các đền, chùa và dưới chân núi Hùng. Lễ hội ngày nay có nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá hơn xưa. Các hình thức văn hoá truyền thống và hiện đại được đan xen nhau. Trong khu vực của hội, nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, văn hoá phẩm, các cửa hàng dịch vụ ăn uống, các khu văn thể được tổ chức và duy trì một cách trật tự, quy củ. Tại khu văn thể, các trò chơi văn hoá dân gian được bảo lưu có chọn lọc như: đu quay, đấu vật, chọi gà, bắn nỏ, rước kiệu, kéo lửa nấu cơm thi, đánh cờ tướng (cờ người). Có năm còn diễn trò “Bách nghệ khôi hài”, “Rước chúa gái”, “Rước lúa thần” và trò “Trám” tại khu vực hội. Cạnh đó là sân khấu của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp: chèo, kịch nói, hát quan họ. Hội ngày nay chính là nơi để thi tuyển và giao lưu văn hoá giữa các vùng. các nghệ nhân người Mường mang đến lễ hội thanh âm của tiếng trống đồng một thời gióng trên đỉnh núi Hùng, gọi mặt trời làm mưa, làm nắng thuận hòa, cho mùa màng tốt tươi, muôn dân hạnh phúc. Những làn điệu Xoan – Ghẹo với lời ca tinh tế, mượt mà đã đem tới cho lễ hội đền Hùng một nét đặc trưng, thấm đượm văn hóa vùng Trung du Đất Tổ. Một điểm quan trọng nằm ở giữa trung tâm lễ hội là nhà bảo tàng Hùng Vương, ở đây lưu giữ vô số những cổ vật đích thực của thời đại các Vua Hùng.

Thời đại của chúng ta ngày nay đang ngày càng góp sức tô điểm và phát huy sự cao đẹp của lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương. Hàng năm, ý nghĩa tâm linh của cuộc trẩy hội về Đền Hùng đã trở thành nếp nghĩ, nếp sinh hoạt truyền thống không thể thiếu trong đời sống văn hoá tinh thần tín ngưỡng của người Việt Nam. Không phân biệt già trẻ, không phân biệt tuổi tác, không phân biệt tôn giáo. Tất cả những người con đang sống trên mọi miền Tổ quốc, những người con xa xứ đều bình đẳng về mộ Tổ, thăm đền và dự lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương.

Từ xưa, dân gian ta đã có câu:

Câu ca dao đã nhắc nhở mỗi người chúng ta về một nét sinh hoạt văn hóa tâm linh vô cùng thiêng liêng của dân tộc hằng năm – Đó là ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Vào ngày đặc biệt này, toàn dân tộc ta, ai ai dù ở nơi đâu trên thế giới cùng đều hướng một lòng về quê cha đất tổ, vùng đất cội nguồn thuộc tỉnh Phú Thọ, Việt Nam để tưởng nhớ tới công ơn của cha ông đã gây dựng lên đất nước. Lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức thường niên nhằm tri ân công ơn to lớn của các vị vua Hùng và các bậc tiền nhân đã xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày xưa.

Giỗ Tổ Hùng Vương hay còn được gọi là lễ hội đền Hùng là một trong những dịp lễ hội truyền thống quan trọng nhất trong năm của người Việt để bày tỏ sự tri ân, tưởng nhớ công lao dựng nước và bảo vệ đất nước của các vị Hùng Vương – Văn Lang ngày xưa. Lễ hội được tổ chức vào ngày mùng mười tháng ba âm lịch, với các nghi thức truyền thống được tổ chức tại đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Có lẽ trong tâm tưởng của mỗi người dân Việt, ai cũng luôn hướng về cội nguồn, hướng về những truyền thống với những phong tục tâm linh từ thời cha ông để lại.Chính vì vậy, ở bất cứ thời kì nào, chúng ta vẫn luôn giữ nguyên vẹn được phong tục Giỗ tổ của mình.Nhắc về nguồn gốc của lễ hội tưởng nhớ công ơn này thì có lẽ không ai có thể biết tới bởi nó xuất hiện và tồn tại từ lâu đời.Ngay từ thời phong kiến, các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê đã luôn dâng hương hoa và lễ vật lên ngôi đền linh thiêng này để tưởng nhớ công ơn của các đấng vua cha tiên tổ từ xa xưa.Theo Ngọc phả Hùng Vương ghi chép lại lịch sử từ thời Hồng Đức, ngôi đền thiêng liêng này đã được các vua chúa thời phong kiến thờ cúng, cho người trông nom, sửa chữa và tổ chức lễ hội vào ngày mồng mười hai tháng ba hằng năm.Các triều đại phong kiến cứ nối tiếp nhau tiếp quản nhưng không triều đại nào quên dâng hương bái tổ, dâng lễ vật và tổ chức các nghi lễ hằng năm cho ngôi đền Hùng thiêng liêng này.

Vào thời phong kiến, Phú Thọ được chia ra thành bốn mươi mốt làng xã và những làng xã này có nhiệm vụ tổ chức phần lễ truyền thống khi lễ Giỗ Tổ diễn ra. Mỗi làng sẽ rước kiệu của làng mình từ đình làng tới đền Hùng với các lễ vật, đi cùng là các phường tấu nhạc, hát ca dân gian. Mỗi kiệu sẽ có lọng che, đi cùng cờ quạt và chiêng trống.Đó được coi như là những cuộc hành trình về nguồn của mỗi làng một xã vô cùng trang nghiêm và mang tính tâm linh sâu sắc.Phần nghi thức của lễ Giỗ tổ được diễn ra trang nghiêm với nhiều nghi lễ phức tạp, bao gồm lễ của triều đình và lễ của dân dâng lên. Sau phần nghi lễ trang trọng được diễn ra, nhà vua sẽ tổ chức những trò vui chơi dân gian mang tính phong tục truyền thống như hát xoan, hát ghẹo, đấu vật, đánh đu, để người dân được vui chơi sau một năm làm lụng vất vả. Nhưng đến thời nhà Nguyễn, vào năm 1917, vua Khải Định ra sắc lệnh cho tỉnh Phú Thọ phải lấy ngày mùng mười tháng ba âm lịch để cử hành quốc lễ hằng năm. Khi đó, các quan chức trong tỉnh sẽ phải mặc triều phục, đứng ra thay mặt cho các vua và các quan trong triều tế Tổ theo nghi thức truyền thống.

Đến khi nền cộng hòa được thành lập vào ngày mùng hai tháng chín năm 1945, kế thừa những phong tục truyền thống của dân tộc, Chính phủ lâm thời khi đó với chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đặc biệt ghi nhớ lễ hội quan trọng này. Bác vẫn luôn dặn dò mỗi người con đất Việt phải luôn “uống nước nhớ nguồn”, phải biết trân trọng, gìn giữ và phát huy những truyền thống quý báu cũng như phải bảo vệ quê hương đất nước của mình. Bác cũng đã từng dặn các chiến sĩ, cán bộ khi tới thăm đền Hùng rằng:”Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Vâng lời dặn dò ân cần đó của Bác, năm 1946, ngay năm sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập, cụ Huỳnh Thúc Kháng – phó Chủ tịch nước khi đó đã thay mặt nhà nước và chính phủ lâm thời lên dâng hương hoa tại đền Hùng, Phú Thọ. Trong lần viếng thăm ấy, cụ đã mặc trang phục truyền thống khi vào làm nghi lễ dâng hương với khăn xếp, áo the và trang trọng đặt lên bàn thờ các vua Hùng bản đồ đất nước Việt Nam cùng với thanh kiếm quốc bảo. Với hành động mang đầy tính tâm linh đó, chúng ta như muốn khẳng định với các bậc tiền nhân rằng dân tộc ta sẽ giữ vững ý chí bảo vệ Tổ quốc trước sự trở lại kẻ thù xâm lược là thực dân Pháp lúc bấy giờ. Năm 1954, sau thắng lợi của chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác Hồ cùng các cán bộ và chiến sĩ của Việt Nam đã vào thăm đền Hùng để kính viếng và tỏ lòng biết ơn tới các vị vua Hùng.

Ngày nay, lễ hội vẫn giữ được nguyên những nét nghi lễ truyền thống vốn có lưu lại từ bao đời trước với các phần lễ và phần hội.Giỗ Tổ ngày nay thường có sự tham gia của ba tỉnh Phú Thọ, Cà Mau, Bình Thuận tham gia góp giỗ.Cùng với đó là sự tổ chức cũng quy mô hơn, nghiêm ngặt hơn với các hoạt động văn hóa thể thao diễn ra rất sôi nổi.

Tiếp nối truyền thống vốn có, phần lễ trước tiên bao gồm các nghi thức cúng Tổ, dâng hương và hoa của các đoàn đại biểu sẽ được tổ chức bên trong đền Thượng. Khác với thời xưa khi mỗi làng đều phải rước kiệu của mình để về giỗ Tổ, ngày nay, kiệu của Giỗ Tổ chỉ có một và được ban tổ chức lễ hội rước ra từ chiều ngày mùng chín đặt ở dưới chân núi. Sau đó, các đoàn đại biểu cùng vòng hoa kính viếng sẽ theo sau đội khiêng kiệu lần lượt vào đền trong tiếng nhạc bát âm. Như truyền thống vào những năm chẵn khoảng năm năm, lễ Giỗ Tổ sẽ được tổ chức theo nghi thức quốc gia, còn những năm khác đều do tỉnh ủy tỉnh Phú Thọ chỉ đạo tổ chức. Khi kiệu được rước đến trước thềm của điện Kính Tiêu, một vị đại biểu lãnh đạo sẽ thay mặt cho nhân dân cả nước đọc chúc văn lễ Tổ. Những nghi lễ trang nghiêm này sẽ được ghi hình và phát trực tiếp cho đồng bào trên khắp thế giới có thể theo dõi cùng. Sau lễ đọc chúc văn và làm lễ của đoàn đại biểu, các đồng bào cũng tham gia dâng lễ tế tổ tiên, các vị vua Hùng để cầu xin về một năm mới may mắn và làm ăn phát đạt.

Tiếp theo sau khi những nghi thức truyền thống đã kết thúc, ban tổ chức lễ hội cũng tổ chức thêm phần hội bao gồm các trò chơi dân gian và văn nghệ ở phía dưới chân đền. Cùng với đó là các hoạt động thể thao, văn hóa cũng diễn ra vô cùng sôi nổi và phong phú. Thêm vào đó, mỗi năm, ban tổ chức sẽ mở ra các trò chơi mới như thi gói bánh chưng, thi nấu cơm, để dâng lên vua Hùng cùng với lòng thành kính, bày tỏ sự biết ơn đối các vị vua đã tạo nên một phong tục đẹp. Bên cạnh các trò chơi dân gian là các đoàn hát nghệ thuật cũng góp vui, mang đến nhiều không khí lễ hội tưng bừng đầy phấn khởi.

Ngày nay, lễ hội đền Hùng – giỗ tổ Hùng Vương không chỉ còn là lễ hội của riêng người dân tộc Kinh mà các dân tộc khác trong vùng như Mường, Mông, cũng tới tham gia lễ hội và góp vui cùng những tiếng cồng, tiếng chiêng đem tới một không khí thật sôi nổi, khẳng định nột nét văn hóa thấm đượm tình dân tộc, tình đoàn kết anh em.Giỗ tổ Hùng Vương là một phong tục tâm linh hết sức thiêng liêng và độc đáo của dân tộc ta. Vào ngày này, con cháu chúng ta không chỉ cầu mong tổ tiên phù hộ để luôn được sự khỏe mạnh, may mắn mà còn phải luôn ghi nhớ trong lòng, biết ơn, tri ân những người tiền nhân đã gây dựng và bảo vệ đất nước để chúng ta có được ngày hôm nay. Hơn thế nữa, từ phong tục này, chúng ta nhắc nhau về một dân tộc được sinh ra cùng từ một nguồn, vậy nên phải biết yêu thương, đoàn kết, phải ý thức được lòng tự hào, tự tôn dân tộc để cùng nhau xây dựng và phát triển Tổ quốc ngày càng phồn thịnh hơn nữa.

Dòng sông lịch sử vẫn luôn cuồn cuộn chảy suốt bốn ngàn năm qua cùng dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, trải qua bao thăng trầm, biến động ấy, lễ hội Đền Hùng – Giỗ Tổ Hùng Vương vẫn là một lễ hội tâm linh, tín ngưỡng quan trọng bậc nhất của người Việt. Từ truyền thống tốt đẹp đã được giữ gìn hàng trăm năm ấy, chúng ta những con người của thế hệ sau phải biết cố gắng kế thừa và phát huy hơn những truyền thống tốt đẹp như thế này của dân tộc. Con cháu dân tộc ta, dù có ở bất cứ đâu, cứ tới ngày mùng mười tháng ba âm lịch sẽ nhắc cho nhau về ngày giỗ Tổ của một dân tộc ngàn năm văn hiến với truyền thống dựng nước và giữ nước vững bền.

Câu ca dao cổ xưa: “Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày giỗ Tổ mùng 10 tháng Ba” được lưu truyền tự bao đời nay của người Việt Nam nhắc nhở con cháu các thế hệ nhớ về công lao dựng nước và giữ nước to lớn của các Vua Hùng, về cội nguồn dân tộc, về đạo lý truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn.

Như cô và các bạn đã biết, ngày giỗ Tổ Hùng Vương là ngày lễ lớn của cả dân tộc. Đây không chỉ là dịp để người dân Việt Nam nhớ về cội nguồn của mình mà còn là dịp để mỗi người thể hiện lòng biết ơn đối với các thế hệ cha ông đã có công xây dựng và bảo vệ đất nước.

Lễ hội Đền Hùng được tổ chức từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 10 tháng ba hàng năm tại núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Lễ hội được chia làm hai phần chính bao gồm: phần lễ và phần hội.

Trước hết, lễ giỗ đức Quốc Tổ Lạc Long Quân và lễ dâng hương tưởng niệm Tổ Mẫu u Cơ sẽ được tổ chức vào ngày mồng 6 tháng ba âm lịch. Đến ngày mồng 10, ngày chính của lễ hội, người dân sẽ tiến hành lễ rước kiệu và dâng hương trên đền Thượng. Rước kiệu vua xuất phát từ dưới chân núi, đi qua lần lượt các đền rồi kết thúc tại đền Thượng, nơi làm lễ dâng hương. Trong lễ dâng hương, người dân sẽ dâng lễ vật lên ban thờ các vị vua để thể hiện lòng thành của mình.

Sau tế lễ, có rất nhiều hoạt động sôi nổi, thú vị diễn ra như đánh trống đồng, đâm đuống tại khu vực nhà Công Quán, trình diễn Hát Xoan làng cổ, trình diễn múa rối nước. Một số hội thi và trò chơi dân gian được tổ chức càng làm cho bầu không khí của buổi lễ thêm phần náo nhiệt, tươi vui hơn, có thể kể đến như hội thi gói, nấu bánh chưng và giã bánh giầy, giải bơi chải trên hồ công viên Văn Lang,… Đây đều là những hoạt động được người dân và du khách tham quan mong chờ, tham gia, hưởng ứng.

Bởi mang trong mình những ý nghĩa thiêng liêng mà Lễ hội Đền Hùng đã trở thành biểu tượng văn hóa của dân tộc Việt Nam, mang giá trị văn hóa tâm linh sâu sắc, thể hiện đạo lí “uống nước nhớ nguồn” và tinh thần đoàn kết, gắn bó của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Là người dân nước Việt ai cũng biết câu ca:

Từ nhiều đời nay, trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, đã luôn hướng tới một điểm tựa của tinh thần văn hoá – đó là lễ hội Đền Hùng và Giỗ Tổ Hùng Vương, được tổ chức vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Giỗ Tổ Hùng Vương – từ rất lâu đã trở thành ngày Giỗ trọng đại của cả dân tộc, đã in đậm trong cõi tâm linh của mỗi người dân đất Việt. Dù ở phương trời nào, người Việt Nam đều nhớ ngày giỗ Tổ, đều hướng về vùng đít Cội nguồn – xã Hy Cương – Lâm Thao – Phú Thọ. Nơi đây chính là điểm hội tụ văn hóa tâm linh của dân tộc Việt Nam.

Từ ngàn đời nay Đền Hùng là nơi tưởng nhớ, tôn vinh công lao các Vua Hùng, là biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam. Người Việt Nam may mắn khi có chung một Tổ để hướng về, có chung một miền Đất Tổ để nhớ, có chung một đền thờ Tổ để tri ân. Ngày nay hàng năm, lễ hội Giỗ Tổ vẫn được tổ chức theo truyền thống văn hoá của dân tộc. Không chỉ để tưởng nhớ tổ tiên, Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng còn nhằm giáo dục truyền thống yêu nước “Uống nước nhớ nguồn”, biết ơn sâu sắc các Vua Hùng đã có công dựng nước và lớp lớp các bậc tiền nhân kiên cường chống giặc ngoại xâm giữ nước.

Ngày giỗ Tổ Hùng Vương là ngày hội chung của toàn dân, ngày mà mọi trái tim dầu ở muôn nơi vẫn đập chung một nhịp, mọi cặp mắt đều nhìn về cùng một hướng: Đền Hùng.

Lễ giỗ Tổ Hùng Vương cử hành vào ngày mồng mười tháng ba:

Lễ hội Đền Hùng là lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam. Từ thuở xa xưa có một đặc thù riêng là phần lễ nặng hơn phần hội. Tâm tưởng người về dự hội là hướng về tổ tiên, cội nguồn với sự tôn kính và lòng biết ơn sâu sắc (Uống nước nhớ nguồn). 41 làng xã thuộc tỉnh Phú Tha tham gia rước kiệu lễ dâng Tổ. Từ ngàn xưa, trên các cổ kiệu có bày lễ vật, đi kèm có phường bát âm tấu nhạc, cờ quạt, bát bửu, lọng che cùng chiêng trống.

Những làng ở xa thường phải rước 2-3 ngày mới tới”. “Xưa kia, việc cúng Tổ (cử hành) vào ngày 12 tháng 3 (âm lịch) hằng năm. Thường khi con cháu ở xa về làm giỗ trước một ngày, vào ngày 11 tháng 3 (âm lịch). Đến thời nhà Nguyễn định lệ 5 năm mở hội lớn một lần (vào các năm thứ 5 và 10 của các thập kỷ), có quan triều đình về cúng tế cùng quan hàng tỉnh và người chủ tế địa phương cúng vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch). Do đó ngày giỗ Tổ sau này mới là ngày 10 tháng 3 (âm lịch ) hàng năm”.

Những năm hội chính thì phần lễ gồm: Tế lễ của triều đình, sau đó là phần lễ của dân. Có 41 làng được rước kiệu từ đình làng mình tới Đền Hùng. Đó là những cuộc hành lễ thể hiện tính tâm linh và nhân văn sâu sắc. Các kiệu đều sơn son thếp vàng, chạm trổ tinh vi, được rước đi trong không khí vừa trang nghiêm vừa vui vẻ với sự tham gia của các thành phần chức sắc và dân chúng trong tiếng chiêng, trống, nhạc bát âm rộn rã một vùng. Phần hội gồm các trò chơi dân gian như đánh vật, đu tiên, ném còn, cờ người, bắn cung nỏ và đặc biệt là các đêm hát xoan, hát ghẹo – hai làn điệu dân ca độc đáo của vùng đất Châu Phong.

Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đánh dấu bước ngoặt lịch sử mới của dân tộc ta. Kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, nhất là đạo đức “uống nước nhớ nguồn” nên giỗ Tổ Hùng Vương năm 1946 – sau khi Chính phủ mới được thành lập – là một sự kiện hết sức đặc biệt, đáng ghi nhớ. Năm ấy, cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phó Chủ tịch nước, đã thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa lên làm lễ dâng hương tại Đền Hùng. Cụ mặc áo the, khăn xếp, khấn vái theo lễ tục cổ truyền và trang trọng dâng lên bàn thờ tấm bản đồ Việt Nam và thanh kiếm là hai vật báu nói lên ý chí của Chính phủ và nhân dân ta trước họa xâm lăng đang đe dọa trở lại.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, do chiến tranh ác liệt nên việc đèn hương nơi mộ Tổ do nhân dân vùng quanh Đền Hùng đảm nhiệm. Kháng chiến thắng lợi với thiên sử vàng Điện Biên Phủ (7-5-­1954), ngày 19-9-1954, tại Đền Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã căn dặn cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong trước khi về tiếp quản Thủ đô: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước“.

Lời căn dặn cũng là lời hứa quyết tâm ấy của vị đứng đầu đất nước, dân tộc đã được thực hiện vào mùa xuân 1975. Sau 30 năm gian khổ hy sinh, nhân dân ta đã quét sạch bọn xâm lược ra khỏi bờ cõi, giang san thống nhất, quy về một mối vẹn toàn. Có lẽ không một dân tộc nào trên thế giới có chung một gốc cội tổ tiên – một ngày giỗ Tổ như dân tộc ta. Từ huyền thoại mẹ Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, nửa theo cha xuống biển, nửa theo mẹ lên rừng đã khơi dậy ý thức về dân tộc, nghĩa đồng bào và gắn kết chúng ta thành một khối đại đoàn kết. Hai chữ đồng bào là khởi nguồn của yêu thương, đùm bọc, của sức mạnh Việt Nam.

Ngày nay việc tổ chức lễ hội Giỗ Tổ hàng năm vẫn được tổ chức theo truyền thống văn hoá của dân tộc. Vào những năm chẵn (5 năm một lần), Giỗ Tổ được tổ chức theo nghi lễ quốc gia, năm lẻ do tỉnh Phú Thọ tổ chức. Dù năm chẵn hay lẻ lễ hội Giỗ Tổ vẫn rất chặt chẽ, bao gồm hai phần lễ và hội.

Phần lễ được duy trì trang nghiêm trong các đền, chùa trên núi Hùng. Nghi thức dâng hương hoa của các đoàn đại biểu của Đảng, Chính phủ, các địa phương trong toàn quốc,… được tổ chức long trọng tại đền Thượng.

Từ chiều ngày mùng 9, làng nào được Ban tổ chức lễ hội cho phép rước kiệu dâng lễ đã tập trung tại nhà bảo tàng dưới chân núi, trên kiệu đặt lễ vật tế. Sáng sớm ngày mùng 10, các đoàn đại biểu tập trung ở một địa điểm tại thành phố Việt Trì, có xe tiêu binh rước vòng hoa dẫn đầu, diễu hành tới chân núi Hùng. Các đoàn đại biểu xếp hàng chỉnh tề đi sau kiệu lễ, lần lượt lên đền theo tiếng nhạc của phường bát âm và đội múa sinh tiền.

Tới trước thềm của “Điện Kính Thiên”, đoàn dừng lại, kính cẩn dâng lễ vào thượng cung đền Thượng. Một đồng chí lãnh đạo tỉnh là nguyên thủ quốc gia hoặc đại biểu đại diện Bộ Văn hoá), thay mặt cho tỉnh và nhân dân cả nước đọc chúc văn lễ Tổ. Toàn bộ nghi thức hành lễ được hệ thống báo chí, phát thanh truyền hình đưa tin hoặc tường thuật trực tiếp để đồng bào cả nước có thể theo dõi lễ hội. Đồng bào dâng lễ trong các đền, chùa trên núi, ai cũng có tâm nguyện cầu mong tổ tiên chứng giám, phù hộ độ trì cho con cháu.

Phần hội diễn ra tưng bừng, náo nhiệt xung quanh các đền, chùa và dưới chân núi Hùng. Lễ hội ngày nay có nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá hơn xưa. Các hình thức văn hoá truyền thống và hiện đại được đan xen nhau. Trong khu vực của hội, nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, văn hoá phẩm, các cửa hàng dịch vụ ăn uống, các khu văn hóa thể thao, được tổ chức và duy trì một cách trật tự, quy củ.

Các trò chơi văn hoá dân gian được bảo lưu có chọn lọc như: đu quay, đấu vật, chọi gà, bắn nỏ, rước kiệu, kéo lửa, nấu cơm thi, đánh cờ tướng (cờ người) Có năm còn diễn trò “Bách nghệ khôi hài”, “Rước chúa gái”, “Rước lúa thần” và trò “Trám” tại khu vực hội. Cạnh đó là sân khấu của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp: chèo, kịch nói, hát quan họ.

Hội ngày nay chính là nơi để thi tuyển và giao lưu văn hóa giữa các vùng. Các nghệ nhân người Mường mang đến lễ hội thanh âm của tiếng trống đồng một thời đóng trên đỉnh núi Hùng, gọi mặt trời làm mưa, làm nắng thuận hòa, cho mùa màng tốt tươi, muôn dàn hạnh phúc. Những làn điệu Xoan – Ghẹo với lời ca tinh tế, mượt mà đã đem tới cho lễ hội đền Hùng một nét đặc trưng, thấm đượm văn hóa vùng Trung du Đất Tổ.

Ngày này cả nước hướng về vùng Đất Tổ, người người trẩy hội Đền Hùng. Tổ tiên người Việt luôn muốn nhắc nhở con cháu: ai ai cũng nên làm tròn bổn phận, nhiệm vụ của mình, giữ đúng kỷ cương, vua ra vua, cha ra cha, con ra con thì gia đình sẽ yên ổn, xã hội được an cư lạc nghiệp phồn vinh, phát triển. Lời di huấn này không chỉ được nhắc nhở hằng năm thông qua ngày hội giỗ mà còn được khắc ghi trên trống đồng Đông Sơn, trống thiêng của dân tộc, gửi gắm trong biểu tượng mặt trời nằm rạng rỡ giữa trống đồng.

Thông qua ngày giỗ Tổ, Tổ tiên ta còn có hoài bão muốn nhắc nhở hậu thế những kế sách giữ nước an dân. Mấy nghìn năm trông coi và gìn giữ, đánh giặc và dựng xây, Đền Hùng đã trở thành biểu tượng của tinh thần dân tộc, là cội nguồn của sức mạnh, niềm tin, chói sáng của một nền văn hóa.

Không chỉ người Việt chúng ta tự hào về Đền Hùng và ngày giỗ Tổ , mà tìm vào những dòng lưu bút của các đoàn đại biểu quốc tế và bạn bè khắp năm châu bốn biển từng đến thăm viếng Đền Hùng, chúng ta thật sự xúc động khi được biết Đền Hùng và các di tích trên Nghĩa Lĩnh đã làm cho cả thế giới phải cúi đầu vị nể ý thức cội nguồn dân tộc của chúng ta. Nhiều dòng lưu bút thừa nhận. “Đền Hùng là nơi đặt nền móng cho lịch sử Việt Nam.

Lịch sử như một dòng chảy liên tục. Trải mấy nghìn năm, trước bao biến động thăng trầm, trong tâm thức của cả dân tộc, Đền Hùng và ngày giỗ Tổ 10-3 âm lịch vẫn là điểm của bốn phương tụ hội, nơi con cháu phụng thờ công đức Tổ tiên, là biểu tượng của dân tộc Việt Nam – một dân tộc đã có truyền thống dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm.

Truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của con người Việt Nam có từ nghìn xưa trở thành đạo lý và lẽ sống của các dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc nhưng ở đời nào, triều đại nào nhân dân ta đều không hề quên tổ chức lễ hội Đền Hùng. Đây là một lễ hội lớn mang tính quốc gia để tưởng nhớ các vua Hùng đã có công dựng nước.

Như vậy phong tục giỗ tổ Hùng Vương đã trở thành truyền thống văn hoá lâu đời ở nước ta. Đó là ngày hội toàn quốc, toàn dân và trong tâm thức dân gian Việt Nam nó mang tính thiêng liêng cao cả nhất. Vì thế mà lễ hội được tổ chức long trọng hàng năm với nghi thức đại lễ quốc gia, với sự hành hương “trở về cội nguồn dân tộc” của hàng chục vạn người từ khắp các nơi trong nước và kiều bào sống ở nước ngoài.

Khu di tích đền Hùng là một quần thể kiến trúc đẹp trên núi Nghĩa Lĩnh, tức núi Hùng, thuộc xã Huy Cương, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ. Khởi thủy các ngôi đền này đều được làm bằng đá để thờ các vị thần núi và các vị vua Hùng. Và từ đó đến nay, trải qua mấy nghìn năm lịch sử, qua các triều đại, các ngôi đền đều được nhân dân địa phương trông coi, sửa chữa, tôn tạo hoặc xây dựng để chống lại sự phong hoá của thời gian và do các cuộc chiến tranh tàn phá. Để có được những ngôi đền với diện mạo bề thế khang trang như ngày nay là kỳ tích và công sức của bao thế hệ con cháu duy tu bảo dưỡng. Các di tích này từ lâu đã trở thành một di sản văn hóa quý giá và là bảo tàng lịch sử của dân tộc ta.

Mỗi công trình kiến trúc của di tích đền Hùng đều hàm chứa nội dung huyền thoại hòa lẫn hiện thực, theo dòng lịch sử chảy trôi, làm cho người đi hội hôm nay như thấy quá khứ và hiện tại quyện vào nhau. Khí thiêng sông núi như tôn thêm cho ngày hội non sông thêm rạng rỡ. Từ cổng tiền lớn (Đai môn) dưới chân núi, bức đại tự phía trên mang dòng chữ “Cao sơn cảnh hàng” (Núi cao đường lớn) vui vẻ chào đón mọi người. Vượt 225 bậc xi măng, khách tới đền Hạ, nơi bà Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở thành trăm con trai.

Có lẽ đây là sự tích về nguồn gốc của người Việt Nam được cùng sinh ra một bọc. Vì vậy mà trong ngôn ngữ của ta, dân gian vẫn dùng hai tiếng “đồng bào” (cùng một bọc) cho đến tận ngày nay. Khi u Cơ sinh bọc trăm trứng thì Lạc Long Quân dẫn 50 người về xuôi còn u Cơ dẫn 49 con lên ngược, để lại người con trưởng làm vua, xưng là Hùng Vương, định đô ở Phong Châu. Vượt 168 bậc nữa là tới đền Trung. Tương truyền nơi đền Trung là chỗ xưa kia các vua Hùng thường họp bàn việc nước với các quan đại thần trong triều. Đây cũng là nơi nghỉ ngơi thoải mái của các vua Hùng cùng các tướng lĩnh sau những cuộc viễn du săn bắn dài ngày.

Cũng tại khu vực đền Thượng, vua Hùng Vương thứ 6 đã lập bàn thờ Thánh Gióng để tưởng niệm người anh hùng làng Phù Đổng. Và sự tích Thục Phán dựng hai cột đá thề, khi được vua Hùng Vương thứ 18 nhường ngôi cho và hứa tiếp tục sự nghiệp của các vua Hùng. Cạnh đền có ngôi mộ nhỏ, cổ kính được gọi là mộ Tổ. Đây chính là phần mộ của Hùng Vương thứ 6, dân gian dựa vào lời dặn của nhà vua lúc băng hà rằng: “Hãy chôn ta trên núi Cả, để đứng trên núi cao ta còn trông nom bờ cõi cho con cháu muôn đời về sau”.

Từ đền Thượng, phóng tầm mắt về phía trước, khách chiêm ngưỡng 99 ngọn núi lớn nhỏ, hình bầy voi quỳ hướng về núi Mẹ – Nghĩa Lĩnh – uy nghiêm – riêng một con quay lưng lại, “ăn ở ra lòng riêng tư”, đã bị mất đầu mãi mãi phải xa lìa bầy đàn, nguồn cội. Bài học bằng đá cho tới nay vẫn có giá trị nhắc nhở hậu thế về lòng hiếu nghĩa ở đời.

Trở xuống đền Hạ, chếch về phía Đông Nam là đền Giếng. Tục truyền rằng ở thời Hùng Vương thứ 18, có hai nàng công chúa tên là Tiên Dung và Ngọc Hoa, theo vua cha đi kinh lý qua đây thường hay đến giếng nước trong vắt chốn này để soi gương chải tóc. Cả hai nàng công chúa đều đẹp người, đẹp nết đã có công dạy dân trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm, phát triển buôn bán trao đổi, đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho muôn dân trăm họ. Nên để tưởng nhớ ơn hai vị công chúa, nhân dân đã xây dựng ngôi đền Giếng để thờ tự cúng lễ.

Di tích đền Hùng gắn liền với tục thờ các vị thần linh trọng tín ngưỡng dân gian đa thần, được dân trong các làng xã địa phương quanh khu đền Hùng thờ phụng. Chính sự trông nom, thờ cúng dân tộc ta từ bao đời nay đã phần nào chứng minh cho đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của Việt Nam vốn có từ lâu đời và trở thành phong cách độc đáo của dân tộc.

Lễ hội đền Hùng là dịp giỗ tổ thiêng liêng. Bởi vì trong tâm thức của mỗi người dân đất Việt đều tự hào là dòng giống Lạc Hồng, con Rồng cháu Tiên. Để rồi cứ mỗi độ xuân về người Việt lại nô nức hành hương về đất Tổ để tưởng nhớ công lao to lớn trong sự nghiệp mở nước và dựng nước, khai sáng nền văn minh Lạc Việt và lập nên nước Văn Lang cổ đại.

Hoặc là:

Hội đền Hùng kéo dài từ mùng 8 đến ngày 11 tháng 3 âm lịch, mà mùng 10 là chính hội. Cũng như mọi lễ hội khác ở đồng bằng Bắc Bộ, ở lễ hội đền Hùng gồm có 2 phần: Phần lễ và phần hội.

Phần tế lễ được cử hành rất trọng thể mang tính quốc lễ. Lễ vật dâng cúng là “lễ tam sinh” (1 lợn, 1 dê và 1 bò), bánh chưng, bánh dày và xôi nhiều màu, nhạc khí là trống đồng cổ. Sau khi một hồi trống đồng vang lên, các vị chức sắc vào tế lễ dưới sự điều khiển của chủ lễ. Tiếp theo đến các cụ bô lão của làng xã sở tại quanh đền Hùng vào tế lễ. Sau cùng là nhân dân và du khách hành hương vào tế lễ trong các đền thờ, tưởng niệm các vua Hùng.

Sau phần lễ là đến phần hội. Ở lễ hội đền Hùng năm nào cũng tổ chức cuộc thi kiệu của các làng xung quanh. Với sự xuất hiện của các đám rước linh đình mà không khí lễ hội trở nên tưng bừng náo nhiệt hơn. Các cỗ kiệu của các làng phải tập trung trước vài ngày thì mới kịp cuộc thi. Nếu như cỗ kiệu nào đoạt giải nhất của kỳ thi năm nay, thì đến kỳ hội sang năm được thay mặt các cỗ kiệu còn lại, rước lên đền Thượng để triều đình cử hành quốc lễ. Vì vậy, cỗ kiệu nào đoạt giải nhất thì đó là niềm tự hào và vinh dự lớn lao của dân làng ấy. Bởi họ cho rằng, đã được các vua Hùng cùng các vị thần linh phù hộ cho nhiều may mắn, nhân khang, vật thịnh…

Tuy nhiên, để có được đám rước các cỗ kiệu đẹp lộng lẫy phải chuẩn bị rất công phu và chu đáo từ trước. Những khó khăn vất vả của dân làng đã thôi thúc họ vượt qua được để đến với cái linh thiêng cao thượng và hướng về Tổ tiên giống nòi. Đó là đời sống tâm linh của dân chúng, được biểu hiện rõ nét qua một hình thức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng dân gian cổ truyền mang tính cộng cảm với cộng mệnh sâu sắc. Sinh hoạt văn hóa dân gian này đã thành nhu cầu không thể thiếu được đối với các cộng đồng làng xã cư trú quanh đền Hùng.

Mỗi một đám rước kiệu có 3 cỗ kiệu đi liền nhau. Chúng đều được sơn son thiếp vàng, chạm trổ rất tinh xảo. Sự bày biện trang trí trên cỗ kiệu cũng rất khéo léo và đẹp mắt. Cỗ kiệu đi đầu bày hương hoa, đèn nhang, trầu cau, chén nước và bầu rượu. Cỗ kiệu thứ 2 có đặt hương án, bài vị của Thánh, có lọng và quạt với nhiều sắc màu trang hoàng tôn nghiêm. Cỗ thứ 3 rước bánh chưng và bánh dày, 1 cái thủ lợn luộc để nguyên, đi sau 3 cỗ kiệu này là các vị quan chức và bô lão trong làng.

Các vị chức sắc thì mặc áo thụng theo kiểu các bá quan triều đình, còn các cụ bô lão cũng mặc áo thụng đỏ, hoặc mặc quần trắng, áo the, đầu đội khăn xếp. Trong hội đền Hùng, nhân ngày giỗ Tổ có tiến hành nghi lễ hát thờ (tục gọi là hát Xoan). Đây là một lễ thức rất quan trọng và độc đáo.

Dân gian truyền rằng hát Xoan xưa kia gọi là hát Xuân và điệu múa hát Xoan có từ thời Hùng Vương và được lưu truyền rộng rãi trong dân cư của các làng xã quanh vùng. Điệu múa hát Xoan này được nhiều người ưa thích, đặc biệt là bà Lan Xuân, vợ của vua Lý Thần Tông. Bà đã cảm nhận được âm hưởng dân ca đặc biệt và độc đáo của nó, nên bà đã cho sưu tầm và cải biên thành điệu hát thờ tại một số đền, đình làng thờ các vua Hùng.

Mở đầu, ông trùm phường Xoan Kim Đức – phường nổi tiếng – cùng chủ tế đứng trước hương án hát chúc bằng bài khấn nguyện. Sau đó là một kép trẻ đeo trống nhỏ trước ngực ra làm trò giáo trống, giáo pháo. Tiếp theo, bốn cô đào ra hát thơ nhang và dâng hương bằng giọng hát lề lối. Rồi đến những bài ca ngợi thánh thần kết thúc phần nghi lễ của Xoan.

Ở đền Hạ có hát ca trù (gọi là hát nhà tơ, hát ả đào). Đây cũng là loại hát thờ trước cửa đình trong dịp hội làng, do phường hát Do Nghĩa trình diễn.

Ngoài sân đền Hạ, ở nơi thoáng đãng có đu tiên. Mỗi bàn đều có hai cô tiên (cô gái Mường trẻ mặc đẹp) ngồi. Đu quay được là do các cô luân phiên lấy chân đạp đất. Đu tiên là trò chơi đẹp mắt, nhịp nhàng của phụ nữ. Xung quanh khu vực dưới chân núi Hùng là các trò diễn và trò chơi dân gian cổ truyền, diễn ra rất sôi động, được nhiều người tham dự như trò chơi ném côn, chơi đu, đấu vật, chọi gà,..

Những trò đánh cờ người và tổ tôm điếm được các cụ cao niên tâm đắc. Còn các đám trai gái tụm năm, tụm ba trên các đồi đó trổ tài hát ví, hát trống quân hoặc hát đối đáp giao duyên…Tối đến có tổ chức hát chèo, hát tuồng ở các bãi rộng ngay cửa đền Hạ hoặc đền Giếng… Không khí ngày hội vừa trang nghiêm phấn khởi, với hào hứng sôi nổi đã làm rung động tâm khảm trái tim bao người đến dự hội.

Lễ hội Đền Hùng là phong tục đẹp trong truyền thống của người dân đất Việt. Và từ rất lâu đời trong tâm thức dân gian, vùng đất Tổ đã trở thành “Thánh địa linh thiêng” của cả nước, nơi phát nguyên nguồn gốc dân tộc. Trải qua bao thời đại lịch sử tuy có lúc thịnh, lúc suy nhưng lễ hội đền Hùng vẫn được tổ chức. Điều này đã thể hiện rõ bản lĩnh phi thường và nền văn hiến rực rỡ, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.

Người dân hành hương về đất Tổ không hề có sự phân biệt tôn giáo, chỉ cần là người Việt Nam thì trong tâm khảm họ đều có quyền tự hào là con cháu muôn đời của vua Hùng. Bởi vậy, hễ ai là người Việt Nam nếu có sẵn tâm thành và lòng ham muốn hành hương về đất Tổ thì tự mình có thể thực hiện ước nguyện chính đáng đó một cách dễ dàng và thuận tiện.

Hội đền Hùng hay giỗ tổ Hùng Vương là ngày hội quần tụ, ca ngợi sự hưng thịnh của nòi giống, là biểu tượng của tinh thần cộng đồng. Người đến hội mang theo lòng ngưỡng mộ sâu đậm về quê cha đất tổ, một tín ngưỡng đã ăn sâu vào tâm thức người Việt Nam cho dù họ sống ở bất cứ phương trời nào.

Trong tiềm thức của mỗi người Việt Nam, về với Đền Hùng là cuộc hành hương trở về nguồn cội, tìm lại những dấu ấn lịch sử hào hùng thời Vua Hùng dựng nước:

Cụm di tích Đền Hùng trên một ngọn núi cao hùng vĩ. Bàn thờ Tổ được đặt trên ngọn núi Nùng (Nghĩa Lĩnh) thuộc thôn cổ Tích, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Núi Nùng cao 175m nổi lên án ngự vùng đồi Phong Châu Bạch Hạc. Đền Hùng là tên chung chỉ bốn ngôi đền và một ngôi lăng trên Núi Nùng. Từ cổng chính đi lên là Đền Hạ, theo truyền thuyết đây là nơi bà Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng nở ra một trăm người con tạo thành sức mạnh Việt Nam.

Lên nữa là Đền Trung nơi các vua Hùng bàn việc nước với các Lạc hầu, Lạc tướng và trên đỉnh núi là Đền Thượng với bốn chữ vàng “Nam Việt Triệu Tổ” (Tổ muôn đời nước Việt Nam). Đây là nơi Vua Hùng thờ Thánh Gióng và làm lễ tế trời đất cầu mưa gió thuận hòa, mùa màng tươi tốt, muôn dân ấm no. Cạnh Đền Thượng là ngôi Lăng nhỏ thường gọi là mộ Tổ mang ý nghĩa tượng trưng. Từ Lăng đi xuống về hướng Đông, dưới chân núi là Đền Gióng nơi xưa hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con Vua Hùng thứ 18 soi gương nước trang điểm, vì thế giếng còn có tên là Giếng Ngọc. Giếng ấy nay ở trong lòng đền.

Đứng trước Đền Thượng (đỉnh Hùng Sơn) nhìn ra tám phương bốn hướng, trải ra trước mắt một vùng trung du tươi đẹp và bạt ngàn đồi cây xanh tốt, lấp lánh ánh nước ngã ba sông. Những ngôi nhà mới và những nhà máy mọc lên khiến cho cảnh vật thêm sinh động. Con người cảm thấy thực sự nhỏ bé trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ nơi đây. Sự đổi thay của đất và người Phú Thọ đã tô điểm thêm vẻ đẹp cho khu di tích Đền Hùng lịch sử. Sừng sững phía Đông là dãy Tam Đảo chạy dài như bức trường thành.

Phía Tây chót vót ngọn Tản Viên trấn ngự. Sông Đà, sông Lô, sông Thao hợp nước chầu về Đền Hùng càng làm tăng vẻ hùng vĩ cho khu di tích: “Xem địa thê trùng trùng long hổ Tả đảo Sơn mà hữu Tản Viên Lô, Đà hai nước hai bên Giữa sông Thao thủy dòng trên Nhị Hà” Cố đô Văn Lang xưa, Nghĩa Lĩnh – Việt Trì là cái nôi của huyền thoại. Sông núi cỏ cây mang nặng hồn đất nước, đem đến cho khách thập phương những câu chuyện nửa thực nửa hư mà rất đẹp. Làng Lúa xưa là nơi Vua Hùng dạy dân trồng lúa. Các xã dọc sông Lô là nơi Vua Hùng đi săn cùng các Lang và các Mỵ Nương. Làng Hương Trầm, xã Lâu Thượng là nơi hoàng tử Lang Liêu làm ra bánh chưng, bánh dày dâng lễ chúc thọ Vua Hùng.

Ngã ba sông là nơi Vua Hùng thứ 18 lập lầu kén rể chọn chồng cho công chúa, nơi diễn ra cuộc so tài giữa thần Núi và thần Nước để giành người đẹp… “Tháng ba nô nức hội đền Là ngày giỗ Tổ bốn nghìn năm nay”. Về hội Đền Hùng là tìm về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, tìm về tuổi ấu thơ trong chiếc nôi với lời ru sông núi của mẹ Âu Cơ; là nhớ về tổ tiên một thời lập quốc với dấu tích của một thời đại Vua Hùng, về với Đền Hùng là về với nguồn cội, về với bản sắc văn hóa của người Việt Nam, cùng cầu chúc mọi điều tốt đẹp đến với tất cả mọi người.

Bất cứ những người con Việt Nam nào dù đi đâu về đâu cũng đều nhớ tới những giá trị văn hóa của dân tộc, nhớ tới những lễ hội tôn vinh chiến công, công sức dựng nước của mười tám vị vua Hùng- những người đã xây những nền móng đầu tiên của đất nước Việt Nam chúng ta. Do vậy, năm nào cũng thế, vào ngày mùng mười tháng ba âm lịch, cả nước đều hướng tới Đền Hùng- Phú Thọ. Đây là nơi thờ tụng những vị vua Hùng và là nơi tổ chức lễ hội vào những ngày này.

Nhà nước quy định, vào những năm chẵn sẽ được tổ chức theo nghi lễ của quốc gia còn những năm lẻ sẽ do tỉnh Phú Thọ phụ trách. Nhưng dù có ở năm nào đi chăng nữa thì vào những ngày này, mọi người ai cũng muốn được tới nơi đây để thể hiện tấm lòng thành kính của mình dâng lên cho tổ tiên và những người đi trước. Đây là một trong những lễ hội lớn nhất của đất nước chúng ta.

Lễ hội Đền Hùng và giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hằng năm vào ngày mùng mười tháng ba âm lịch. Những ngôi đền thờ các vị vua Hùng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Nơi đây thể hiện một cách vô cùng sâu sắc những hình thức sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống của nhân dân. Lễ hội được bắt đầu cũng từ chính thời đại của vua Hùng Vương trong quá trình dựng nước và giữ nước. Cũng chính bởi những lí do như vậy mà việc chúng ta suy trì lễ hội này và được tổ chức với quy mô lớn qua các năm càng chứng tỏ tấm lòng của nhân dân, những người thuộc thế hệ đi sau vẫn luôn nhớ tới với niềm biết ơn sâu sắc những vị cha ông ta đã hi sinh để bảo vệ cho đất nước.

Qua đây, chúng ta cũng nhận thấy một cách sâu sắc lòng yêu nước của dân tộc chúng ta. Trong những dịp lễ như thế này, chúng ta không thể nào quên được lễ hội Rước kiệu. Đây là một trong những công việc thể hiện sự nghiêm trang, kính lễ tới những người đã khuất. Không khí của buổi lễ vô cùng nghiêm túc, không hề có những hành động như cười đùa, nghịch ngợm. Mọi người sẽ nâng kiệu đi qua các đền và chùa ở trên núi Hùng. Trên đó là những lễ vật như xôi, gà, bánh chưng,… Đó đều là những món cúng truyền thống của dân tộc chúng ta. Tất cả sẽ được xếp một cách gọn gàng và đẹp đẽ ở trong năm bộ kiệu.

Advertisement

Đoàn rước kiệu thường được tổ chức một cách vô cùng trang nghiêm và cẩn thận. Thường thì đó chính là những người có sức khỏe tốt, ưa nhìn được xã lựa chọn. Họ đều mặc những đồng phục thống nhất và gọn gàng. Mỗi người lại mang những vũ khí thời xưa được phóng tác lại bằng gỗ như đao, chùy, cờ, long,.. để mô phỏng lại như thời ngày trước. Đoàn rước kiệu đi tới đâu, tiếng chiêng tiếng trống như rộn ràng tới đó. Sau đó, những đoàn đại biểu sẽ xếp hàng chỉnh tề để đi sau kiệu và cùng nhau lần lượt đi theo kiệu lên tới trên đỉnh.

Điểm dừng đầu tiên chính là “ Điện kính thiên”. Lúc ấy, cả đoàn dừng lại và thực hiện nghi lễ dâng hương. Cả bầu không khi như khẩn trương và trang nghiêm vô cùng. Mọi người ai cũng chăm chú để theo dõi quá trình dâng hương tới thần linh. Tiếp theo, mọi người đi vào trong thượng cung của đền Thượng. Đây là ngôi đền cao nhất và là ngôi đền chính trong số những đền ở đây. Do đó, tại nơi này, thường thì sẽ có một vị lãnh đạo đại diện cho nhân dân cả nước phát biểu cảm ơn những gì mà ông cha ra đã để lại, sau đó sẽ hứa cố gắng hơn cho những năm sau, cầu mong sự an lành và kinh tế đất nước phát triển.

Thường thì nghi lễ này sẽ được báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng theo dõi và phát lại trực tiếp để cho dân chúng cả nước cùng nhau theo dõi. Tất cả mọi người lúc này, ai nấy đều nói thầm những lời nguyện cầu từ trong trái tim của mình, mong nhận được sự phù hộ bình an của tất cả thần linh dành cho con cháu.

Sau phần lễ tế những vị vua Hùng là phần hội. Đây cũng là phần được mọi người rất yêu thích, nhất là với những người thuộc thế hệ trẻ. Mở màn năm nào hầu như cũng là phần thi kiệu của những làng ở xung quanh. Sự tham gia hào hững khiến cho không khí của mùa lễ hội như được dâng cao lên rất nhiều.

Bởi mọi người sẽ xem xét và chấm xem cỗ kiệu của làng nào là đẹp nhất thì năm sau, cỗ kiệu của làng đó sẽ được thay mắn những làng còn lại được rước lên đền Thượng làm lễ. Đó chính là niềm vinh dự vô cùng lớn lao đối với ngôi làng được giải nhất vì theo như tập tục cho rằng, ngôi làng có cỗ kiệu được chọn thì trong năm làm ăn sẽ gặp nhiều may mắn, được các Ngài phù hộ tốt lành. Qua đó, chúng ta thấy rõ được những đặc điểm trong đời sống tâm linh của những làng xã quanh chân núi Hùng nói riêng và toàn thể nhân dân Việt Nam nói chung.

Trong lễ hội, chúng ta sẽ dễ dàng được xem nghi lễ hát Xoan. Đây là nghi lễ vô cùng độc đáo mà chỉ nơi đây mới có bởi chiếu theo lịch sử thì đây là điệu múa hát được bà Lan Xuân vợ của vua Lý Thần Tông vô cùng yêu thích và có nhiều sự đóng góp giúp cho điệu hát này trở thành điệu hát thờ tại các đền thờ của vua Hùng. Không chỉ có hát Xoan mà ở đền Hạ còn có ca trù. Đây cũng là một loại hình ca hát truyền thống của dân tộc Việt Nam chúng ta.

Bên ngoài sân, mọi người cùng nhau tụ tập để chơi một số những trò chơi dân gian như đu quay, đánh cờ, chọi gà, đấu vật. Với rất nhiều những trò chơi khác nhau, những người đến thăm hội được thưởng thức bất cứ một loại hình nào mà mình yêu thích. Ví như những bạn trẻ thường chọn chơi đánh đu trên những đu quay làm bằng tre, nứa rất chắc chắn.

Buổi tối, những người yêu thích ca hát có thể cùng nhau tham gia những bài hát đối, hát giao duyên, hát chèo,… ngay tại sân của đền Hạ hoặc đền Giếng. Với biết bao những hoạt động bổ ích, hằng năm những lượt khách tới thăm đền Hùng là vô cùng nhiều. Ai cũng muốn được tới nơi thờ phụng tổ tiên của đất nước một lần để thể hiện tấm lòng thành kính.

Trải qua một quãng thời gian rất dài với biết bao thăng trầm trong lịch sử nhưng nhà nước vẫn cố gắng tổ chức lễ hội Đền Hùng tưởng nhớ tới những vị vua khai sáng ra nước Việt ta. Những người hành hương tới với nơi đây đều mang trong mình những niềm thành kính, mong muốn gửi lên tấm lòng chân thành của mình tới tổ tiên. Điều đó khiến cho chúng ta càng cảm thấy tự hào về nguồn gốc con Rồng cháu Tiên của dân tộc Việt Nam ta.

Tại đền thờ chính ở Phú Thọ ngày giỗ Tổ rất đông vui, dân chúng các nơi trên toàn quốc đổ về (kể cả các em tráng nhi cũng được đi theo), đội lễ vật lên đền dâng lễ nườm nượp, trước là dâng lễ tại đền thờ hai bà công chúa (Tiên Dung và Ngọc Dung) ở chân núi Nghĩa Lĩnh (còn gọi là núi Đền) đó là đền Hạ (còn gọi là đền Giếng vì có một giếng mạch nước trong và mát). Sau mới lên dâng lễ đền thờ Quốc lễ ờ lưng chừng núi là đền Trung (trước đền có nhà Bia và gần đền có chùa của xã Hy Cương) và cuối cùng là lên dâng lễ ở đền Thượng, tại đỉnh núi thờ 18 vị vua Hùng Vương, trước đền có bức hoành phi đề Việt Nam triều tổ, cạnh đền là Ngôi mộ tổ Hùng Vương (không rõ của vị vua nào). Từ đền Hạ lên đền Thượng phải leo 296 bực (bậc) đá.

Hội đền Hùng mở từ đầu tháng đến hết mùng 10 tháng 3 mới rã đám. Trong thời gian Hội có rước sách và các buổi tế lễ, mà lễ chính là buổi Quốc tế (Tế chính của Quốc gia) do đại diện của triều đình thường là vị chủ tỉnh Phú Thọ làm chủ tế có đông đủ quan chức địa phương tham dự và có các cuộc bách hí cổ truyền gồm leo dây, múa rối, đánh cờ, thi diều sáo, treo đèn (tháp đèn dọc từ đền Hạ tới đền Thượng tại chùa và các lăng miếu, ban đêm rất rực rỡ), đu tiên và đánh còn. Có ba thơ của cụ Văn Toàn Dương Tư Như, một bậc khoa bảng.

Tại lễ hội quốc Tổ, có các trò bách hí rất vui kể trên mà mọi người đều có thể tham dự nhưng đặc sắc nhất là có các tục nam thanh nữ tú trẩy hội vui vẻ tha hồ. nhưng nếu có thanh niên nào bờm xơm làm trò khiếm nhã để trêu chọc phụ nữ., nhất là các cô thôn nữ ở Phú Thọ, sẽ bị bắt bỏ rọ lợn vứt trước cửa đền Hạ 2 giờ trong ngày.

Sau 1975 một thời gian dài, lễ giỗ Tổ Hùng Vương không được coi là quốc lễ. nhưng kể từ năm 2003, Quốc hội thông qua việc coi giỗ tổ Hùng Vương là ngày Giỗ quốc tổ và đến 2007 nhà nước mới có nghị định chính thức coi lễ Giỗ tổ Hùng Vương là quốc lễ được nghỉ làm việc một ngày. Bây giờ ngày giỗ này lại được chính quyền địa phương (Phú Thọ) tổ chức long trọng vừa để thu hút khách du lịch vừa để dân chúng kể cả giới chức chính quyền (UBND tỉnh) có dịp đến chính thức kính lễ Quốc tổ như trước.

Gửi nén tâm hương thoả ước ao Rừng núi Hy Cương còn vẫn đó Cháu con Hồng Lạc hú quên sao Dân hai nhăm triệu dân như một.

Nước bốn ngàn năm nước khác nào Rạng với năm châu nòi giống Việt Công ơn Quốc tổ sánh trời cao.

Là người Việt Nam, không ai là không biết đến câu ca:

Lễ hội đền Hùng giỗ tổ Hùng Vương (được tổ chức ngày mồng mười tháng ba hàng năm) từ lâu đã trở thành một tục lệ trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, một điểm tựa của tinh thần văn hoá. Giỗ Tổ Hùng Vương từ rất lâu đã trở thành ngày lễ hội trọng đại của cả dân tộc. Dù ở phương trời nào, người Việt Nam đều nhớ ngày giỗ Tổ mà hướng về vùng đất Phú Thọ. Từ các triều đại phong kiến Việt Nam, Đinh Lý Trần Lê, Đền Hùng đã là nơi tưởng nhớ, tôn vinh công lao các Vua Hùng, là biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc ta.

Ngày này hàng năm, lễ hội đền Hùng vẫn được tổ chức theo truyền thống văn hoá của dân tộc. Không chỉ để tưởng nhớ tổ tiên cội nguồn, lễ hội Đền Hùng còn nhằm giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, ghi nhớ mười tám vị Vua Hùng đã có công dựng nước và lớp lớp các bậc tiền nhân kiên cường chống giặc ngoại xâm giữ nước.

Lễ hội đền Hùng được diễn ra vào ngày mồng mười tháng ba:

Từ thuở xưa lễ hội đền Hùng đã có một đặc thù riêng là phần lễ nặng hơn phần hội. Người về dự hội là hướng về tổ tiên với sự tôn kính và lòng biết ơn sâu sắc (Uống nước nhớ nguồn). Phần hội chỉ là phần phụ để không khí thêm vui tươi, náo nhiệt trong ngày này.

Phần lễ gồm tế lễ của triều đình sau đó là phần lễ của dân. 41 làng thuộc tỉnh Phú Thọ được rước kiệu từ đình làng mình đến Đền Hùng. Các kiểu đều được sơn son thếp vàng, chạm trổ đẹp mắt, được rước đi trong không khí vừa trang nghiêm vừa vui vẻ với tiếng chiêng, trống, nhạc bát âm rộn rã một vùng. Phần hội gồm các trò chơi dân gian như đánh vật, ném còn, cờ người, bắn cung nỏ… và đặc biệt nhất là các đêm hát xoan, hát ghẹo – hai làn điệu dân ca độc đáo riêng ở Châu Phong.

Vào những năm chẵn (5 năm một lần), giỗ Tổ được tổ chức theo đúng nghi lễ quốc gia, năm lẻ do tỉnh Phú Thọ tổ chức. Dù năm chẵn hay lẻ lễ hội Giỗ Tổ vẫn rất chặt chẽ, bao gồm hai phần lễ và hội. Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được khai sinh đánh dấu bước ngoặt lịch sử mới của dân tộc ta. Giỗ Tổ Hùng Vương năm 1946 là một sự kiện hết sức đặc biệt, đáng ghi nhớ.Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phó Chủ tịch nước bấy giờ, đã thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà lên làm lễ dâng hương tại Đền Hùng.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Lời căn dặn như lời hứa quyết tâm của vị lãnh tụ đứng đầu đất nước.

Có lẽ không một dân tộc nào trên thế giới có chung một ngày giỗ Tổ như dân tộc ta. Từ huyền thoại Âu Cơ và Lạc Long Quân đẻ ra trăm trứng, nửa theo Cha xuống biển, nửa theo mẹ lên rừng đã khơi dậy ý thức về dân tộc và gắn kết chúng ta thành một khối đại đoàn kết. Vì thế mà hai chữ đồng bào là khởi nguồn của yêu thương, đùm bọc, của sức mạnh Việt Nam.

Phần lễ được tổ chức trang nghiêm trong các đền, chùa trên núi Hùng. Nghi thức dâng hương, dâng hoa của các đoàn đại biểu của Đảng, Chính phủ, các địa phương trong toàn quốc,… được tổ chức trang nghiêm và long trọng tại đền Thượng. Từ chiều ngày mùng 9, làng được Ban tổ chức lễ hội cho phép rước kiệu dâng lễ đã tập trung đông đủ tại nhà bảo tàng dưới chân núi, trên kiệu đặt lễ vật. Sáng mồng 10, các đoàn đại biểu tập trung ở thành phố Việt Trì, xe tiêu binh rước vòng hoa dẫn đầu, diễu hành đến chân núi Hùng.

Tới trước thềm của “Điện Kính Thiên”, đoàn đại biểu kính cẩn dâng lễ vào thượng cung đền Thượng. Nguyên thủ quốc gia hoặc đại biểu đại diện Bộ Văn hoá, thay mặt cho tỉnh và nhân dân cả nước đọc chúc văn lễ Tổ. Toàn bộ nghi thức hành lễ được báo chí, truyền hình đưa tin hoặc tường thuật trực tiếp để đồng bào cả nước theo dõi lễ hội. Người đi lễ dâng lễ trong các đền, chùa trên núi, ai cũng có tâm nguyện cầu mong tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu.

Lễ hội ngày nay có nhiều hình thức diễn ra văn hoá hoá xưa. Các hình thức văn hoá được đan xen giữa truyền thống và hiện đại. Trong khu vực diễn ra hội, nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, văn hoá phẩm, các cửa hàng dịch vụ ăn uống, các khu văn hóa, thể thao,… được duy trì trong nhiều năm nay.

Các trò chơi văn hoá dân gian được duy trì đến ngày nay như: đu quay, đấu vật, chọi gà, kéo lửa, nấu cơm thi, đánh cờ tướng (cờ người)… Bên cạnh đó là sân khấu của các đoàn nghệ dân chuyên nghiệp: chèo, hát quan họ, kịch nói,… Đây chính là nơi để thi tuyển và giao lưu văn hoá giữa các vùng. Những làn điệu hát Xoan – Ghẹo với lời ca tinh tế mượt mà đã đem tới cho lễ hội một nét đặc trưng, thấm đượm văn hoá vùng đất Phú Thọ.

Tổ tiên người Việt Nam luôn muốn nhắc nhở con cháu: nên làm tròn bổn phận nhiệm vụ của mình, giữ kỷ cương, gia đình sẽ yên ổn, xã hội được an cư lạc nghiệp phồn vinh, phát triển. Lời dạy bảo này không chỉ được nhắc nhở hằng năm thông qua ngày hội giỗ mà còn được khắc ghi trên trống đồng Đông Sơn, biểu tượng thiêng của dân tộc, gửi gắm trong hình tượng mặt trời nằm rạng rỡ giữa trống đồng.

Thông qua lễ hội đền Hùng, tổ tiên ta còn muốn nhắc nhở hậu thế những kế sách giữ nước, yên dân. Suốt mấy nghìn năm trông coi và gìn giữ, đánh giặc và dựng xây, lễ hội đền Hùng đã trở thành biểu tượng của tinh thần, là cội nguồn của sức mạnh, chói sáng của một nền văn hóa.

Không chỉ người Việt chúng ta tự hào về Đền Hùng và ngày giỗ Tổ, mà nhìn vào những dòng lưu bút của các đoàn đại biểu quốc tế và bạn bè khắp năm châu bốn biển cũng đã từng đến thăm viếng Đền Hùng. Chúng ta thật sự tự hào khi được biết Đến Hùng và các di tích trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh đã làm cho cả thế giới phải cúi đầu vị nể ý thức cội nguồn dân tộc của chúng ta. Trong những dòng lưu bút thừa nhận. “Đền Hùng là nơi đặt nền móng cho lịch sử Việt Nam…”.

Lịch sử là một dòng chảy liên tục. Qua mấy nghìn năm, bao biến động thăng trầm, Đền Hùng và ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba âm lịch vẫn là điểm sáng của bốn phương tụ hội, nơi con cháu lưu công đức Tổ tiên, là biểu tượng của dân tộc và văn hóa Việt Nam – một dân tộc đã có truyền thống dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm.

Cập nhật thông tin chi tiết về Lập Dàn Ý Thuyết Minh Về Cái Quạt Điện trên website Krxx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!