Xu Hướng 2/2024 # 6 Bài Soạn “Phương Pháp Tả Cảnh” Lớp 6 Hay Nhất # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 6 Bài Soạn “Phương Pháp Tả Cảnh” Lớp 6 Hay Nhất được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Krxx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bài soạn “Phương pháp tả cảnh” số 4

I. Phương pháp viết văn tả cảnh

1 – Trang 45 SGK

Đọc ba văn bản sau:

a) Những động tác thả sào, rút sào rộn ràng nhanh như cắt. Thuyền cố lấn lên. Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ.

(Võ Quảng)

b) Thuyền chúng tôi chèo thoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông Cửa Lớn, xuôi về Năm Căn. Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận. Cây được mọc dài theo bãi, theo từng lứa trái rụng, ngọn bằng tăm tắp, lớp này chồng lên lớp kia ôm lấy dòng sông, đắp từng bậc màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ,… loà nhoà ẩn hiện trong sương mù và khói sóng ban mai.

(Đoàn Giỏi)

c)

LŨY LÀNG

Lũy làng là một vành đai phòng thủ kiên cố! Lũy làng có ba vòng bao quanh làng. Màu xanh là màu của lũy:

Lũy ngoài cùng, trồng tre gai, thứ tre gốc to, thân to nhưng ngoằn ngoèo không thẳng, cành rậm, đan chéo nhau. Mỗi nhánh tre lại có những gai tre nhọn hoắt, rất cứng, mà những ai bén mảng vào ven luỹ, vô ý giẫm phải, khêu nhổ cũng khá phiền.

Lũy tre ngoài cùng này không đốn, tre đời nọ truyền đời kia. Tre cụ, tre ông, tre bà, tre cha, tre mẹ, tre con, tre cháu, chút chít, chằng chéo bằng ngọn bằng tán, bằng cách ấy khiến con sẻ bay cũng không lọt…

Những gốc tre cứ to bự lên, chuyển thành màu mốc, khép kín vào nhau, thành bức tường thành bằng tre, mà với chiến tranh giáo mác, voi ngựa thuở xưa, muốn đột nhập vào làng chẳng dễ gì!

Lũy giữa cũng toàn tre nhưng là loại tre thẳng (tre hoá). Lũy trong cùng tre càng thẳng hơn. Tre hóa óng chuốt mọc thẳng, ngọn không dày và rậm như tre gai. Cả năm xanh một màu xanh thẫm, đầy sức sống. Và đến mùa đổi lá thì toàn bộ tán xanh chuyển thành một màu vàng nhạt. Khi những trận gió mùa đến lay gốc, cả một tầng lá trút xuống, bay theo từng dải vàng. Và trong tôi lưu đọng mãi một vẻ đẹp, một nỗi buồn, của một vật thể hết một vòng đời đang vùng vẫy, đắm đuối với trời cao, mây gió và ngang tàng với mưa bão, với lốc bụi phải trở về với đất, theo lẽ hoàn toàn tự nhiên. Tre luỹ làng thay lá… Mùa lá mới oà nở, thứ màu xanh lục, nắng sớm chiếu vào trong như màu ngọc, đẹp như loại cây cảnh quần thể, báo hiệu một mùa hè sôi động. Thân tre cứng cỏi, tán tre mềm mại. Mưa rào ập xuống, rồi trời tạnh, mối cánh, chuồn chuồn đan cài trong bầu trời đầy mây xốp trắng. Nhìn lên, những ngọn tre thay lá, những búp tre non kín đáo, ngây thơ, hứa hẹn sự trưởng thành, lòng yêu quê của con người được bồi đắp lúc nào không rõ!…

Dưới gốc tre, tua tủa những mầm măng. Măng trồi lên nhọn hoắt như một mũi gai khổng lồ xuyên qua đất lũy mà trỗi dậy, bẹ măng bọc kín thân cây non, ủ kĩ như áo mẹ trùm lần trong lần ngoài cho đứa con non nớt. Ai dám bảo thảo mộc tự nhiên không có tình mẫu tử?…

(Ngô Văn Phú)

2 – Trang 46 SGK

Học sinh đọc thật kĩ 3 văn bản trên để trả lời các câu hỏi phía dưới.

a*) Văn bản đầu miêu tả hình ảnh dượng Hương Thư, trong một chặng đường của cuộc vượt thác. Tại sao có thể nói, qua hình ảnh nhân vật, ta có thể hình dung được những nét tiêu biểu của cảnh sắc ở khúc sông có nhiều thác dữ?

b) Văn bản thứ hai tả quang cảnh gì? Người viết đã miêu tả cảnh vật ấy theo một thứ tự nào?

c) Văn bản thứ ba là một bài văn miêu tả có ba phần tương đối trọn vẹn. Em hãy chỉ ra và tóm tắt các ý của mỗi phần. Từ dàn ý đó hãy nhận xét về thứ tự miêu tả của tác giả trong đoạn văn (miêu tả từ trên xuống dưới, từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ khái quát đến cụ thể hay theo thứ tự thời gian…).

Trả lời

a) Miêu tả Dượng Hương Thư làm nổi bật cảnh thác dữ

– Hoạt động nhanh, gấp rút: “nhanh như cắt” thả, rút sào

– Ngoại hình: Như một pho tượng đồng đúc, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa trên ngọn sào.

– Sử dụng biện pháp so sánh: hiện lên cảnh thác dữ, cảnh thiên nhiên hùng vĩ.

b) Đoạn văn miêu tả dòng sông Năm Căn và rừng đước

– Tác giả miêu tả từ gần đến xa, từ thấp đến cao

– Hình ảnh so sánh độc đáo, chi tiết miêu tả sinh động: nước ầm ầm đổ ra biển đêm ngày như thác, cá bơi hàng đàn như người bơi ếch, đước dựng đứng như dãy tường thành dài vô tận…

c) Miêu tả lũy tre bao quanh làng

– Từ đầu đến “… màu của lũy”: giới thiệu về lũy làng

– Tiếp đến “… lúc nào không rõ”: miêu tả các vòng của lũy

– Còn lại: cảm nghĩ về tình cảm của thảo mộc.

II. Luyện tập

1 – Trang 47 SGK

a) Em sẽ quan sát và lựa chọn những hình ảnh cụ thể, tiêu biểu nào cho quang cảnh ấy?

b) Em định miêu tả quang cảnh ấy theo thứ tự như thế nào?

c) Hãy viết mở bài và kết bài cho bài văn này.

a) Tả quang cảnh lớp học trong giờ viết tập làm văn:

– Hình ảnh trong lớp học: thầy cô, cảnh không gian lớp, đồ vật trong lớp, các bạn học sinh. Đặc tả một vài bạn nổi bật.

b) Thứ tự miêu tả: Theo trình tự thời gian, từ khi có trống vào lớp tới khi phát đề, các bạn làm bài, cuối cùng giáo viên thu bài.

c) Mở bài: Giờ tập làm văn luôn là giờ học được mong đợi nhất trong lớp của em nên bạn nào bạn nấy cũng hào hứng, sôi nổi chờ cô phát đề. Đó là giờ học rèn cho chúng em thỏa sức “viết lách” xây dựng bài văn, đoạn văn của riêng mình.

2 – Trang 47 SGK

Nếu phải tả quang cảnh sân trường trong giờ ra chơi thì trong phần thân bài em sẽ miêu tả theo thứ tự nào (theo thứ tự không gian: từ xa tới gần hay theo thứ tự thời gian: trước, trong và sau khi ra chơi)? Hãy lựa chọn một cảnh của sân trường trong giờ ra chơi ấy để viết thành một đoạn văn miêu tả.

Trình tự tả quang cảnh giờ ra chơi:

+ Sân trường vắng lặng

+ Tiếng trống báo hiệu, học sinh ùa ra chơi

+ Có tốp chơi đá cầu, nhảy dây, có nhóm đứng nói chuyện…

+ Tả màu sắc, khung cảnh bầu trời, cây cối

Đoạn văn mẫu:

Giờ ra chơi, mọi người ùa ra sân tíu tít như bầy chim non rời tổ. Phía trước cửa lớp em sân trường được chọn làm nơi đủ trò thú vị như nhảy dây, đá cầu, ô keo… Các bạn nữ lúc nào cũng nhanh nhảu “chiếm” phần hơn trên khoảng sân đó để làm nơi nhảy dây. Đôi khi sự hò reo của các bạn nữ khi chơi khiến các bạn nam hào hứng cùng tham gia: đội nam và đội nữ. Khi chơi vui vẻ như vậy, em lại thấy lớp mình đoàn kết, gần gũi nhau hơn. Những giờ ra chơi này sẽ mãi là kỉ niệm đẹp trong lòng mỗi đứa học trò như chúng em.

3 – Trang 47, 48 SGK

Hãy đọc kĩ đoạn văn sau và rút lại thành một dàn ý.

BIỂN ĐẸP

Buổi sớm nắng sáng. Những cánh buồm nâu trên biển được nắng chiếu vào hồng rực lên như đàn bướm múa lượn giữa trời xanh.

Lại đến một buổi chiều, gió mùa đông bắc vừa dừng. Biển lặng, đỏ đục, đầy như mâm bánh đúc, loáng thoáng những con thuyền như những hạt lạc ai đem rắc lên trên.

Rồi một ngày mưa rào. Mưa dăng dăng bốn phía. Có quãng nắng xuyên xuống biển óng ánh đủ màu: xanh lá mạ, tím phớt, hồng, xanh biếc,… Có quãng thâm sì, nặng trịch. Những cánh buồm ra khỏi cơn mưa, ướt đẫm, thẫm lại, khỏe nhẹ bồi hồi, như ngực áo bác nông dân cày xong thửa ruộng về bị ướt.

Có buổi nắng sớm mờ, biển bốc hơi nước, không nom thấy đảo xa, chỉ một màu trắng đục. Không có thuyền, không có mây, không có sắc biếc của da trời.

Một buổi chiều lạnh, nắng tắt sớm. Những đảo xa lam nhạt pha màu trắng sữa. Không có gió mà sóng vẫn vỗ đều đều, rì rầm. Nước biển dâng đầy, quánh đặc một màu bạc trắng, lấm tấm những bột phấn trên da quả nhót.

Chiều nắng tàn, mát dịu. Biển xanh veo màu mảnh trai. Đảo xa tím pha hồng. Những con sóng nhè nhẹ liếm trên bãi cát, bọt sóng màu bưởi đào.

Mặt trời xế trưa bị mây che lỗ chỗ. Những tia nắng dát vàng một vùng biển tròn, làm nổi bật những cánh buồm duyên dáng, như ánh sáng chiếc đèn sân khấu khổng lồ đang chiếu cho các nàng tiên trên biển múa vui.

Thế đấy, biển luôn thay đổi màu tùy theo sắc mây trời. Trời xanh thắm, biển cũng thắm xanh, như dâng cao lên, chắc nịch. Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương. Trời âm u mây mưa, biển xám xịt, nặng nề. Trời ầm ầm, biển đục ngầu giận dữ… Như một con người biết buồn vui, biển lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc sôi nổi, hả hê, lúc đăm chiêu, gắt gỏng.

Biển nhiều khi rất đẹp, ai cũng thấy như thế. Nhưng có một điều ít ai chú ý là: vẻ đẹp của biển, vẻ đẹp kì diệu muôn màu, muôn sắc ấy phần lớn là do mây, trời và ánh sáng tạo nên …

(Vũ Tú Nam)

Dàn ý của bài Biển đẹp em có thể rút ra như sau:

– Mở bài: Giới thiệu biển đẹp qua: Cảnh biển buổi sớm mai

– Thân bài:

+ Cảnh biển buổi chiều (biển lặng, đục ngầu, đầy như mâm bánh đúc)

+ Biển trong ngày mưa rào

+ Biển chiều lạnh nắng tắt sớm

+ Sự thay đổi màu sắc tùy thuộc vào màu sắc mây trời…

– Kết bài: Nguồn gốc của hình ảnh biển đẹp.

Ghi nhớ

Muốn tả cảnh cần:

Mở bài: giới thiệu cảnh được tả;Thân bài: tập trung tả cảnh chi tiết theo một trình tự;Kết bài: thường phát biểu cảm tưởng về nhân vật đó.

Bài soạn “Phương pháp tả cảnh” số 3

Bài soạn “Phương pháp tả cảnh” số 4

I. PHƯƠNG PHÁP VIẾT ĐOẠN VĂN TẢ CẢNH

1. Đọc ba đoạn văn trang 45-46 sgk ngữ văn 6 tập 2

Câu hỏi:

a) Văn bản đầu miêu tả hình ảnh dượng Hương Thư, trong một chặng đường của vượt thác. Tại sao có thế nói, qua hình ảnh nhân vật, ta có thể hình dung được những nét tiêu biểu ở khúc sông có nhiều thác dữ?

c) Văn bản thứ ba là một bài văn miêu tả có ba phần tương đối trọn vẹn. Em hãy chỉ ra và tóm tắt các ý của mỗi phần. Từ dàn ý đó hãy nhận xét về thứ tự miêu tả của tác giả trong đoạn văn.

Trả lời câu hỏi :

a) Hình ảnh dượng Hương Thu hiện lên trong đoạn văn với ngoại hình “ như một pho tượng đồng đúc, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào” cùng với những động tác thuần thục “thả sào, rút sào nhanh như cắt” và thêm vào đó là nghệ thuật so sánh mà tác giả lồng ghét vào cho người đọc phần nào hình dung đươc cảnh sắc ở khúc sông có nhiêu thác dữ và người vượt thác đã phải đem hết gân sức, tinh thần để chiến đấu cùng thác dữ ấy.

b) Đoạn văn tả cảnh dòng sông Năm Căn.

Người viết đã miêu tả cảnh theo trình tự từ dưới sông hai lên bờ, từ gần đến xa. Đây là trình tự của quan sát.

Phần thứ hai: từ “lũy ngoài cũng” đến “không rõ”.

Phần thứ ba: Còn lại

Ghi nhớ:

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: Trang 47 sgk ngữ văn 6 tập 2

Buổi chiều gió mùa đông bắc

Ngày mưa rào

Buổi nắng nhẹ

Chiều lạnh

Chiều nắng tan

Mặt trời xế trưa

Biến đổi màu theo sắc mây trời

Bài soạn “Phương pháp tả cảnh” số 3

Bài soạn “Phương pháp tả cảnh” số 1

Bài soạn “Phương pháp tả cảnh” số 3

Câu 1 (trang 46 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Đọc 3 văn bản trang 46 sgk Văn 6 tập 2.

Câu 2 (trang 46 ngữ văn 6 tập 2):

a, Miêu tả Dượng Hương Thư làm nổi bật cảnh thác dữ

– Hoạt động nhanh, gấp rút: “nhanh như cắt” thả, rút sào

– Ngoại hình: Như một pho tượng đồng đúc, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa trên ngọn sào.

– Sử dụng biện pháp so sánh: hiện lên cảnh thác dữ, cảnh thiên nhiên hùng vĩ.

b, Đoạn văn miêu tả dòng sông Năm Căn và rừng đước

– Tác giả miêu tả từ gần đến xa, từ thấp đến cao

– Hình ảnh so sánh độc đáo, chi tiết miêu tả sinh động: nước ầm ầm đổ ra biển đêm ngày như thác, cá bơi hàng đàn như người bơi ếch, đước dựng đứng như dãy tường thành dài vô tận…

c, Miêu tả lũy tre bao quanh làng

– Từ đầu… màu của lũy: giới thiệu về lũy làng

– Tiếp … lúc nào không rõ: miêu tả các vòng của lũy

– Còn lại: cảm nghĩ về tình cảm của thảo mộc

LUYỆN TẬP

Bài 1 (trang 47 sgk ngữ văn 6 tập 2):

a, Tả quang cảnh lớp học trong giờ viết tập làm văn:

– Hình ảnh trong lớp học: thầy cô, cảnh không gian lớp, đồ vật trong lớp, các bạn học sinh. Đặc tả một, vài bạn nổi bật.

b, Thứ tự miêu tả: Theo trình tự thời gian, từ khi có trống vào lớp tới khi phát đề, các bạn làm bài, cuối cùng giáo viên thu bài.

c, Mở bài: Giờ tập làm văn luôn là giờ học được mong đợi nhất trong lớp của em nên bạn nào bạn nấy cũng hào hứng, sôi nổi chờ cô phát đề. Đó là giờ học rèn cho chúng em thỏa sức “viết lách” xây dựng bài văn, đoạn văn của riêng mình.

– Kết bài : Giọng nói rõ ràng của cô giáo thông báo hết giờ làm bài. Các cây bút đồng loạt buông xuống bắt đầu những lời bàn tán sôi nổi mọi phía trong lớp. Cô kết thúc giờ kiểm tra trên tay xấp giấy cứ dày lên theo mỗi bước chân.

Bài 2 (trang 47 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Đoạn văn: Giờ ra chơi, mọi người ùa ra sân tíu tít như bầy chim non rời tổ. Phía trước cửa lớp em sân trường được chọn làm nơi đủ trò thú vị như nhảy dây, đá cầu, ô keo… Các bạn nữ lúc nào cũng nhanh nhảu “chiếm” phần hơn trên khoảng sân đó để làm nơi nhảy dây. Đôi khi sự hò reo của các bạn nữ khi chơi khiến các bạn nam hào hứng cùng tham gia: đội nam và đội nữ. Khi chơi vui vẻ như vậy, em lại thấy lớp mình đoàn kết, gần gũi nhau hơn. Những giờ ra chơi này sẽ mãi là kỉ niệm đẹp trong lòng mỗi đứa học trò như chúng em.

Bài 3 (trang 47 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Dàn ý của bài Biển đẹp diễn ra:

Mở bài: cảnh biển buổi sớm mai

Thân bài:

Buổi chiều (biển lặng, đục ngầu, đầy như mâm bánh đúc)

Kết bài: Nguồn gốc của hình ảnh biển đẹp

Bài soạn “Phương pháp tả cảnh” số 6

Bài soạn “Phương pháp tả cảnh” số 1

I – Phương pháp viết văn tả cảnh

Câu 1 : Đọc ba văn bản sau (SGK – trang 45)

Câu 2 : Trả lời các câu hỏi

a) Văn bản đầu miêu tả hình ảnh dượng Hương Thư, trong một chặng đường của cuộc vượt thác. Tại sao có thể nói, qua hình ảnh nhân vật, ta có thể hình dung được những nét tiêu biểu của cảnh sắc ở khúc sông có nhiều thác dữ ?

b) Văn bản thứ hai tả quang cảnh gì ? Người viết đã miêu tả cảnh vật ấy theo một thứ tự nào ?

c) Văn bản thứ ba là một bài văn miêu tả có ba phần tương đối trọn vẹn. Em hãy chỉ ra và tóm tắt các ý của mỗi phần. Từ dàn ý đó hãy nhận xét về thứ tự miêu tả của tác giả trong đoạn văn (miêu tả từ trên xuống dưới, từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ khái quát đến cụ thể hay theo thứ tự thời gian …).

Trả lời :

a) Miêu tả Dượng Hương Thư làm nổi bật cảnh thác dữ :

II – Luyện tập

a) Em sẽ quan sát và lựa chọn những hình ảnh cụ thể, tiêu biểu nào cho quang cảnh ấy ?

b) Em định miêu tả quang cảnh ấy theo thứ tự như thế nào ?

Quang cảnh trong giờ viết tập làm văn

a) Những hình ảnh tiêu biểu :

– Hoạt động của cô : ghi bảng, phát đề, …

– Hoạt động của học sinh : chuẩn bị giấy, tập trung làm bài, …

b) Theo thứ tự thời gian :

– Bắt đầu đọc (chép, phát) đề

– Làm bài

– Chuông (trống) báo hết giờ

c) – Mở bài : Sau hồi chuông báo hết giờ ra chơi giữa buổi, không như mọi khi vẫn còn một số bạn nhởn nhơ đi vào, cả lớp đã ngồi yên lặng để chờ cô giáo. Đây là tiết kiểm tra môn văn đầu tiên ở học kì hai của chúng em.

– Kết bài : Phải nấn ná chừng hai phút sau thì cô mới thu gom được đầy đủ “tác phẩm” của chúng em. Không khi cả lớp như ong vỡ tổ. Ai cũng tranh nhau nói, mặt ai nấy đều lấm tấm mồ hôi. Đa số ai cũng làm bài tốt bởi gương mặt người bạn nào cũng rạng rỡ.

Câu 2 : Nếu phải tả quang cảnh sân trường trong giờ ra chơi thì trong phần thân bài em sẽ miêu tả theo thứ tự nào (theo thứ tự không gian : từ xa tới gần hay theo thứ tự thời gian: trước, trong và sau khi ra chơi) ? Hãy lựa chọn một cảnh của sân trường trong giờ ra chơi ấy để viết thành một đoạn văn miêu tả.

Câu 3 : Hãy đọc kĩ đoạn văn sau và rút lại thành một dàn ý. (Đoạn văn trong SGK – trang 47).

Dàn ý

Bài soạn “Phương pháp tả cảnh” số 2

Bài soạn “Phương pháp tả cảnh” số 6

Phần I: PHƯƠNG PHÁP VIẾT VĂN TẢ CẢNH

Trả lời câu 1 + 2 (trang 45 sgk Ngữ Văn 6 Tập 2):

Đọc ba văn bản tr 45-46 SGK Ngữ văn 6 tập 2. Trả lời câu hỏi:

Trả lời:

a) Miêu tả Dượng Hương Thư làm nổi bật cảnh thác dữ:

– Tác giả miêu tả từ gần đến xa, từ thấp đến cao.

– Hình ảnh so sánh độc đáo, chi tiết miêu tả sinh động: nước ầm ầm đổ ra biển đêm ngày như thác, cá bơi hàng đàn như người bơi ếch, rừng đước dựng đứng như dãy tường thành dài vô tận…

c) Đoạn văn của Ngô Văn Phú có 3 phần:

– Phần mờ đầu: từ “Luỹ làng là một vành đai” đến “màu của luỹ”: Giới thiệu khái quát vể luỹ tre làng (phẩm chất, hình dáng và màu sắc).

– Phần thứ hai: tiếp theo đến “không rõ”: Lần lượt miêu tả cụ thể ba vòng tre của luỹ làng.

– Phần ba: Còn lại: cảm nghĩ về tình cảm của thảo mộc

* Trình tự miêu tả:

Tác giả miêu tả từ khái quát đến cụ thể, từ ngoài vào trong (trình tự không gian ).

Phần II: LUYỆN TẬP

Trả lời câu 1 (trang 47 sgk Ngữ Văn 6 Tập 2):

Nếu phải tả quang cảnh lớp học trong giờ viết bài tập làm văn thì em sẽ miêu tả như thế nào?

Lời giải chi tiết:

– Chọn những hình ảnh tiêu biểu: cô giáo (thầy giáo), không khí lớp, quang cảnh chung của phòng học (bảng đen, bốn bức tường, bàn, ghế …), các bạn (tư thế, thái độ, công việc chuẩn bị viết bài …), cảnh viết bài, cảnh ngoài sân trường, …

– Miêu tả theo thứ tự nào cũng được, sao cho hợp lí, chẳng hạn theo thứ tự: từ ngoài vào trong lớp; từ phía trên bảng, cô giáo xuống lớp; từ không khí chung của lớp học đến bản thân người viết…

– Viết mở bài và kết bài

Mở bài: Trong những giờ học, có lẽ giờ viết bài tập làm văn là giờ mà chúng tôi yêu thích nhất. Chúng tôi có thể thoải mái sáng tạo, thoải mái thể hiện cá tính của mình trong từng câu chữ. Bởi vậy, mỗi lần đến tiết viết bài không khí của lớp trở nên sôi nổi, hào hứng hẳn lên.

Kết bài: Giờ viết bài tập làm văn thật lí thú và sôi động. Ai ai cũng hứng khởi vì vừa tạo ra một tác phẩm do chính mình sáng tác. Giờ tập làm văn cũng là khoảng thời gian quý báu giúp chúng tôi rèn luyện kĩ năng viết lách của bản thân. Tôi hi vọng có nhiều giờ viết văn hơn nữa, để tôi cũng như các bạn được rèn luyện, tăng cường khả năng viết bài.

Trả lời câu 2 (trang 47 sgk Ngữ Văn 6 Tập 2):

Nếu phải tả quang cảnh sân trường trong giờ ra chơi thì trong phần thân em sẽ miêu tả theo thứ tự nào?

* Tả theo trình tự thời gian:

– Trước giờ ra chơi, sân trường yên ắng, tĩnh mịch.

– Trong giờ ra chơi:

+ Trống hết hai tiết, báo giờ ra chơi đã tới.

+ Học sinh từ các lớp ùa ra sân.

+ Cảnh học sinh chơi đùa.

+ Các trò chơi quen thuộc.

+ Cảnh giữa sân, các phía, góc sân.

+ Trống vào lớp, học sinh về lớp.

– Sân trường sau khi ra chơi trở về vẻ yên tĩnh vốn có.

* Tả theo trình tự không gian:

– Các trò chơi ở giữa sân, các góc sân.

– Một trò chơi đặc sắc, mới lạ, sôi động.

Trả lời câu 3 (trang 47 sgk Ngữ Văn 6 Tập 2):

Hãy đọc kĩ đoạn văn tr.47-48 SGK Ngữ văn 6 tập 2 và rút lại thành một dàn ý.

– Mở bài: cảnh biển buổi sớm mai

+ Buổi chiều (biển lặng, đục ngầu, đầy như mâm bánh đúc)

– Kết bài: Nguồn gốc của hình ảnh biển đẹp

Bài soạn “Phương pháp tả cảnh” số 2

Bài soạn “Phương pháp tả cảnh” số 5

Bài soạn “Phương pháp tả cảnh” số 2

1. Phương pháp viết văn tả cảnh

Câu hỏi trang 46 SGK văn 6 tập 2

a) Văn bản đầu tiền tả hình ảnh dượng Hương Thư trong một chặng đường của cuộc vượt thác. Nói qua hình ảnh nhân vật ta có thể hình dung được những nét tiêu biểu ở cảnh sắc của khúc sông có nhiều thác dữ vì:

Luyện tập

Câu 1 trang 47 SGK văn 6 tập 2

Nếu phải tả quang cảnh lớp học trong giờ viết tập làm văn thì:

a) Quan sát lựa chọn hình ảnh tiêu biếu là: giáo viên, các học trò, quanh cảnh lớp học

b) Thứ tự miêu tả các cảnh:

Câu 2 trang 47 SGK văn 6 tập 2

Trên sân trường, mọi người nhanh chóng tản ra thành từng nhóm để chơi đùa, lúc này không còn nhìn ra bạn nào là học sinh lớp nào, ai cũng như chú chim non hồn nhiên trong nắng. Bên kia một tốp chơi đá cầu, xa xa là một tốp chơi nhảy dây. Phía những tán lá bang tỏa rộng nơi góc sân trường thì hiện ra những khuôn mặt thanh tú đang ngồi học bài hay đọc sách. Cả sân trường như bừng lên không phải vì nắng mà là tiếng cười nói râm ran không ngớt tạo cho không gian bầu không khí vui tươi, trẻ trung, năng động, mọi năng lượng như được thức tỉnh vì sự vui tươi ấy.

Câu 3 trang 47 SGK văn 6 tập 2

Bố cục văn bản “Biển đẹp”:

Mở bài: Giới thiệu vẻ đẹp của cảnh biển.

Đăng bởi: Đậu Đậu

Từ khoá: 6 Bài soạn “Phương pháp tả cảnh” lớp 6 hay nhất

6 Bài Soạn “Nói Quá” Hay Nhất

Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự việc, hiện tượng được miêu tả dùng để nhấn mạnh, gây ấn tượng và tăng sức biểu cảm. Vậy khi nào nên dùng nói quá, và nói quá có tác dụng gì, sử dụng như nào mới hợp lí? Mời các bạn tham khảo một số bài soạn “Nói quá” trong chương trình Ngữ văn lớp 8 để hiểu rõ hơn điều này và chuẩn bị kiến thức tốt nhất trước khi lên lớp.

Bài soạn “Nói quá” số 5

I. NÓI QUÁ VÀ TÁC DỤNG CỦA NÓI QUÁ

Đọc các câu tục ngữ, ca dao và trả lời câu hỏi.

1. Nói Đêm tháng Năm chưa nằm đã sáng. Ngày tháng Mười chưa cười đã tối; Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày là quá sự thật, là phóng đại mức độ và tính chất nội dung nhằm nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm. Hai câu đầu ngụ ý đêm tháng Năm rất ngắn, ngày tháng Mười rất ngắn. Câu cuối ngụ ý, lao động của người nông dân hết sức vất vả.

2. Nói quá trong các trường hợp trên là một biện pháp tu từ nhằm tăng giá trị biểu cảm.

Ghi nhớ: Nói quá là một biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

II. LUYỆN TẬP

♦ Bài tập 1

a) Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

b) Em có thể đi lên đến tận trời.

c) Thét ra lửa.

♦ Bài tập 2

a) Ở nơi chó ăn đá, gà ăn sỏi thế này, cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.

b) Nhìn thấy tội ác của giặc, ai ai cũng bầm gan tím ruột.

c) Cô Nam tính tình xởi lởi ruột để ngoài da.

d) Lời khen của cô giáo làm cho nó nở từng khúc ruột.

e) Bọn giặc hoảng hồn vắt chân lên cổ mà chạy.

♦ Bài tập 3

Đặt câu với thành ngữ:

– Tả tài sắc Thúy Kiều, Nguyễn Du viết: “Một hai nghiêng nước nghiêng thành. Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”.

– Kẻ trượng phu xưa thường mơ chuyện dời non lấp biển.

– Những việc lấp biển vá trời dành cho kẻ anh hùng hào kiệt.

– Chúng tôi là người chứ đâu phải mình đồng da sắt. Chúng tôi thử hành hạ các ông thế này một buổi xem các ông có chịu nổi không.

(Nguyễn Dức Thuận – Bất khuất)

– Tôi nghĩ nát óc vẫn không tìm được đáp số bài toán.

♦ Bài tập 4

Năm thành ngữ so sánh dùng biện pháp nói quá:

– Ngáp như sấm.

– Lớn như thổi.

– Đen như cột nhà cháy.

– Nói như két.

♦ Bài tập 5

Viết một đoạn văn, hoặc làm một bài thơ có dùng biện pháp nói quá. (Học sinh tự viết hoặc làm).

♦ Bài tập 6

Phân biệt biện pháp tu từ nói quá với nói khoác.

Nói quá và nói khoác đều là phóng đại mức độ, quy mô tính chất của sự vật, hiện tượng nhưng khác nhau ở mục đích. Nếu nói quá là một biện pháp tu từ nhằm để nhấn mạnh gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm thì nói khoác nhằm cho người nghe tin vào những điều không thực sự xảy ra. Như thế, nói khoác là hành động có tác động không tích cực.

Bài soạn “Nói quá” số 2

Bài soạn “Nói quá” số 5

Đọc các câu tục ngữ, ca dao sau và trả lời câu hỏi.

– Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

Ngày tháng mười chưa cười đã tối.

(Tục ngữ)

– Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.

Ai ơi bưng bát cơm đầy,

Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.

(Ca dao)

1. Nói đêm tháng năm chưa nằm đã sáng , Ngày tháng mười chưa cười đã tối và Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày có quá sự thật không ? Thực chất mấy câu này nhằm nói điều gì?

2. Cách nói như vậy có tác dụng gì?

Trả lời:

1.

Nói Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng. Ngày tháng mười chưa cười đã tối; Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày là quá sự thật, là phóng đại mức độ và tính chất nội dung nhằm nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm. Hai câu đầu ngụ ý đêm tháng năm rất ngắn, ngày tháng mười rất ngắn. Câu cuối ngụ ý, lao động của người nông dân hết sức vất vả.

2.

Nói quá trong các trường hợp trên là một biện pháp tu từ nhằm tăng giá trị biểu cảm.

Trả lời câu 1 (trang 102 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Tìm biện pháp nói quá và giải thích ý nghĩa của chúng trong các ví dụ sau:

a) Bàn tay ta làm nên tất cả

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

(Hoàng Trung Thông, Bài ca vỡ đất)

b) Anh cứ yên tâm, vết thương chỉ sượt da thôi. Từ giờ đến sáng em có thể đi lên đến tận trời được.

(Nguyễn Minh Châu, Mảnh trăng cuối rừng)

c) […] Cái cụ bá thét ra lửa ấy lại xử nhũn mời hắn vào nhà xơi nước.

(Nam Cao, Chí Phèo)

Lời giải chi tiết:

Nói quá nhấn mạnh vai trò của sức lao động con người có thể cải tạo tự nhiên mang lại nguồn sống.

Nói quá nhằm khẳng định không ngại khó, không ngại khổ

Nói quá thể hiện nhân vật bà cụ có thế lực, có quyền lực.

Trả lời câu 2 (trang 102 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Điền các thành ngữ sau đây vào chỗ trống để tạo biện pháp tu từ nói quá: bầm gan tím ruột, chó ăn đá gà ăn sỏi, nở từng khúc ruột, ruột để ngoài da, vắt chân lên cổ.

a) Ở nơi /…/ thế này, cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.

b) Nhìn thấy tội ác của giặc, ai ai cũng /…/

c) Cô Nam tính tình xởi lởi, /…/

d) Lời khen của cô giáo làm cho nó /…/

e) Bọn giặc hoảng hốt /…/ mà chạy.

c) Cô Nam tính tình xởi lởi, ruột để ngoài da.

Trả lời câu 3 (trang 102 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Đặt câu với các thành ngữ dùng biện pháp nói quá sau đây: nghiêng nước nghiêng thành, dời non lấp biển, lấp biển vá trời, mình đồng da sắt, nghĩ nát óc.

– Nàng Kiều trong truyện Kiều của Nguyễn Du có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành.

– Kẻ trượng phu xưa thường mơ chuyện rời non lấp biển.

– Nhưng việc lấp biển vá trời dành cho kẻ anh hùng hào kiệt.

– Tôi nghĩ nát óc vần không tìm được đáp số bài toán.

Trả lời câu 4 (trang 103 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Tìm năm thành ngữ so sánh dùng biện pháp nói quá:

– Ngáy như sấm.

– Nhanh như chớp.

– Khỏe như voi.

Trả lời câu 5 (trang 103 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Viết một đoạn văn, hoặc làm một bài thơ có dùng biện pháp nói quá.

Trả lời câu 6 (trang 103 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Giống nhau:

– Đều nói những điều không có thật, nói phóng đại lên.

Khác nhau:

– Nói quá nhằm gây ấn tượng mạnh, khẳng định, tăng sức biểu cảm.

– Nói khoác là nói những điều không đúng sự thật, không có thật để phô trương, khoe khoang…

Bài soạn “Nói quá” số 2

Bài soạn “Nói quá” số 1

Bài soạn “Nói quá” số 2

I- Nói quá và tác dụng của nói quá

1. Nói đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, Ngày tháng mười chưa cười đã tối và Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày là quá sự thật.

+ Thực chất câu tục ngữ này muốn nhấn mạnh tới sự đối lập về thời gian hai mùa trong năm ( mùa hè- mùa đông)

+ Khuyên chúng ta cần biết trân trọng thời gian, biết cách sắp xếp hợp lý những công việc của mình.

2. Cách nói cường điệu có tác dụng nhấn mạnh, gây ấn tượng tới điều được nói tới.

Luyện tập

Bài 1 (trang 102 sgk Ngữ văn 8 tập 1)

a, Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

– Nói quá nhấn mạnh vai trò của sức lao động con người có thể cải tạo tự nhiên mang lại nguồn sống.

b, “em có thể đi lên tới tận trời được”

– Nói quá nhằm khẳng định không ngại khó, không ngại khổ

c, “cụ bá thét ra lửa”

– Nói quá thể hiện nhân vật cụ bá có thế lực, quyền lực.

Bài 2 ( trang 102 sgk Ngữ văn 8 tập 1)

a, Chó ăn đá gà ăn sỏi

b, Bầm gan tím ruột

c, Ruột để ngoài da

d, Nở từng khúc ruột

e, Vắt chân lên cổ

Bài 3 ( trang 102 sgk Ngữ văn 8 tập 1)

+ Nàng Kiều trong truyện Kiều của Nguyễn Du có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành.

+ Nhân dân ta có sức mạnh dời non lấp biển đánh tan mọi âm mưu, thủ đoạn của bọn đế quốc Mĩ và tay sai.

+ Tôi thích nghe cô ấy kể về chuyện thần Nữ Oa lấp biển vá trời.

+ Chúng tôi đâu phải mình đồng da sắt để chịu được thời tiết nóng như lửa hầm hập dưới hầm.

+ Tôi đã nghĩ nát óc mà chưa tìm ra cách giải bài toán thầy giao.

Bài 4 ( trang 103 sgk Ngữ Văn 8 tập 1)

– 5 thành ngữ so sánh có sử dụng biện pháp nói quá

Những thành ngữ so sánh có sử dụng biện pháp nói quá:

+ Đen như than

+ Ngáy như sấm

+ Đau như đứt ruột

+ Kêu như tránh đánh

+ Nắng như đổ lửa

Bài 5 (trang 103 sgk Ngữ Văn 8 tập 1)

Em có thể chọn bài ca dao/ câu tục ngữ để phân tích về biện pháp nói quá có sử dụng trong bài

+ Nghị luận về sức mạnh của tuổi trẻ, ý chí và nghị lực của con người…như Bác Hồ từng nói :

Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên.

Bài 6 (trang 103 Ngữ Văn 8 tập 1)

Bài soạn “Nói quá” số 3

Bài soạn “Nói quá” số 1

Tóm tắt nội dung lý thuyết

Nói quá là gì ?

Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm. (Trang 102 SGK Ngữ văn 8 tập 1)

Tác dụng của nói quá:

– Nói quá là một phép tu từ thường để nhằm tạo ấn tượng, tăng sức biểu cảm cho câu nói. Nói quá được sử dụng trong ngôn ngữ hàng ngày như lo sốt vó, buồn nẫu ruột, tức sôi máu, vắt chân lên cổ, mệt đứt hơi… Không chỉ thế phép tu từ nói quá còn được dùng trong các tác phẩm văn học cụ thể như các bài ca dao, châm biếm, anh hùng ca….

– Nói quá không phải là việc nói sai, nói dối về một sự thật, sự việc nào đó. Mà nó chỉ tăng tính chất, sức biểu cảm và gây ấn tượng mạnh cho người đọc. Đôi khi, chúng ta có thể kết hợp những biện pháp tu từ khác như so sánh vào để câu văn, câu nói để thêm phần sinh động.

Hướng dẫn soạn bài Nói quá

I. Nói quá và tác dụng của nói quá

Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

Cày đồng đang buổi ban trưa

Trả lời

1. Nói đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, Ngày tháng mười chưa cười đã tối và Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cười là quá sự thật.

II. Soạn bài Nói quá phần Luyện tập

Bài 1

c, “cụ bà thét ra lửa”

– Nói quá thể hiện nhân vật bà cụ có thế lực, có quyền lực.

Bài 2

Bài 3

Các em có thể đặt các câu tương tự như:

Bài 4

Tìm năm thành ngữ so sánh dùng biện pháp nói quá.

Bài 5

Gợi ý

Em có thể chọn bài ca dao/ câu tục ngữ để phân tích về biện pháp nói quá có sử dụng trong bài.

Đoạn văn tham khảo

Đoạn văn 1:

Đoạn văn 2:

Bài 6

Điểm giống và khác nhau giữa nói quá và nói khoác

Bài soạn “Nói quá” số 6

Bài soạn “Nói quá” số 3

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Nói quá là gì?

Nói quá là phép tu từ phóng đại quá mức, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

Nói quá còn được gọi là ngoa dụ, phóng đại, thậm xưng, khoa trương.

Ví dụ:

Ước gì sông rộng một gang

Bắc cầu dải yếm đón chàng sang chơi

Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung

Gió lay như sóng biển tung trắng bờ

(Tố Hữu)

2. Tác dụng của nói quá

Nói quá là một biện pháp tu từ, nó có chức năng nhận thức, khắc sâu hơn bản chất đối tượng. Nói quá không phải là nói sai sự thật, nói dối.

Chọc trời khuấy nước mặc dầu

Dọc ngang nào biết trên đầu có ai

(Nguyễn Du)

Trong câu thơ trên, biện pháp tu từ nói quá góp phần làm tăng tính chất anh hùng ca trong hành động của nhân vật Từ Hải.

Nói quá còn có tác dụng tăng sức biểu cảm, nhấn mạnh, gây ấn tượng mạnh.

Ngực lép bốn nghìn năm

Trưa nay cơn gió mạnh

Thổi phồng lên.

Tim bỗng hoà mặt trời

Ở ví dụ trên, biện pháp tu từ nói quá được sử dụng rất táo bạo, hồn nhiên mà vẫn bảo đảm tính chân thực. Tác giả đã sử dụng trí tưởng tượng độc đáo, sáng tạo để diễn tả niềm vui sướng, hân hoan của nhân dân ta trong ngày Huế giải phóng.Nói quá thường được sử dụng trong khẩu ngữ. Ví dụ: buồn nẫu ruột, giận sôi gan, bầm gan tím ruột, mệt đứt hơi, đói rã họng, vỡ mặt, lo sốt vó, người đen như cột nhà cháy, nói như rồng leo…

Trong văn chương, nói quá thường thích hợp với những loại văn bản: châm biếm, trữ tình, anh hùng ca, … những văn bản có chức năng kêu gọi, lời hiệu triệu.

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.

(Trần Quốc Tuấn)

3. Một số biện pháp nói quá

a. Nói quá kết hợp với so sánh tu từ

Hai biện pháp tu từ này đều nhằm mục đích làm rõ hơn, cụ thể hơn, sinh động hơn bản chất của đối tượng. Nếu kết hợp cả hai phép tu từ sẽ đem lại hiệu quả cao hơn. Ví dụ:

Trên trời mây trắng như bông

Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây

Mấy cô má đỏ hây hây

Đội bông như thể đội mây về làng

Mẹ già như chuối ba hươngNhư xôi nép một, như đường mía lau

b. Dùng những từ ngữ phóng đại khác

II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

1. Xác định biện pháp nói quá trong các trường hợp sau:

a. Đồn rằng bác mẹ anh hiền

Cắn hạt cơm không vỡ, cắn đồng tiền vỡ đôi

b. Xin nguyện cùng người vươn tới mãi

Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn

c.Trên quê hương quan họ

Một làn nắng cũng mang điệu dân ca

(Phó Đức Phương)

d.Đau lòng kẻ ở người đi

Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm

Các trường hợp trong bài tập này có sử dụng hai biện pháp phóng đại sau:

Xin nguyện cùng người vươn tới mãi

Dùng cách kết hợp nhuần nhuyễn hai biện pháp tu từ: nói quá và so sánh.

2. Phân tích hiệu quả của các trường hợp sau đây do sử dụng biện pháp tu từ nói quá

a. Đi xe máy mà suy rượu thì tính mạng ngàn cân treo sợi tóc.

b. Bài toán này khó quá, nghĩ nát óc mấy tiếng đồng hồ rồi mà vẫn chưa tìm ra cách giải.

c. Do dậy muộn, nên dù đã vắt chân lên cổ chạy mà vẫn muộn học.

a. Sử dụng “ngàn cân treo sợi tóc” giúp người đọc nhận thức được mức độ nguy hiểm một cách cụ thể sinh động.

b. “Nghĩ nát óc” là cách nói hình ảnh để diễn đạt khả năng tập trung, suy nghĩ cao độ.

c. “Vắt chân lên cổ ” là cách nói quá diễn đạt sự cố gắng hết mức trong khi chạy, nhằm đạt tốc độ nhanh nhất.

3. Tìm một số trường hợp nói quá trong sinh hoạt hàng ngày

Bài tập này giúp các em vận dụng cách nói quá vào lời nói sinh hoạt hàng ngày để tăng tính biểu cảm.

Mẫu: Da cậu ấy đen như của tam thất.

4. Tìm một số ví dụ về nói quá trong các bài thơ em đã học hoặc đã thuộc.

Mẫu:

Gươm mài đá, đá núi cũng mòn

Voi uống nước, nước sông phải cạn

Đánh một trận sạch không kình ngạc

Đánh hai trận, tan tác chim muông

(Nguyễn Trãi)

5. Tìm 10 thành ngữ so sánh bằng biện pháp nói quá

Kêu như trời đánh

Dữ như cọp.

Bài soạn “Nói quá” số 6

Bài soạn “Nói quá” số 4

Bài soạn “Nói quá” số 6

Ví dụ: Đọc các câu tục ngữ, ca dao sau và trả lời câu hỏi:

a. Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng.

b. Cày đồng đang buổi ban trưa

Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.

1. Nói Đêm tháng nằm chưa nằm đã sáng/ Ngày tháng mười chưa cười đã tối và Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày có quá sự thật không ? Thực chất, mấy câu này nhằm nói điều gì ?

2. Cách nói như vậy có tác dụng gì ?

1. Nói Đêm tháng nằm chưa nằm đã sáng/ Ngày tháng mười chưa cười đã tối và Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày là nói quá sự thật.

Thực chất mấy câu này nhằm muốn nói:

Ghi nhớ: Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

Câu 1: Tìm biện pháp nói quá và giải thích ý nghĩa của chúng trong các ví dụ sau:

a. Bàn tay ta làm nên tất cả

b. Anh cứ yên tâm, vết thương mới chỉ sướt da thôi. Từ giờ đến sáng em có thể đi lên đến tận trời được.

c. […] Cái cụ bá thét ra lửa ấy lại xử nhũn mời hắn vào nhà xơi nước.

– Sỏi đá cũng thành cơm: Nhấn mạnh sự quyết tâm cũng như công sức của con người. Dù có khó khăn đến đâu mà quyết chí, gắng sức cũng sẽ đạt kết quả mĩ mãn.

– Đi đến tận trời được:Thể hiện ý chí nghị lực cũng như lòng lạc quan tin tưởng của con người. Mặt khác còn để trấn án mọi người rằng vết thương nhỏ chẳng có nghĩa lí gì.

– Thét ra lửa: Nhấn mạnh vào tính cách nhân vật. Cụ bá là kẻ có quyền uy, hống hách.

Câu 2: Điền các thành ngữ sau đây vào chỗ trống l…l để tạo …

Điền các thành ngữ sau đây vào chỗ trống l…l để tạo biện pháp tu từ nói quá: bầm gan tím ruột, chó ăn đá gà ăn sỏi, nở từng khúc ruột, ruột để ngoài da, vắt chân lên cổ.

a. Ở nơi l…l thế này, cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.

b. Nhìn thấy tội ác của giặc, ai ai cũng l…l.

c. Cô Nam tính tình xởi lởi, l…l.

d. Lời khen của cô giáo làm cho nó l…l.

e. Bọn giặc hoảng hồn l…l mà chạy.

a. Ở nơi chó ăn đá gà ăn sỏi thế này, cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.

b. Nhìn thấy tội ác của giặc, ai ai cũng bầm gan tím ruột

c. Cô Nam tính tình xởi lởi, ruột để ngoài da.

d. Lời khen của cô giáo làm cho nó nở từng khúc ruột.

e. Bọn giặc hoảng hồn vắt chân lên cổ mà chạy.

Câu 3: Đặt câu với các thành ngữ dùng biện pháp nói quá sau đây: …

Đặt câu với các thành ngữ dùng biện pháp nói quá sau đây: nghiêng nước nghiêng thành, dời non lấp biển, lấp biển vá trời, mình đồng da sắt, nghĩ nát óc.

Câu 6: Phân biệt biện pháp tu từ nói quá và nói khoác.

Bài soạn “Nói quá” số 4

Đăng bởi: Bích Lâm

Từ khoá: 6 Bài soạn “Nói quá” hay nhất

Soạn Bài Hầu Trời Soạn Văn 11 Tập 2 Bài 20 (Trang 12)

Soạn bài Hầu trời

Soạn bài Hầu Trời – Mẫu 1 Soạn văn Hầu Trời chi tiết

I. Tác giả

– Tản Đà (1889 – 1939), tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu.

– Quê ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Ba Vì, Hà Nội).

– Ông xuất thân là nhà Nho, từng hai lần lều chõng nhưng đều không đỗ đạt. Sau đó, Tản Đà chuyển sang sáng tác văn chương quốc ngữ và sớm gây được tiếng vang lớn vào những năm 20 của thế kỷ XX.

– Thơ ông tràn đầy cảm xúc lãng mạn lại rất đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều sáng tạo mới mẻ.

– Ngoài thơ, Tản Đà cũng sáng tác văn xuôi với nhiều bài tản văn, tùy bút, tự truyện.

– Một số tác phẩm chính: Khối tình con I, II (thơ, 1917); Giấc mộng con I (tiểu thuyết, năm 1917), Thề non nước (tiểu thuyết, 1920), Giấc mộng con II (Du ký, 1932), Giấc mộng lớn (tự truyện, 1932)…

II. Tác phẩm

1. Xuất xứ

Bài thơ “Hầu Trời” in trong tập “Còn chơi”, xuất bản lần đầu năm 1921.

2. Bố cục

Gồm 3 phần:

Phần 1: Từ đầu đến “Thật được lên tiên – sướng lạ lùng”. Giới thiệu về thời gian và hoàn cảnh được lên trời chơi.

Phần 2. Tiếp theo đến “Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe.

Phần 3. Còn lại. Thi nhân bày tỏ nỗi niềm tâm sự với Trời về chính mình.

3. Tóm tắt

Thi nhân đêm khuya buồn không ngủ được bằng đun nước uống rồi nằm ngâm thơ, ngắm trăng. Giọng thơ hay đến nỗi vang vọng tới trời cao. Trời sai hai tiên nữ xuống mời thi sĩ lên hầu chuyện. Thi sĩ rất thích thú khi được lên tiên chơi và được thể hiện tài năng “đọc hết văn vần lẫn văn xuôi”, cả Trời và các chư tiên nghe xong thích thú, khen thưởng. Trời hỏi thi sĩ họ tên, người phương nào, thi sĩ xưng tên của mình và kể về tình cảnh khốn khó khi theo đuổi nghề văn dưới trần. Trời động viên, an ủi, thi sĩ cảm tạ rồi được đưa về trần. Sau cùng là cuộc chia tay của Trời, chư tiên với thi sĩ.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Giới thiệu về thời gian và hoàn cảnh được lên trời chơi

– Thời gian: đêm trăng

– Hoàn cảnh: Thi nhân đọc thơ, tiếng thơ vang vọng khiến Trời mất ngủ. Trời cho người xuống mời thi nhân lên hầu trời.

– Cảm nhận của thi nhân: “Chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng/ Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!/ Thật được lên tiên – sướng lạ lùng”.

2. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe

– Không khí trên trời, cách đón tiếp “trời sai tiên nữ dắt lôi dậy, truyền cho văn sĩ ngồi chơi đấy, chư tiên ngồi quanh đã yên lặng”: cách đón tiếp trang trọng, hiếu khách và phù hợp với buổi đọc thơ.

– Thi nhân xin phép được đọc, cao hứng và có phần tự đắc: đọc hết văn vần sang văn xuôi, hết văn lý thuyết lại văn chơi… để phô diễn hết tài năng của mình.

– Cảm nhận của Trời và chư tiên: “văn dài hơi tốt”, “Trời cũng lấy làm hay”, “Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi”, “Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày’’, “Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng”, “đọc xong mỗi bài cũng vỗ tay”. Tất cả đã thể hiện được sự thích thú, say mê với thơ của thi sĩ.

– Thi sĩ bắt đầu giới thiệu các tác phẩm của mình một cách đầy đủ: tên sách – thể loại.

– Lời khen của Trời: “văn giàu thay lại lắm lối”, “Trời nghe xong cũng phải buồn cười”, chư tiên thi nhau nhờ thi nhân “gánh lên bán chợ Trời”…

3. Thi nhân bày tỏ nỗi niềm tâm sự với Trời về chính mình

– Hoàn cảnh: Sau khi khen ngợi văn chương của thi nhân, Trời hỏi về nguồn gốc của thi nhân.

– Thi nhân giới thiệu về bản thân:

Tên: Tên Khắc Hiếu, họ Nguyễn.

Quê quán: núi Tản, sông Đà, nước Việt.

Thân thế: một vị tiên bị đày xuống hạ giới vì tội “ngông”.

Thiên chức: Trời giải thích đó không phải là do Trời đày, mà muốn sai thi nhân việc truyền bá thiên thương cho nhân loại.

– Thi nhân nói về tình cảnh của người theo đuổi nghiệp văn:

Văn chương ở hạ giới rẻ như bèo.

Cuộc sống của người viết văn nghèo khó, thân phận bị rẻ rúng…

Tổng kết:

– Nội dung: Qua Hầu Trời, Tản Đà đã bộc lộ cái tôi cá nhân – một cái tôi rất ngông, phóng túng. Từ đó, nhà thơ thể hiện được sự tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình, cũng như khát khao khẳng định giữa cuộc đời.

– Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn trường thiên, giọng điệu tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, sống động…

Soạn văn Hầu Trời ngắn gọn

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Anh (chị) hãy phân tích khổ thơ đầu. Cách vào đề của bài thơ gợi cho người đọc cảm giác như thế nào về câu chuyện mà tác giả sắp kể?

– Thời gian: đêm trăng

– Hoàn cảnh: Thi nhân đọc thơ, tiếng thơ vang vọng khiến Trời mất ngủ. Trời cho người xuống mời thi nhân lên hầu trời.

– Cảm nhận của thi nhân: “Chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng/ Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!/ Thật được lên tiên – sướng lạ lùng”.

Câu 2. Tác giả đã kể lại chuyện mình đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe như thế nào? (Thái độ của tác giả, của chư tiên và những lời khen của Trời). Qua đoạn thơ đó, anh (chị) cảm nhận được những điều gì về cá tính nhà thơ và niềm khao khát chân thành của thi sĩ? Nhận xét về giọng kể của tác giả.

– Thi nhân xin phép được đọc, cao hứng và có phần tự đắc: đọc hết văn vần sang văn xuôi, hết văn lý thuyết lại văn chơi… để phô diễn hết tài năng của mình.

– Cảm nhận của Trời và chư tiên: “văn dài hơi tốt”, “Trời cũng lấy làm hay”, “Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi”, “Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày’’, “Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng”, “đọc xong mỗi bài cũng vỗ tay”. Tất cả đã thể hiện được sự thích thú, say mê với thơ của thi sĩ.

– Thi sĩ bắt đầu giới thiệu các tác phẩm của mình một cách đầy đủ: tên sách – thể loại.

– Lời khen của Trời: “văn giàu thay lại lắm lối”, “Trời nghe xong cũng phải buồn cười”, chư tiên thi nhau nhờ thi nhân “gánh lên bán chợ Trời”…

– Giọng văn: tự nhiên, thoải mái và có phần hóm hỉnh.

Câu 3. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong bài lại có một đoạn rất hiện thực. Đó là đoạn thơ nào? Tìm hiểu ý nghĩa đoạn thơ đó. Theo anh (chị), hai nguồn cảm hứng này ở thi sĩ Tản Đà có mối liên hệ với nhau như thế nào?

– Đoạn thơ hiện thực là:

– Ý nghĩa đoạn thơ: Bức tranh hiện thực về cuộc đời của chính nhà thơ ở nơi trần thế (cuộc sống cơ cực và đói khổ, văn chương không được coi trọng, làm không đủ ăn lại bị o ép quá nhiều…).

– Cảm hứng hiện thực trong đoạn thơ cho thấy Tản Đà không hề thoát ly cuộc sống, ông coi việc truyền bá thiên lương như một trách nhiệm quan trọng của cuộc sống.

Câu 4. Về mặt nghệ thuật, bài thơ này có gì mới và hay? (Chú ý các mặt: thể loại, ngôn từ, cách biểu hiện cảm xúc, hư cấu nghệ thuật…)

– Thể thơ: thất ngôn trường thiên khá tự do, không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu kết cấu nào, nguồn cảm xúc được bộc lộ thoải mái, tự nhiên, phóng túng.

– Ngôn ngữ thơ: chọn lọc, tinh tế, gợi cảm và rất gần với đời, không cách điệu, ước lệ.

– Cách kể chuyện: hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn được người đọc.

– Tác giả vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật trong câu chuyện mạch cảm xúc trong bài thơ tự do, không hề gò ép.

II. Luyện tập

Câu 1. Bài Hầu Trời có ý tưởng gì hoặc câu thơ nào làm cho anh (chị) thích thú nhất? Hãy viết một đoạn văn trình bày cảm xúc của mình.

Khi đọc bài thơ “Hầu Trời”, người đọc sẽ ấn tượng với ý tưởng của tác giả khi đưa ra trách nhiệm thực hiện thiên lương của mình. Trong cuộc trò chuyện với Trời, thi sĩ phát hiện ra mình là một trích tiên bị đày xuống trần gian vì tội “ngông”. Nhưng qua lời giải thích của Trời thì đó là nhiệm vụ “truyền bá thiên lương” cho nhân loại – một trách nhiệm quan trọng mà khó khăn. Qua đó, ta thấy được ý thức trách nhiệm của nhà thơ cũng như khao khát khẳng định giá trị của bản thân.

Câu 2. Anh (chị) hiểu thế nào là “ngông”? Cái “ngông” trong văn chương thường bộc lộ một thái độ sống như thế nào? (Có thể dẫn chứng qua những tác phẩm đã học). Cái “ngông” của thi sĩ Tản Đà trong bài thơ này biểu hiện ở những điểm nào và có thể giải thích ra sao?

– “Ngông” trong cuộc sống là có những lời nói, việc làm ngang tàng, khác lẽ thường, bất chấp sự khen chê của người đời. Còn “ngông” trong văn học là dùng để chỉ một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác thói thường có ở nhà văn, nhà thơ có ý thức cá nhân cao độ.

– Cái “ngông” của Tản Đà ở đây là:

Tự ý thức được tài năng của bản thân.

Không tìm thấy được sự đồng điệu nơi trần thế.

Ý thức trách nhiệm “thực hành thiên lương” quan trọng.

Khát khao khẳng định giá trị của bản thân trước cuộc đời.

Soạn bài Hầu Trời – Mẫu 2

Hướng dẫn trả lời câu hỏi:

Câu 1. Anh (chị) hãy phân tích khổ thơ đầu. Cách vào đề của bài thơ gợi cho người đọc cảm giác như thế nào về câu chuyện mà tác giả sắp kể?

– Phân tích khổ thơ đầu:

Thời gian: Đêm qua

Hoàn cảnh: Thi nhân đọc thơ, tiếng thơ vang vọng khiến Trời mất ngủ. Trời cho người xuống mời thi nhân lên hầu trời.

Cảm nhận của thi nhân “Chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng/ Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!/ Thật được lên tiên – sướng lạ lùng”.

– Cách vào đề của bài thơ “Đêm qua chẳng biết có hay không” gợi cho người đọc cảm giác nửa thật nửa ảo về câu chuyện sắp được kể, từ đó tạo sự tò mò, hấp dẫn.

Câu 2. Tác giả đã kể lại chuyện mình đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe như thế nào? (Thái độ của tác giả, của chư tiên và những lời khen của Trời). Qua đoạn thơ đó, anh (chị) cảm nhận được những điều gì về cá tính nhà thơ và niềm khao khát chân thành của thi sĩ? Nhận xét về giọng kể của tác giả.

Advertisement

– Tác giả đã kể lại chuyện mình đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe:

Thái độ của tác giả là cao hứng và có phần tự đắc “đọc hết văn vần sang văn xuôi, hết văn lý thuyết lại văn chơi…”.

Chư Tiên nghe thơ xong rất xúc động, tán thưởng và ngưỡng mộ tài thơ của Tản Đà: “Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi – Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày – Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng – Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay…”

Lời khen chân thành của Trời: “văn giàu thay lại lắm lối”, “Trời nghe xong cũng phải buồn cười”, chư tiên thi nhau nhờ thi nhân “gánh lên bán chợ Trời”…

– Cá tính nhà thơ và niềm khao khát chân thành của thi sĩ: Cá tính mạnh mẽ cùng khát khao tìm được tri kỉ của nhà thơ.

– Giọng kể của tác giả: Dí dỏm, hài hước.

Câu 3. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong bài lại có một đoạn rất hiện thực. Đó là đoạn thơ nào? Tìm hiểu ý nghĩa đoạn thơ đó. Theo anh (chị), hai nguồn cảm hứng này ở thi sĩ Tản Đà có mối liên hệ với nhau như thế nào?

– Đoạn thơ hiện thực là:

– Ý nghĩa đoạn thơ: Hiện thực cuộc sống của nhà thơ trần thế nói riêng hay cũng chính là cuộc sống cơ cực và đói khổ của nhà thơ, nhà văn nói chung khi văn chương không được coi trọng, làm không đủ ăn lại bị o ép quá nhiều….

– Cảm hứng hiện thực trong đoạn thơ cho thấy Tản Đà không hề thoát ly cuộc sống, ông coi việc truyền bá thiên lương như một trách nhiệm quan trọng của cuộc sống.

Câu 4. Về mặt nghệ thuật, bài thơ này có gì mới và hay? (Chú ý các mặt: thể loại, ngôn từ, cách biểu hiện cảm xúc, hư cấu nghệ thuật…)

Thể thơ thất ngôn trường thiên.

Ngôn ngữ tinh tế, gợi cảm nhưng cũng rất gần gũi với đời thường

Cách kể chuyện hóm hỉnh, duyên dáng

Tác giả vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật trong câu chuyện mạch cảm xúc trong bài thơ tự do, không hề gò ép.

6 Bài Soạn “Mùa Xuân Của Tôi” Của Vũ Bằng Lớp 7 Hay Nhất

Bài soạn “Mùa xuân của tôi” của Vũ Bằng số 4

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Vũ Bằng trong SGK Ngữ văn 7 Tập 1).

2. Tác phẩm

Văn bản Mùa xuân của tôi được viết theo thể loại tùy bút, được trích từ thiên tùy bút Tháng giêng mơ về trăng non rét ngọt trong tập tùy bút – bút kí Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng. Bài văn được viết trong cảm hứng của một người xa quê, nhớ về mùa xuân gợi cảm nơi đất Bắc.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Bài văn viết về cảnh sắc và không khí mùa xuân ở Hà Nội.

* Hoàn cảnh và tâm trạng của tác giả khi viết bài này là tác giả đang ở Sài Gòn trước 1975 trong sự kiểm soát của Mĩ ngụy, sống xa quê hương, xa mảnh đất Hà Nội thân yêu.

Câu 2:

* Bài văn có thể được chia làm 3 đoạn:

Câu 3:

Đoạn văn từ “Tôi yêu sông xanh, núi tím” đến “mở hội liên hoan”.

a) Cảnh sắc mùa xuân Hà Nội và miền Bắc đã được gợi tả qua nhiều chi tiết.

* Cảnh sắc đất trời:

b)

* Mùa xuân đã khơi dậy sức sống trong thiên nhiên và con người được nhà văn thể hiện bằng những hình ảnh đầy gợi cảm và những so sánh rất cụ thể: “nhựa sống trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối phải trồi ra thành những cái la nhỏ li ti”.

* Những tình cảm trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng tác giả khi mùa xuân đến là sức sống mới, là nhựa sống căng tràn.

c) Giọng điệu và ngôn ngữ của đoạn văn này: giọng điệu vừa sôi nổi, vừa tha thiết, ngôn ngữ chắt lọc, gợi cảm.

Câu 4:

Đoạn văn “Đẹp quá đi” đến hết.

a) Không khí và cảnh sắc thiên nhiên từ sau ngày rằm tháng giêng qua sự miêu tả của tác giả:

* Không khí:

b) Qua việc tái hiện những cảnh sắc và không khí ấy, có thể thấy rằng, chính tình yêu và nỗi nhớ da diết cháy bỏng đã làm thức dậy bao nỗi niềm trong tâm hồn của nhà văn, từ đó đã khiến cho ngòi bút của ông trở nên tinh tế hơn và nhạy cảm hơn.

Câu 5:

Qua ngòi bút tài hoa, tinh tế của tác giả, cảnh sắc mùa xuân của miền Bắc được tái hiện lại với những ấn tượng êm đềm, dịu ngọt, những cảm nhận tinh tế mà chỉ những người xa quê, yêu quê hương tha thiết mới có được. Cảnh mùa xuân trên đất Bắc thật đẹp, là sự giao hòa của trời đất, của lòng người và của sức sống, của tình yêu.

Bài soạn “Mùa xuân của tôi” của Vũ Bằng số 2

Bài soạn “Mùa xuân của tôi” của Vũ Bằng số 4

VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM1. Tác giảVũ Bằng (1913-1984) là một nhà văn, nhà báo đã khá nổi tiếng ở Hà Nội từ những năm trước Cách mạng tháng Tám. Sau năm 1954, ông vào Sài Gòn, vừa viết văn, làm báo vừa tham gia hoạt động cách mạng. Dù ở xa nhưng Vũ Bằng luôn nhớ về Hà Nội, về quê hương yêu dấu với biết bao kỉ niệm êm đềm, những ấn tượng sâu sắc không thể phai nhoà. Ông đã viết thiên tuỳ bút rất gợi cảm Tháng giêng mơ về trăng non rét ngọt (in trong tập Thương nhớ mười hai) để thể hiện nỗi nhớ bâng khuâng, da diết và lòng mong mỏi đất nước thống nhất của mình.2. Thể loại:Văn bản Mùa xuân của tôi cũng được viết theo thể tuỳ bút, trong cảm hứng của một người xa quê, nhớ về mùa xuân gợi cảm nơi đất Bắc.Nội dung chínhCảnh sắc thiên nhiên, không khí mùa xuân ở Hà Nội và miền Bắc được cảm nhận tái hiện qua nỗi lòng sầu xứ, tâm sự day dứt của Vũ Bằng. Từ đó biểu lộ chân thực và cụ thể tình yêu quê hương, đất nước và tâm hồn tinh tế, nhạy cảm của tác giả.Trả lời câu 1 (trang 177 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

Bài văn viết về cảnh sắc và không khí mùa xuân ở đâu? Hoàn cảnh và tâm trạng của tác giả khi viết bài này?

Lời giải chi tiết:

Bài văn cảnh sắc và không khí mùa xuân ở Hà Nội.

– Hoàn cảnh và tâm trạng của tác giả.

+ Tác giả viết bài này khi đang ở Sài Gòn trước 1975 trong sự kiểm soát của Mĩ ngụy, sống xa quê hương, xa Hà Nội.

+ Tâm trạng nhớ thương da diết của người con sống ở phương Nam nhớ về đất bắc.

Trả lời câu 2 (trang 177 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

Bài văn có thế chia thành mấy đoạn? Nêu nội dung chính của mỗi đoạn và sự liên kết giữa các đoạn.

– Đoạn 1 (Từ đầu đến “mê luyến mùa xuân”): Những cảm nhận về quy luật tình cảm của con người với mùa xuân.

– Đoạn 2 (tiếp theo đến “mở hội liên hoan”): Cảm nhận về cảnh sắc, không khí chung của mùa xuân ở Hà Nội và miền Bắc.

– Đoạn 3 (phần còn lại): Cảnh sắc và không khí mùa xuân sau ngày rằm tháng giêng.

Ba đoạn liên kết với nhau bằng mạch cảm xúc: từ những quy luật tình cảm chung của con người đến những cảm nhận riêng về mùa xuân. Cuối cùng là những cảm nhận sâu sắc về tháng giêng. Đây là mạch cảm xúc được phát triển rất tự nhiên, hợp lôgíc.

Trả lời câu 3 (trang 177 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

Đọc lại đoạn văn “tôi yêu sông xanh, núi tím” đến “mở hội liên hoan” và cho biết:

a. Cảnh sắc mùa xuân Hà Nội và miền Bắc đã được gợi tả như thế nào, qua những chi tiết nào?

b. Mùa xuân đã khơi dậy sức sống trong thiên nhiên và con người như thế nào? Những tình cảm gì trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng tác giả khi mùa xuân đến.

c. Em có nhận xét gì về giọng điệu và ngôn ngữ của đoạn văn này.

a. Cảnh sắc mùa xuân Hà Nội.

– Cảnh sắc của đất trời:

+ Màu sắc: Màu sông xanh, núi tím đắm say mộng ước.

+ Đường nét: Mưa riêu riêu, gió lành lạnh, đường sá không lầy lội, cái rét ngọt ngào.

+ Âm thanh: Tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, tiếng trống chèo, ấn tượng nhất là tiếng hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng.

– Cảnh xuân với con người:

+ Nghi lễ đón xuân: Nhang trầm, đèn nến trên bàn thờ Phật, bàn thờ Thánh, bàn thờ tổ tiên.

+ Không khí gia đình: Đoàn tụ êm đềm trên kính dưới nhường.

+ Lòng người ngày xuân: Thấy ấm lạ lùng, vui như mở hội liên hoan.

⟹ Đó là những nét đẹp trong cuộc sống nghĩa tình của con người là nét văn hóa truyền thống của thủ đô Hà Nội, của người Việt Nam.

b. Không chỉ miêu tả sức sống của mùa xuân từ bên ngoài, tác giả còn thể hiện được sức sống nổi bật của con người trong mùa xuân bằng những hình ảnh đầy gợi cảm và với những hình ảnh so sánh rất cụ thể: “Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống trong người căng lên như máu,…những cặp uyên ương đứng cạnh” và “tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh hơn trong những ngày đông tháng giá”. Đến như cảm nhận về cái rét thì cũng là: “…cái rét ngọt ngào, chứ không còn tê buốt căm căm nữa”.

c. Ngôn ngữ của đoạn văn này là những ngôn từ được chắt lọc tinh tế. Những hình ảnh so sánh vừa cụ thể vừa mới lạ, cùng với cách cảm, cách nghĩ sáng tạo, tất cả được kết hợp trong một thứ giọng điệu vừa sôi nổi, vừa thiết tha khiến cho đoạn văn để lại được nhiều ấn tượng và gợi ra nhiều dư ba.

Trả lời câu 4 (trang 177 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

Đọc từ đoạn văn “Đẹp quá đi” đến hết và tìm hiểu:

a. Không khí và cảnh sắc thiên nhiên từ sau ngày rằm tháng giêng qua sự miêu tả của tác giả?

b. Qua việc tái hiện những cảnh sắc và không khí ấy, tác giả đã thể hiện sự tinh tế, nhạy cảm trước thiên nhiên như thế nào?

a. Trong đoạn văn còn lại, tác giả tập trung miêu tả những nét riêng của trời đất, thiên nhiên và không khí mùa xuân sau ngày rằm tháng giêng.

– Cảnh sắc thiên nhiên:

+ Đào: hơi phai nhưng nhụy hãy con phong.

+ Cỏ: không mướt xanh nhưng nức một mùi hương man mác.

+ Mưa xuân: thay thế cho mưa phùn.

+ Bầu trời: hiện lên những làn sáng hồng hồng.

– Không khí sinh hoạt:

+ Bữa cơm: đã trở về giản dị, thịt mỡ dưa hành đã hết.

+ Cánh màn điều: treo ở bàn thờ ông vải đã hạ huống.

+ Các trò vui: tạm kết thúc nhường chỗ cho cuộc sống thường nhật.

⟹ Không khí sinh hoạt đã trở về nhịp sống êm đềm thường nhật nhưng cảnh vật thiên nhiên dù có thay đổi chút ít nhưng vẫn rất đẹp, vẫn làm say đắm lòng người bởi cái mới mẻ của nó.

b. Qua việc tái hiện những cảnh sắc và không khí ấy, có thể khẳng định: chính tình yêu và nỗi nhớ da diết đến cháy bỏng đã làm thức dậy bao nỗi niềm trong tâm hồn tác giả, khiến cho ngòi bút của nhà văn trở nên tinh tế và nhạy cảm hơn.

Trả lời câu 5 (trang 178 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

Nêu cảm nhận của em về cảnh sắc mùa xuân qua ngòi bút tài hoa và tinh tế của tác giả.

Bằng ngòi bút tài hoa, tinh tế, nhà văn Vũ Bằng đã mang lại cho người đọc một bức tranh thiên nhiên với những cảnh sắc rất đặc trưng của mùa xuân đất Bắc. Ở đó có vẻ đẹp của thiên nhiên tràn đầy sức sống và hương sắc mùa xuân tràn ngập khắp cả không gian đất trời; có niềm vui của con người khi được sống trong bầu không khí đoàn tụ ấm áp của gia đình vào những giờ phút vô cùng ý nghĩa: khép lại một năm cũ và đón chào một năm mới.

Luyện tập

Trả lời câu 2 (trang 178 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

Sưu tầm và chép lại một số đoạn văn, câu thơ hay về mùa xuân.

Trả lời:

Có thể sưu tầm và chép lại một số đoạn văn, câu thơ hay về mùa xuân mà em yêu thích. Các em có thể tham khảo một số câu thơ sau:

Mọc giữa dòng sông xanh

Một bông hoa tím biếc

Ơi!Con chim chiền chiên

Hót chi mà vang trời

Một mùa xuân nho nhỏ

Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai muơi

Dù là khi tóc bạc

(Mùa xuân nho nhỏ- Thanh Hải)

Ôi tiếng hót say mê con chim chiền chiện.

Trên đồng lúa chiêm xuân nó chao mình bay liệng

Xuân ơi xuân vui tới mênh mông

Biển vui dâng sóng trắng đầu ghềnh

(Bài ca xuân 61 – Tố Hữu)

Trả lời câu 3 (trang 178 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

Viết một đoạn văn diễn tả cảm xúc của em về một mùa trong năm ở quê hương hay nơi mình đang sống.

Có thể tham khảo đoạn văn sau: Đất nước ta nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa nên một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông tương đối rõ. Mỗi mùa đều có những nét hấp dẫn riêng nhưng em yêu nhất là mùa thu. Không sôi động, nóng bức như mùa hè, không trầm lặng, lạnh lẽo như mùa đông. Mùa thu là sự giao hoà tuyệt vời của thiên nhiên, đất trời và lòng người. Bầu trời thu trong trẻo, sáng sủa với hương hoa sữa thơm nồng trên những con phố vắng để khó có ai có thể làm ngơ; không gian mùa thu quyến rũ bởi nắng nhạt, gió nhẹ đi qua cánh đồng xa đưa phảng phất cái mùi thơm mát của lúa non. Mùa thu với ngày tết trung thu rộn rã mang bao niềm vui cho tuổi thơ, nào đèn lồng, đèn ông sao, nào là cốm, nào là bánh trung thu… Ôi! yêu biết mấy mùa thu tháng Tám! Yêu biết mấy mùa thu của quê hương!…Tất cả như một dư vị sâu xa dâng lên trong lòng người vào mỗi độ thu sang.

Bài soạn “Mùa xuân của tôi” của Vũ Bằng số 2

Bài soạn “Mùa xuân của tôi” của Vũ Bằng số 3

Bài soạn “Mùa xuân của tôi” của Vũ Bằng số 2

I. Tác giả

– Vũ Bằng (1913 – 1984) sinh ra tại Hà Nội. Quê gốc ở làng Lương Ngọc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

– Ông là một nhà văn và nhà báo đã sáng tác trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 với sở trường là tùy bút, bút kí và truyện ngắn.

– Sau năm 1954, Vũ Bằng chuyển vào Sài Gòn sống, vừa làm báo vừa viết văn, vừa hoạt động cách mạng.

– Ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007.

– Một số tác phẩm tiêu biểu:

II. Tác phẩm

1. Xuất xứ

– Bài văn “Mùa xuân của tôi” trích từ thiên tùy bút “Tháng giêng mơ về trăng non rét ngọt” trong tập tùy bút – bút ký “Thương nhớ mười hai” của Vũ Bằng.

– Tên văn bản được người biên soạn SGK đặt.

2. Hoàn cảnh sáng tác

– Tác phẩm được viết trong hoàn cảnh đất nước bị chua cắt, tác giả đang sống ở cùng kiểm soát của Mỹ – Ngụy, xa cách quê hương.

– Nhà văn đã bộc lộ nỗi nhớ quê hương, gia đình da diết và lòng mong mỏi sớm ngày được trở về quê khi đất nước đã hòa bình, thống nhất hai miền.

3. Bố cục

Gồm 3 phần:

– Phần 1: Từ đầu đến “người mê luyến mùa xuân”. Tình cảm của con người với mùa xuân.

– Phần 2. Tiếp theo đến “bướm ra ràng mở hội liên hoan”. Cảnh sắc, không khí chung của mùa xuân.

– Phần 3. Còn lại. Cảnh sắc mùa xuân sau rằm tháng giêng.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Tình cảm của con người với mùa xuân

– Ai cũng chuộng mùa xuân như là một lẽ tự nhiên.

– Mượn một loạt các hình ảnh: “ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, mẹ yêu con, cô gái còn son nhớ chồng” – để khẳng định rằng khi ấy mới hết được người mê luyến mùa xuân.

2. Cảnh sắc, không khí chung của mùa xuân

– Thời tiết: có mưa riêu riêu, gió lành lạnh

– Âm thanh: tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, câu hát huê tình của gái đẹp như thơ mộng.

– Khung cảnh gia đình: đoàn tụ êm đềm, trên kính dưới nhường, trước bàn thờ với nhang trầm, đèn nến…

– Không khí: khơi dậy sức sống của của thiên nhiên và con người (nhựa sống trong người căng lên như máu căng lên trong lộc…)

3. Cảnh sắc mùa xuân sau rằm tháng giêng

– Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai mà nhụy vẫn còn phong

– Cỏ giêng không mướt xanh như cuối đông, đầu giêng nhưng trái lại nức một mùi hương man mác.

– Trời đã hết nồm, mưa xuân thay thế cho mưa phùn, nền trời không còn đùng đục như màu pha lê mờ.

– Con người trở về với bữa cơm gia đình giản dị ngày thường.

– Các trò vui ngày Tết cũng tạm thời kết thúc, nhường chỗ cho cuộc sống thường nhật.

IV. Tổng kết

– Nội dung: Cảnh sắc thiên nhiên, không khí mùa xuân ở Hà Nội và miền Bắc được cảm nhận, tái hiện trong nỗi nhớ thương da diết của một người xa quê.

– Nghệ thuật: hình ảnh so sánh độc đáo, sử dụng nhiều biện pháp tu từ…

V. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Bài văn viết về cảnh sắc và không khí mùa xuân ở đâu? Hoàn cảnh và tâm trạng của tác giả khi viết bài này?

– Hoàn cảnh và tâm trạng của tác giả: Tác giả viết bài này khi đang ở Sài Gòn trước 1975 trong sự kiểm soát của Mỹ ngụy, sống xa quê hương, xa Hà Nội.

– Tâm trạng nhớ thương da diết của người con sống ở phương Nam nhớ về đất Bắc.

Câu 2. Bài văn có thế chia thành mấy đoạn? Nêu nội dung chính của mỗi đoạn và sự liên kết giữa các đoạn.

– Phần 1: Từ đầu đến “Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng”. Những ấn tượng bạn đầu về thành phố Sài Gòn.

– Phần 2: Tiếp theo đến “Ngày nay đã leo lên hơn năm triệu”. Cảm nhận về lối sống và tính cách của người Sài Gòn.

– Phần 3. Còn lại. Tình cảm của tác giả dành cho Sài Gòn.

Câu 3. Đọc lại đoạn văn “tôi yêu sông xanh, núi tím” đến “mở hội liên hoan” và cho biết:

a. Cảnh sắc mùa xuân Hà Nội và miền Bắc đã được gợi tả qua:

– Cảnh sắc của thiên nhiên, đất trời:

* Mùa xuân đã khơi dậy thiên nhiên và sức sống của con người qua những hình ảnh so sánh rất cụ thể:

– “Nó làm người ta muốn phát điên lên như thế đấy. Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được phải trồi ra những cái lá nhỏ ti ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh”.

– “Tim người ta dường như trẻ hơn ra, và đạp mạnh hơn trong những ngày đông tháng giá”.

– “Thèm khát yêu đương thực sự. Ra ngoài trời, thấy ai cũng muốn yêu thương, về đến nhà lại cũng thấy yêu thương nữa.

* Tâm trạng của tác giả: yêu thương, khát khao về mùa xuân.

c. Giọng điệu và ngôn ngữ của đoạn văn: ngôn từ được chắt lọc tinh tế, giọng điệu tự nhiên, sôi nổi.

Câu 4. Đọc từ đoạn văn “Đẹp quá đi” đến hết và tìm hiểu:

a. Không khí và cảnh sắc thiên nhiên từ sau ngày rằm tháng giêng qua sự miêu tả của tác giả?

a.

* Cảnh sắc thiên nhiên:

– Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai mà nhụy vẫn còn phong.

* Nếp sống sinh hoạt:

b.

Qua việc tái hiện những cảnh sắc đã thể hiện một tâm hồn tinh tế, một ngòi bút tài hoa của tác giả trước cảnh sắc, con người thiên nhiên.

Câu 5. Nêu cảm nhận của em về cảnh sắc mùa xuân qua ngòi bút tài hoa và tinh tế của tác giả.

– Một bức tranh thiên nhiên với những cảnh sắc đặc trưng được nhà văn tái hiện một cách sinh động, hấp dẫn.

– Không chỉ đó tác giả gợi lên cho người đọc trong bầu không khí đoàn tụ ấm áp của gia đình…

II. Luyện tập

Câu 1. Sưu tầm và chép lại một số đoạn văn, câu thơ hay về mùa xuân.

“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm, Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi; – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

(Vội vàng, Xuân Diệu)

“Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực Tàu, giấy đỏ Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài: “Hoa tay thảo những nét Như phượng múa, rồng bay”

(Ông đồ, Vũ Đình Liên)

“Tôi có chờ đâu, có đợi đâu Ðem chi xuân lại gợi thêm sầu? – Với tôi, tất cả như vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!

(Xuân, Chế Lan Viên)

Câu 2. Viết một đoạn văn diễn tả cảm xúc của em về một mùa trong năm ở quê hương hay nơi mình đang sống.

Trong bốn mùa, em thích nhất là mùa xuân. Đó là lúc cây cối bừng dậy sức sống sau những ngày đông lạnh giá. Cũng là lúc con người háo hức chuẩn bị chào đón năm mới. Đẹp nhất vào lúc này có lẽ nhất là cơn mưa mùa xuân. Đặc biệt là cơn mưa xuân vào khoảnh khắc giao hòa giữa năm cũ và năm mới. Bầu trời đêm cuối đông se lạnh. Không có sao và không một gợn mây. Trong giây phút thiêng liêng của đất trời và của lòng người. Những hạt mưa xuất lất phất bay khắp không gian khiến cho con người cảm thấy thật hân hoan. Mưa không quá lớn để làm ướt áo đi đường. Những hạt mưa chỉ nhỏ bé rơi xuống liên tiếp rồi tan vào lòng đất. Mưa còn đem theo hơi ấm của mùa xuân. Những hạt mưa thấm vào lòng đất lạnh để nuôi dưỡng những mầm cây. Sau cơn mưa xuân giao mùa, vạn vật đã hoàn toàn thay đổi.

Bài soạn “Mùa xuân của tôi” của Vũ Bằng số 6

Bài soạn “Mùa xuân của tôi” của Vũ Bằng số 3

Tìm hiểu chung tác phẩm:

1. Tác giả

Bài tuỳ bút này tái hiện cảnh sắc thiên nhiên và không khí mùa xuân trong tháng giêng ở Hà Nội và miền Bắc qua nỗi nhớ thương da diết của một người con xa quê. Khi viết tác phẩm này, tác giả đang sống ở miền Nam, vì điều kiện công tác phải xa Hà Nội, xa miền Bắc.

Câu 2: Bài văn có thể chia làm mấy đoạn? Nêu nội dung chính của…

Bài văn có thể chia làm mấy đoạn? Nêu nội dung chính của mỗi đoạn và sự liên kết giữa các đoạn.

Bài tuỳ bút có thể chia thành ba đoạn:

Câu 3: Đọc lại đoạn văn “tôi yêu sông xanh, núi tím” đến…

a. Cảnh sắc của mùa xuân Hà Nội và miền Bắc được gợi tả như thế nào, qua những chi tiết nào?b. Mùa xuân đã khơi dậy sức sống trong thiên nhiên và con người như thế nào? Những tình cảm gì trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng tác giả khi mùa xuân đến?

c. Em có nhận xét gì về giọng điệu và ngôn ngữ của đoạn văn này?

a. Cảnh sắc của mùa xuân Hà Nội và miền Bắc được gợi tả qua những chi tiết:

Câu 4: Đọc từ đoạn văn “Đẹp quá đi” đến hết và tìm hiểu:

a. Không khí và cảnh sắc thiên nhiên từ sau ngày rằm tháng giêng qua sự miêu tả của tác giả.b. Qua việc tái hiện những cảnh sắc và không khí ấy, tác giả đã thể hiện sự tinh tế, nhạy cảm trước thiên nhiên như thế nào?c. Em có nhận xét gì về giọng điệu và ngôn ngữ của đoạn văn này.

Câu 5: Nêu cảm nhận của em về cảnh sắc mùa xuân qua…

Với sự quan sát tinh tế, chắt lọc những hình ảnh đặc sắc, Vũ Bằng đã tái hiện một mùa xuân đặc trưng xứ Bắc. Ở đó có vẻ đẹp của thiên nhiên căng tràn nhựa sống, có niềm vui của con người trong không khí nô nức đón xuân về, đoàn tụ gia đình ấm áp. Đó là những nỗi nhớ niềm thương với những đứa con xa quê trong ngày xuân sang.

[Luyện tập] Câu 1: Sưu tầm và chép lại một số đoạn văn, câu thơ hay về mùa xuân.

(Mưa xuân – Nguyễn Bính)

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ

Mẹ bảo: “Thôn Ðoài hát tối nay”

Lòng thấy giăng tơ một mối tình

Em ngừng thoi lại giữa tay xinh

Hình như hai má em bừng đỏ

Có lẽ là em nghĩ đến anh

(Mùa xuân – mùa hè – Trần Đăng Khoa)

Mùa xuân hoa nở đẹp tươi

Bướm con bướm mẹ ra chơi hoa hồng

Bướm mẹ hút mật đầu bông

Bướm con đùa với nụ hồng đỏ hoe

Câu 2: Viết một đoạn văn diễn tả cảm xúc của em về một mùa trong năm…

Thiên nhiên với bốn mùa luân chuyển trong một năm, cảnh vật như khoác lên mình những tấm áo nhiều sắc màu. Nếu mùa hạ là màu xanh tươi của cỏ cây, mùa thu là màu vàng của sắc lá trải ngập khắp con đường, mùa đông là cái lạnh của gió heo may ùa về thì mùa xuân là mùa của thiên nhiên như bừng tỉnh giấc sau một giấc ngủ đông dài. Xuân sang, những mầm lá non trỗi dậy trên những cành cây khẳng khiu. Tiếng chim non ríu rít gọi đàn, gọi hơi ấm mùa xuân về với muôn loài. Phiên chợ ngày tết như đông đúc hơn, các bà các chị với những gánh hàng hoa rực rỡ sắc màu, những cuộc lá dong được chau chuốt cẩn thận để làm ra những chiếc bánh chưng thắm đượm sắc xanh dâng lên bàn thờ tổ tiên. Ở góc chợ là ông đồ lặng lẽ bên tờ giấy đỏ với những nét chữ tài hoa viết lên những điều cầu chúc may mắn cho người xin chữ. Xuân trong tôi là vậy, náo nức đến lạ thường. Sau này dù có đi xa, mùa xuân trong tôi vẫn tràn ngập sắc hoa với những ngày cả gia đình đoàn tụ, ấm ấp yêu thương bên mâm cơm ngày tết.

Bài soạn “Mùa xuân của tôi” của Vũ Bằng số 1

III. Trả lời câu hỏi

Câu 1 (trang 177 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Bài văn tả cảnh sắc và không khí mùa xuân ở Hà Nội

+ Nêu hoàn cảnh và tâm trạng của tác giả:

+ Tác giả viết khi đang sinh sống xa quê hương, ở Sài Gòn trước 1975 trong sự kiểm soát của Mĩ Ngụy

+ Tình cảm nhớ thương da diết của người con xa quê hương miền Bắc

Câu 2 (trang 177 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Bài văn có thể chia làm 3 đoạn:

+ Phần 1 (từ đầu… mê luyến mùa xuân): Những cảm nhận về quy luật tình cảm của con người đối với mùa xuân

+ Phần 2 (tiếp… mở hội liên hoan): Những rung động, cảm nhận tinh tế về cảnh sắc, không khí mùa xuân ở Hà Nội, đất Bắc

+ Phần 3 (còn lại): Cảnh sắc và không khí mùa xuân sau ngày rằm tháng giêng.

Mạch cảm xúc: đi từ quy luật tình cảm chung của con người tới những cảm nhận riêng về mùa xuân, cuối cùng là cảm nhận về tháng giêng, mạch cảm xúc được phát triển tự nhiên, logic

Câu 3 (trang 177 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Cảnh sắc mùa xuân Hà Nội, mùa xuân đất trời:

+ Màu sắc đặc trưng: màu sông xanh, núi tím say mộng ước

+ Đường nét, hình khối: Mưa riêu riêu, gió lành lạnh, đường sá không lầy lội, cái rét ngọt ngào

+ Âm thanh đặc trưng: tiếng nhạn kêu, tiếng trống chèo, tiếng hát của những cô gái huê tình

+ Hình ảnh con người:

+ Nghi lễ đón xuân: thắp nến trên bàn thờ Phật Thánh, bàn thờ tổ tiên

+ Gia đình: sum họp, đoàn viên, trên kính dưới nhường

+ Lòng người trong ngày xuân: thấy ấm áp, vui như mở hội

→ Những nét đẹp trong cuộc sống nghĩa tình của con người, đó là nét đẹp văn hóa của người Hà Nội

b, Tác giả nêu bật sức sống của con người trong mùa xuân bằng những hình ảnh gợi cảm, với những hình ảnh so sánh cụ thể: “ Ngồi yên không chịu được… nhựa sống của con người căng lên như máu, những cặp uyên ương đứng cạnh”

+ Cảm nhận rõ rệt về cái rét: “cái rét ngọt ngào, không tê buốt căm căm nữa”

c, Ngôn ngữ của đoạn văn được chắt lọc tinh tế, kĩ càng. Hình ảnh so sánh cụ thể, mới lạ, cũng cách cảm, cách nghĩ sáng tạo, kết hợp với giọng điệu vừa sôi nổi, thiết tha gợi nhiều ấn tượng.

Câu 4 (trang 177 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Đoạn văn còn lại, tác giả đặc tả những điểm riêng biệt của trời đất, thiên nhiên, không khí mùa xuân sau ngày rằm tháng giêng

+ Đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong

+ Cỏ: không xanh mướt nhưng nức mùi thơm man mác

+ Mưa xuân: thay thế mưa phùn

+ Bầu trời: hiện lên những làn sáng hồng hồng

– Không gian sinh hoạt:

+ Bữa cơm: trở về sự giản dị thường ngày, thịt mỡ, dưa hành đã hết

+ Cánh màn điều treo trên bàn thờ treo ở bàn thờ ông bà ông vải đã được hạ xuống

+ Các trò vui ngày Tết: tạm kết thúc nhường chỗ cho cuộc sống thường nhật

→ Hoạt động của con người dần trở về nhịp thường nhật, cảnh vật có chút biến chuyển, thay đổi nhưng vẫn đẹp và say đắm lòng người bởi sự mới mẻ

Việc tái hiện cảnh sắc, không khí mùa xuân để khẳng định tình yêu, nỗi nhớ luôn thường trực trong lòng tác giả, làm sống dậy nhiều nỗi niềm trong tâm hồn tác giả bằng ngòi bút tinh tế, nhạy cảm

Câu 5 (trang 178 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Nỗi nhớ da diết của con người xứ Bắc xa quê, tác giả đã thể hiện chân thực cảnh mùa xuân miền Bắc với những ấn tượng chân thật, êm đềm, ngọt ngào.

+ Những cảm nhận tha thiết, tinh tế chỉ có được ở những người yêu quê hương tha thiết

+ Cảnh mùa xuân trên đất Bắc là sự giao hòa trọn vẹn của trời đất, con người.

Bài 2 (trang 178 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

(Cảnh ngày xuân- Nguyễn Du)

Bài 3 (trang 178 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Mùa xuân luôn là mùa đẹp nhất trong năm, đây cũng là mùa được mong chờ nhất sau những ngày làm việc mệt nhọc suốt một năm dài. Mùa xuân, thời tiết bắt đầu thay đổi, cái lạnh không còn căm căm nữa, thay vào đó là những con mưa phùn nhỏ giăng mắc trên cành cây, phiến lá. Bầu trời có phần trong sáng hơn chứ không còn xám xịt, âm u như mùa đông. Những đàn chim đi tránh rét từ đâu bay về ríu rít trên những ngọn cây cao. Con người thì hối hả hơn, vừa để kết thúc một năm đã qua vừa như chuẩn bị một năm mới đang tới gần. Những đứa trẻ tíu tít mong chờ ba mẹ đưa đi mua sắm quần áo mới… Mùa xuân là tất cả những gì say mê nhất của con người quyện lại.

Bài soạn “Mùa xuân của tôi” của Vũ Bằng số 1

Bài soạn “Mùa xuân của tôi” của Vũ Bằng số 4

Bài soạn “Mùa xuân của tôi” của Vũ Bằng số 1

TÌM HIỂU CHUNG VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

– Vũ Bằng (1913 – 1984) sinh tại Hà Nội, là nhà văn và nhà báo đã sáng tác từ trước Cách mạng tháng Tám 1945, có sở trường về truyện ngắn, tùy bút, bút kí. Sau năm 1954, ông vào Sài Gòn vừa viết văn, làm báo, vừa hoạt động cách mạng. Năm 2007, Vũ Bằng được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

– Mùa xuân của tôi trích từ thiên tuỳ bút Tháng giêng mơ về trăng non rét ngọt trong tập tùy bút – bút kí Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng.

– Tác phẩm được viết trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, tác giả sống trong vùng kiểm soát của Mĩ – ngụy, xa cách quê hương đất Bắc. Nhà văn đã gửi vào những trang sách nỗi niềm thương nhớ da diết về quê hương, gia đình và lòng mong mỏi đất nước hoà bình, thống nhất. Những tình cảm ấy được thể hiện qua nỗi nhớ mọi cảnh sắc thiên nhiên, phố xá và cuộc sống hằng ngày của Hà Nội. Những cảnh vật ấy mang vẻ đẹp riêng biệt và bản sắc văn hoá tinh tế, độc đáo của một vùng đất nước và cũng là của dân tộc.

ĐỌC – HIỂU

Câu 1 – Trang 177 SGK

+ Tâm trạng nhớ thương da diết của người con sống ở phương Nam nhớ về đất Bắc.

Câu 2 – Trang 177 SGK

Bài văn có thể chia thành mấy đoạn? Nêu nội dung chính của mỗi đoạn và sự liên kết giữa các đoạn.

– Đoạn 3 (phần còn lại): Cảnh sắc và không khí mùa xuân sau ngày rằm tháng Giêng.

Ba đoạn liên kết với nhau bằng mạch cảm xúc: từ những quy luật tình cảm chung của con người đến những cảm nhận riêng về mùa xuân. Cuối cùng là những cảm nhận sâu sắc về tháng Giêng. Đây là mạch cảm xúc được phát triển rất tự nhiên, hợp lôgíc.

Câu 3 – Trang 177 SGK

b. Không chỉ miêu tả sức sống của mùa xuân từ bên ngoài, tác giả còn thể hiện được sức sống nổi bật của con người trong mùa xuân bằng những hình ảnh đầy gợi cảm và với những hình ảnh so sánh rất cụ thể: “Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống trong người căng lên như máu,… những cặp uyên ương đứng cạnh” và “tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh hơn trong những ngày đông tháng giá”. Đến như cảm nhận về cái rét thì cũng là: “…cái rét ngọt ngào, chứ không còn tê buốt căm căm nữa”.

Câu 4 – Trang 177 SGK

a. Không khí và cảnh sắc thiên nhiên từ sau ngày rằm tháng Giêng qua sự miêu tả của tác giả?

a. Trong đoạn văn còn lại, tác giả tập trung miêu tả những nét riêng của trời đất, thiên nhiên và không khí mùa xuân sau ngày rằm tháng Giêng.

+ Đào: hơi phai nhưng nhụy hãy còn phong.

Câu 5 – Trang 178 SGK

LUYỆN TẬP

Câu 2 – Trang 178 SGK

1.

Ơi! Con chim chiền chiện

(Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải)

2.

3.

Mùa Xuân Đến

XuГўn sang tбєїt Д‘бєїn mб»Ќi nhГ

Con chúc ông bà sức khỏe, an khang

Chúc cô chú bác giàu sang

Một năm sung túc cười vang mỗi ngày

Chúc anh chúc chị học hay

Con ngoan trò giỏi đợi ngày công danh

Chúc cho vạn sự tốt lành

Kỷ Hợi năm mới bức tranh xuân ngời.

Xuân đến với mọi gia đình

(Thơ thiếu nhi)

Câu 3 – Trang 178 SGK

Có thể tham khảo đoạn văn sau:

Đất nước ta nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa nên một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông tương đối rõ. Mỗi mùa đều có những nét hấp dẫn riêng nhưng em yêu nhất là mùa thu. Không sôi động, nóng bức như mùa hè, không trầm lặng, lạnh lẽo như mùa đông. Mùa thu là sự giao hoà tuyệt vời của thiên nhiên, đất trời và lòng người. Bầu trời thu trong trẻo, sáng sủa với hương hoa sữa thơm nồng trên những con phố vắng để khó có ai có thể làm ngơ; không gian mùa thu quyến rũ bởi nắng nhạt, gió nhẹ đi qua cánh đồng xa đưa phảng phất cái mùi thơm mát của lúa non. Mùa thu với ngày tết trung thu rộn rã mang bao niềm vui cho tuổi thơ, nào đèn lồng, đèn ông sao, nào là cốm, nào là bánh trung thu… Ôi! yêu biết mấy mùa thu tháng Tám! Yêu biết mấy mùa thu của quê hương!… Tất cả như một dư vị sâu xa dâng lên trong lòng người vào mỗi độ thu sang.

Đăng bởi: Hồng Ngô Hoàng

Từ khoá: 6 Bài soạn “Mùa xuân của tôi” của Vũ Bằng lớp 7 hay nhất

Soạn Bài Chiếc Lược Ngà Soạn Văn 9 Tập 1 Bài 15 (Trang 195)

Soạn bài Chiếc lược ngà

Hôm nay, chúng tôi sẽ cung cấp bài Soạn văn 9: Chiếc lược ngà. Mời tham khảo nội dung chi tiết để giúp ích cho các bạn học sinh.

Soạn bài Chiếc lược ngà – Mẫu 1 Soạn văn Chiếc lược ngà chi tiết

I. Tác giả

– Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932.

– Quê quán: huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

– Từ năm 1954, Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn.

– Những năm chống Mỹ, ông trở về Nam bộ tham gia kháng chiến rồi tiếp tục sáng tác văn học.

– Sau khi đất nước thống nhất, ông là Tổng thư ký Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh.

– Các tác phẩm của ông thuộc nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim…

– Năm 2000, ông được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.

– Một số tác phẩm tiêu biểu: Con chim vàng (tập truyện ngắn, 1956), Nhật ký người ở lại (tiểu thuyết, 1961), Chiếc lược ngà (tập truyện ngắn, 1966), Mùa gió chướng (tiểu thuyết, 1975), Dòng sông thơ ấu (tiểu thuyết, 1985), Paris – tiếng hát Trịnh Công Sơn (1990)…

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

“Chiếc lược ngà” viết năm 1966, tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên.

2. Bố cục

Phần 1. Từ đầu đến “chị cũng không muốn bắt nó về”: Ông Sáu trở về thăm nhà nhưng bé Thu không nhận ra ba.

Phần 2. Tiếp theo đến “vừa nói vừa từ từ tuột xuống”: Bé Thu nhận ra ba và cuộc chia tay của hai cha con.

Phần 3. Còn lại: Ông Sáu hy sinh ở chiến trường và chuyện về chiếc lược ngà.

3. Tóm tắt

Sau nhiều năm xa nhà, ông Sáu được đơn vị cho về thăm vợ con. Nhưng đứa con gái ông là bé Thu lại không nhận ra cha chỉ vì vết sẹo dài trên má của ông. Ông Sáu rất buồn bã trước sự lạnh nhạt của con gái. Trong ba ngày ở nhà, nếu ông Sáu luôn tìm cách để con gọi mình là ba, thì bé Thu lại lẩn tránh. Sau khi được bà ngoại giải thích về vết sẹo, bé Thu nhận ra ba. Cuộc chia tay của hai cha con diễn ra đầy xúc động. Sau này, ông Sáu hy sinh trong một trận càn của giặc, lúc hấp hối, ông trao cho anh Ba chiếc lược ngà mà ông làm tặng bé Thu.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Ông Sáu trở về thăm nhà nhưng bé Thu không nhận ông là ba

– Trong những năm xa nhà, ông Sáu luôn nhớ con, khát khao gặp con.

– Khi được trở về thăm con: Thuyền chưa cập bến đã nhảy vội lên bờ gọi con.

– Nhưng ngược lại, bé Thu lại không chịu nhận cha:

Lúc mới gặp ông Sáu: “Con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác lạ lùng”.

Nhìn vết thẹo dài trên má ông Sáu nó càng hoảng hốt, sợ hãi “mặt nó tái đi, vụt chạy rồi kêu thét lên”.

Suốt ba ngày, con bé bộc lộ sự bướng bỉnh, nhất quyết không gọi ông Sáu bằng ba, chỉ nói trổng (khi mời ông Sáu ăn cơm, khi muốn nhờ ông chắt nước…).

Hất văng ra khỏi chén cái trứng cá ông Sáu gắp cho.

Bị ông Sáu đánh, nó bỏ sang nhà bà ngoại.

– Nguyên nhân:

Bé Thu không nhận ông Sáu là ba vì ông có vết thẹo trên mặt “không giống cái hình ba chụp với má”.

Với lứa tuổi của mình, Thu không thể hiểu những khắc nghiệt của chiến tranh. Vậy mà, vết sẹo chiến tranh hằn trên gương mặt ông Sáu đã làm Thu không nhận ra được cha mình.

– Ông Sáu rất đau lòng, thất vọng vì bé Thu không nhận mình:

Khi bé Thu chạy vụt đi, hét lên hoảng hốt, sợ hãi: “nỗi đau đớn khiến mặt anh tối sầm lại trông rất đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

Trong ba ngày phép, càng muốn gần gũi, yêu thương con, bé Thu càng lảng tránh, lạnh lùng, vô lễ. Ông càng đau khổ hơn (tám năm mới được gặp con, những ngày phép ngắn dần mà con không chịu nhận ba, không một lần được ôm con trìu mến…)

2. Bé Thu nhận ra ba và cuộc chia tay của hai cha con

– Tình cảm thắm thiết mà ông Sáu dành cho con:

Lúc chia tay, ông Sáu muốn ôm hôn con nhưng sợ con không chịu, ông chỉ nhìn con bằng đôi mắt “trìu mến lẫn buồn rầu”. Khi Thu nhận cha, ông Sáu đã khóc vì sung sướng và xúc động.

Lúc ở rừng, tại khu căn cứ: ông Sáu sung sướng khi tìm được khúc ngày (“hớt hải chạy về”, “hớn hở như trẻ con được quà”); lúc rỗi ông “cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”, khắc dòng chữ nhỏ với bao tình cảm “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”

Lúc nhớ con, “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”, có cây lược ông càng mong gặp con.

Trong giờ phút cuối cùng, tình cha con vẫn da diết “không đủ sức trăn trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”.

Ông gửi cây lược cho đồng đội nhờ đưa cho con, lúc ấy mới nhắm mắt xuôi tay.

– Tình cảm bé Thu đối với cha:

Trước lúc ông Sáu đi, ba gọi tiếng ba đầu tiên, xé lòng như thét lên: “Ba…a…a… Ba!”. Tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao năm nay, tiếng ba như vỡ tung từ đáy lòng nó.

Nó vừa kêu “vừa chạy xô tới”, “dang tay ôm chặt cổ, nó hôn ba nó cùng khắp, nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết sẹo dài trên má ba nó nữa”, “dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó” (muốn giữ ba nó ở lại), khóc mếu máo với lời dặn “ba mua cho con một cái lược, nghe ba”.

3. Ông Sáu hy sinh ở chiến trường và chuyện chiếc lược ngà

– Ông Sáu ở chiến trường không nguôi nhớ thương con, ân hận vì đã trót đánh con bé. Ông dồn tất cả tình yêu con để tự tay làm chiếc lược ngà tặng con như lời ông đã hứa lúc chia tay.

– Trước khi chết, ông Sáu vẫn cố dồn chút sức lực cuối cùng để gửi lại chiếc lược, nhờ đồng đội trao tận tay cho con gái ông.

– Bé Thu lớn lên đã đi tiếp con đường của cha như để nối dài mãi tình cha con bất tử.

Tổng kết:

– Nội dung: Truyện ngắn Chiếc lược ngà đã thể hiện tình cảm cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.

– Nghệ thuật: Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện, nghệ thuật miêu tả tâm lí và tính cách nhân vật…

Soạn văn Chiếc lược ngà ngắn gọn

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Kể tóm tắt cốt truyện của văn bản đoạn trích. Tình huống nào đã bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu?

* Kể tóm tắt: Sau nhiều năm xa nhà, ông Sáu được đơn vị cho về thăm vợ con. Nhưng đứa con gái ông là bé Thu lại không nhận ra cha chỉ vì vết sẹo dài trên má của ông. Ông Sáu rất buồn bã trước sự lạnh nhạt của con gái. Trong ba ngày ở nhà, nếu ông Sáu luôn tìm cách để con gọi mình là ba, thì bé Thu lại lẩn tránh. Sau khi được bà ngoại giải thích về vết sẹo, bé Thu nhận ra ba. Cuộc chia tay của hai cha con diễn ra đầy xúc động. Sau này, ông Sáu hy sinh trong một trận càn của giặc, lúc hấp hối, ông trao cho anh Ba chiếc lược ngà mà ông làm tặng bé Thu.

* Tình huống bộc lộ sâu sắc tình cảm cha con của bé Thu: Cuộc gặp gỡ của ông Sáu và bé Thu sau nhiều năm xa cách. Nhưng bé Thu lại không chịu nhận ba, chỉ đến khi ông Sáu sắp phải trở lại chiến trường thì Thu mới nhận ra cha của mình.

Câu 2. Phân tích diễn biến tâm lý và tình cảm của bé Thu trong lần đầu gặp cha cuối cùng, khi ông Sáu được về phép. Qua đó hãy nhận xét về tính cách của nhân vật bé Thu và nghệ thuật miêu tả tâm lí của tác giả?

– Trước lúc nhận cha:

Lúc mới gặp ông Sáu: “Con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác lạ lùng”.

Nhìn vết thẹo dài trên má ông Sáu nó càng hoảng hốt, sợ hãi “mặt nó tái đi, vụt chạy rồi kêu thét lên”.

Suốt ba ngày, con bé bộc lộ sự bướng bỉnh, nhất quyết không gọi ông Sáu bằng ba, chỉ nói trổng (khi mời ông Sáu ăn cơm, khi muốn nhờ ông chắt nước…).

Hất văng ra khỏi chén cái trứng cá ông Sáu gắp cho.

Bị ông Sáu đánh, nó bỏ sang nhà bà ngoại.

– Khi nhận ra cha của mình:

Trước lúc ông Sáu đi, ba gọi tiếng ba đầu tiên, xé lòng như thét lên: “Ba…a…a… Ba!”. Tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao năm nay, tiếng ba như vỡ tung từ đáy lòng nó.

Nó vừa kêu “vừa chạy xô tới”, “dang tay ôm chặt cổ, nó hôn ba nó cùng khắp, nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết sẹo dài trên má ba nó nữa”, “dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó” (muốn giữ ba nó ở lại), khóc mếu máo với lời dặn “ba mua cho con một cái lược, nghe ba”.

Câu 3. Tình cảm cha con sâu nặng và cao đẹp ở ông Sáu đối với con đã được thể hiện qua những chi tiết, sự việc nào? Điều đó bộc lộ thêm nét đẹp gì trong tâm hồn của người cán bộ cách mạng ấy.

– Trong những năm xa nhà, ông Sáu luôn nhớ con, khát khao gặp con.

– Khi được trở về thăm con: Xuồng chưa cập bến, ông Sáu đã nhảy lên bờ gọi, đưa tay đón con, rất xúc động làm vết thẹo đỏ ửng giần giật, “giọng lắp bắp, run run”.

– Khi bé Thu chạy vụt đi, hét lên hoảng hốt, sợ hãi: “nỗi đau đớn khiến mặt anh tối sầm lại trông rất đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

– Trong ba ngày phép, càng muốn gần gũi, yêu thương con, bé Thu càng lảng tránh, lạnh lùng, vô lễ. Ông càng đau khổ hơn (tám năm mới được gặp con, những ngày phép ngắn dần mà con không chịu nhận ba, không một lần được ôm con trìu mến…)

– Lúc chia tay, ông Sáu muốn ôm hôn con nhưng sợ con không chịu, ông chỉ nhìn con bằng đôi mắt “trìu mến lẫn buồn rầu”. Khi Thu nhận cha, ông Sáu đã khóc vì sung sướng và xúc động.

– Lúc ở rừng, tại khu căn cứ: ông Sáu sung sướng khi tìm được khúc ngày (“hớt hải chạy về”, “hớn hở như trẻ con được quà”); lúc rỗi ông “cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”, khắc dòng chữ nhỏ với bao tình cảm “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”

– Lúc nhớ con, “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”, có cây lược ông càng mong gặp con.

– Trong giờ phút cuối cùng, tình cha con vẫn da diết “không đủ sức trăn trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Ông gửi cây lược cho đồng đội nhờ đưa cho con, lúc ấy mới nhắm mắt xuôi tay.

Câu 4. Truyện được kể theo lời trần thuật của nhân vật nào? Cách chọn vai kể như vậy có tác dụng gì trong việc xây dựng nhân vật và thể hiện nội dung tư tưởng của truyện?

– Truyện được kể theo lời trần thuật của nhân vật “tôi” – là đồng đội của ông Sáu, người trực tiếp chứng kiến câu chuyện của cha con ông Sáu.

– Tác dụng của việc lựa chọn vai kể:

Góp phần giúp cho câu chuyện trở nên đáng tin cậy.

Nhân vật được nhìn nhận, đánh giá khách quan một cách khách quan hơn.

II. Luyện tập

Câu 1. Thái độ và hành động của bé Thu đối với ba rất trái ngược, trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi, nhưng vẫn nhất quán trong tính cách của nhân vật.

Gợi ý:

Dù là trước hay sau khi nhận cha, bé Thu vẫn dành cho cha một tình yêu thương sâu nặng, gắn bó.

Câu 2. Viết lại đoạn truyện kể về cuộc gặp gỡ cuối cùng của hai cha con ông Sáu theo lời hồi tưởng của một nhân vật khác.

Gợi ý:

Hôm sau tôi theo ngoại về nhà, nhưng nhìn ba chuẩn bị xong đồ đạc chuẩn bị rời đi, tôi chỉ biết đứng nép ở một góc. Trước khi đi, ba đến bên và nói: “Thôi, ba đi nghe con!” Trong khoảnh khắc ấy, tôi thốt lên một tiếng: “Ba!” . Tôi vừa khóc vừa ôm lấy ba không muốn rời.

Trước khi đi, tôi còn đòi ba mua cho một cái lược. Trong một lần chiến đấu, ba bị bắn trọng thương và hy sinh. Bác Ba đồng đội của ba đã gặp và trao cho tôi t chiếc lược ngà – kỉ vật mà ba tôi để lại, bên trên có khắc dòng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.

Soạn bài Chiếc lược ngà – Mẫu 2

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Kể tóm tắt cốt truyện của văn bản đoạn trích. Tình huống nào đã bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu?

– Tóm tắt: Ông Sáu được đơn vị cho về thăm vợ con sau nhiều năm xa cách. Nhưng đứa con gái của ông là bé Thu lại không nhận ra cha chỉ vì vết sẹo dài trên má của ông. Ông Sáu rất buồn bã trước sự lạnh nhạt của con gái. Trong ba ngày ở nhà, nếu ông Sáu luôn tìm cách để con gọi mình là ba, thì bé Thu lại lẩn tránh. Sau khi được bà ngoại giải thích về vết sẹo, bé Thu nhận ra ba. Cuộc chia tay của hai cha con diễn ra đầy xúc động. Sau này, ông Sáu hy sinh trong một trận càn của giặc, lúc hấp hối, ông trao cho anh Ba chiếc lược ngà mà ông làm tặng bé Thu.

– Tình huống: Cuộc gặp gỡ của ông Sáu và bé Thu sau nhiều năm xa cách. Nhưng bé Thu lại không chịu nhận ba, chỉ đến khi ông Sáu sắp phải trở lại chiến trường thì Thu mới nhận ra cha của mình.

Câu 2. Phân tích diễn biến tâm lý và tình cảm của bé Thu trong lần đầu gặp cha cuối cùng, khi ông Sáu được về phép. Qua đó hãy nhận xét về tính cách của nhân vật bé Thu và nghệ thuật miêu tả tâm lí của tác giả?

– Trước khi nhận ra cha:

Lúc mới gặp ông Sáu: “Con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác lạ lùng”.

Nhìn vết thẹo dài trên má ông Sáu nó càng hoảng hốt, sợ hãi “mặt nó tái đi, vụt chạy rồi kêu thét lên”.

Suốt ba ngày, con bé bộc lộ sự bướng bỉnh, nhất quyết không gọi ông Sáu bằng ba, chỉ nói trổng (khi mời ông Sáu ăn cơm, khi muốn nhờ ông chắt nước…).

Hất văng ra khỏi chén cái trứng cá ông Sáu gắp cho.

Bị ông Sáu đánh, nó bỏ sang nhà bà ngoại.

– Sau khi nhận ra cha:

Trước lúc ông Sáu đi, ba gọi tiếng ba đầu tiên, xé lòng như thét lên: “Ba…a…a… Ba!”. Tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao năm nay, tiếng ba như vỡ tung từ đáy lòng nó.

Nó vừa kêu “vừa chạy xô tới”, “dang tay ôm chặt cổ, nó hôn ba nó cùng khắp, nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết sẹo dài trên má ba nó nữa”, “dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó” (muốn giữ ba nó ở lại), khóc mếu máo với lời dặn “ba mua cho con một cái lược, nghe ba”.

Câu 3. Tình cảm cha con sâu nặng và cao đẹp ở ông Sáu đối với con đã được thể hiện qua những chi tiết, sự việc nào? Điều đó bộc lộ thêm nét đẹp gì trong tâm hồn của người cán bộ cách mạng ấy.

– Trong những năm xa nhà, ông Sáu luôn nhớ con, khát khao gặp con.

– Khi được trở về thăm con: Xuồng chưa cập bến, ông Sáu đã nhảy lên bờ gọi, đưa tay đón con, rất xúc động làm vết thẹo đỏ ửng giần giật, “giọng lắp bắp, run run”.

– Khi bé Thu chạy vụt đi, hét lên hoảng hốt, sợ hãi: “nỗi đau đớn khiến mặt anh tối sầm lại trông rất đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

– Trong ba ngày phép, càng muốn gần gũi, yêu thương con, bé Thu càng lảng tránh, lạnh lùng, vô lễ. Ông càng đau khổ hơn (tám năm mới được gặp con, những ngày phép ngắn dần mà con không chịu nhận ba, không một lần được ôm con trìu mến…)

– Lúc chia tay, ông Sáu muốn ôm hôn con nhưng sợ con không chịu, ông chỉ nhìn con bằng đôi mắt “trìu mến lẫn buồn rầu”. Khi Thu nhận cha, ông Sáu đã khóc vì sung sướng và xúc động.

– Lúc ở rừng, tại khu căn cứ: ông Sáu sung sướng khi tìm được khúc ngày (“hớt hải chạy về”, “hớn hở như trẻ con được quà”); lúc rỗi ông “cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”, khắc dòng chữ nhỏ với bao tình cảm “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”

– Lúc nhớ con, “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”, có cây lược ông càng mong gặp con.

– Trong giờ phút cuối cùng, tình cha con vẫn da diết “không đủ sức trăn trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Ông gửi cây lược cho đồng đội nhờ đưa cho con, lúc ấy mới nhắm mắt xuôi tay.

Câu 4. Truyện được kể theo lời trần thuật của nhân vật nào? Cách chọn vai kể như vậy có tác dụng gì trong việc xây dựng nhân vật và thể hiện nội dung tư tưởng của truyện?

– Truyện được kể theo lời trần thuật của nhân vật “tôi” – là đồng đội của ông Sáu, người trực tiếp chứng kiến câu chuyện của cha con ông Sáu.

– Việc lựa chọn vai kể góp phần giúp cho câu chuyện trở nên đáng tin cậy, nhân vật được nhìn nhận, đánh giá khách quan một cách khách quan hơn.

II. Luyện tập

Câu 1. Thái độ và hành động của bé Thu đối với ba rất trái ngược, trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi, nhưng vẫn nhất quán trong tính cách của nhân vật.

Gợi ý:

Thái độ và hành động của bé Thu đối với ba rất trái ngược, trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi, nhưng vẫn nhất quán trong tính cách của nhân vật: Một tấm lòng yêu thương cha sâu sắc, mong muốn được gần gũi với người cha của mình.

Câu 2. Viết lại đoạn truyện kể về cuộc gặp gỡ cuối cùng của hai cha con ông Sáu theo lời hồi tưởng của một nhân vật khác.

Gợi ý:

Sáng hôm sau, tôi theo ngoại về nhà. Mọi người đến tạm biệt cha tôi rất đông. Tôi chỉ biết đứng nép vào một góc quan sát mọi việc. Trước khi đi, ba đến bên và nói: “Thôi, ba đi nghe con!”. Nghe vậy, tôi cất tiếng gọi: “Ba!”. Tôi chạy đến nhảy lên người ba, ôm chặt không muốn rời. Trước khi đi, tôi còn đòi ba mua cho một cái lược. Trong một lần chiến đấu, ba bị bắn trọng thương và hy sinh. Bác Ba đồng đội của ba đã gặp và trao cho tôi môt chiếc lược ngà – kỉ vật mà ba tôi để lại, bên trên có khắc dòng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Tôi nhận lấy mà cảm thấy xúc động, thương nhớ về người cha của mình.

Advertisement

Soạn bài Chiếc lược ngà – Mẫu 3

Câu 1.

– Kể tóm tắt cốt truyện của văn bản đoạn trích: Ông Sáu được đơn vị cho về thăm nhà. Suốt chặng đường, ông cảm thấy bồi hồi vì sắp được gặp con gái. Nhưng đến khi trở về, bé Thu lại không chịu nhận cha. Trong ba ngày ở nhà, ông luôn tìm cách để con gọi một tiếng “ba”. Nhưng Thu không chịu, còn giận dỗi bỏ sang nhà bà ngoại. Khi được bà ngoại giải thích về vết sẹo, bé Thu mới nhận ra ba. Nhưng đến lúc, ông Sáu cũng phải trở lại chiến trường.

– Tình huống đã bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu: Cuộc gặp gỡ của ông Sáu và bé Thu sau nhiều năm xa cách. Nhưng bé Thu lại không chịu nhận ba, chỉ đến khi ông Sáu sắp phải trở lại chiến trường thì Thu mới nhận ra cha của mình.

Câu 2.

Phân tích diễn biến tâm lý và tình cảm của bé Thu trong lần đầu gặp cha cuối cùng, khi ông Sáu được về phép:

– Trước khi nhận ra cha:

Lúc mới gặp ông Sáu: “Con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác lạ lùng”.

Nhìn vết thẹo dài trên má ông Sáu nó càng hoảng hốt, sợ hãi “mặt nó tái đi, vụt chạy rồi kêu thét lên”.

Suốt ba ngày, con bé bộc lộ sự bướng bỉnh, nhất quyết không gọi ông Sáu bằng ba, chỉ nói trổng (khi mời ông Sáu ăn cơm, khi muốn nhờ ông chắt nước…).

Hất văng ra khỏi chén cái trứng cá ông Sáu gắp cho

Bị ông Sáu đánh, nó bỏ sang nhà bà ngoại.

– Sau khi nhận ra cha:

Trước lúc ông Sáu đi, ba gọi tiếng ba đầu tiên, xé lòng như thét lên: “Ba…a…a… Ba!”. Tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao năm nay, tiếng ba như vỡ tung từ đáy lòng nó.

Nó vừa kêu “vừa chạy xô tới”, “dang tay ôm chặt cổ, nó hôn ba nó cùng khắp, nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết sẹo dài trên má ba nó nữa”, “dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó” (muốn giữ ba nó ở lại), khóc mếu máo với lời dặn “ba mua cho con một cái lược, nghe ba”.

Nhận xét về tính cách của nhân vật bé Thu và nghệ thuật miêu tả tâm lí của tác giả:

Bé Thu bộc lộ sự ương ngạnh, bướng bỉnh vừa đáng giận vừa đáng thương nhưng không đáng trách.

Nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế, tài tình.

Câu 3.

– Tình cảm cha con sâu nặng và cao đẹp ở ông Sáu đối với con đã được thể hiện qua những chi tiết, sự việc:

Trong những năm xa nhà, ông Sáu luôn nhớ con, khát khao gặp con.

Khi được trở về thăm con: Xuồng chưa cập bến, ông Sáu đã nhảy lên bờ gọi, đưa tay đón con, rất xúc động làm vết thẹo đỏ ửng giần giật, “giọng lắp bắp, run run”.

Khi bé Thu chạy vụt đi, hét lên hoảng hốt, sợ hãi: “nỗi đau đớn khiến mặt anh tối sầm lại trông rất đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

Trong ba ngày phép, càng muốn gần gũi, yêu thương con, bé Thu càng lảng tránh, lạnh lùng, vô lễ. Ông càng đau khổ hơn (tám năm mới được gặp con, những ngày phép ngắn dần mà con không chịu nhận ba, không một lần được ôm con trìu mến…)

Lúc chia tay, ông Sáu muốn ôm hôn con nhưng sợ con không chịu, ông chỉ nhìn con bằng đôi mắt “trìu mến lẫn buồn rầu”. Khi Thu nhận cha, ông Sáu đã khóc vì sung sướng và xúc động.

Lúc ở rừng, tại khu căn cứ: ông Sáu sung sướng khi tìm được khúc ngày (“hớt hải chạy về”, “hớn hở như trẻ con được quà”); lúc rỗi ông “cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”, khắc dòng chữ nhỏ với bao tình cảm “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”

Lúc nhớ con, “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”, có cây lược ông càng mong gặp con.

Trong giờ phút cuối cùng, tình cha con vẫn da diết “không đủ sức trăn trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Ông gửi cây lược cho đồng đội nhờ đưa cho con, lúc ấy mới nhắm mắt xuôi tay.

– Điều đó bộc lộ thêm nét trong tâm hồn của người cán bộ cách mạng ấy: Một con người giàu tình cảm, hết mực yêu thương con.

Câu 4.

– Truyện được kể theo lời trần thuật của nhân vật “tôi” – là đồng đội của ông Sáu, người trực tiếp chứng kiến câu chuyện của cha con ông Sáu.

– Việc lựa chọn vai kể góp phần giúp cho câu chuyện trở nên đáng tin cậy, nhân vật được nhìn nhận, đánh giá khách quan một cách khách quan hơn.

Soạn Bài: Cụm Danh Từ

– KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1. Khái niệm về cụm danh từ

– Cụm danh từ (còn được gọi là ngữ danh từ, nhóm danh từ, danh ngữ) là một tập hợp tự do danh từ với một số từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành (Từ ngữ phụ thuộc được gọi là phụ ngữ).

– So với danh từ, cụm danh từ có ý nghĩa cụ thể hơn, chi tiết hơn và có cấu tạo phức tạp hơn. Cụm danh từ đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp giống như danh từ (làm chủ ngữ, phụ ngữ động từ…).

– Quan hệ giữa dành từ trung tâm với các phụ ngữ đứng trước hoặc đứng sau danh từ trung tâm ấy là quan hệ chính phụ.

2. Cấu tạo của cụm danh từ

– Về cấu tạo, cụm danh từ có thể có cấu tạo đầy đủ hoặc không đầy đủ

+ Dạng cấu tạo dẩy dủ:

Phần trước

Phần trung tâm

Phần sau

một

ngôi nhà

vững chãi

+ Dạng cấu tạo đầy đủ:

Phần trung tâm

ngôi nhà

Phần sau

vững chãi

– Chú ý:

+ Phần trung tâm còn được gọi là: chính tố, danh từ trung tâm, danh từ chính,…

+ Phụ ngữ trước còn được gọi là: phụ tố trước, phụ ngữ trước,…

+ Phụ ngữ sau còn được gọi là: phụ tố sau, phụ ngữ sau,…

II – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. Em đọc kĩ từng câu, gạch dưới các danh từ trong từng câu đó. Sau đó, xem danh từ nào có những từ ngữ phụ thuộc nó đi kèm (đứng trước và sau nó). Tập hợp từ gồm danh từ và các từ ngữ đi kèm đó chính là cụm danh từ. Cụ thể như sau:

a) Vua cha yêu thương Mi Nương hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng.

Như vây : một người chồng thật xứng đáng là cụm danh từ.

b) Gia tài chỉ có một lưỡi búa của cha để lại.

Cụm danh từ : một lưỡi búa của cha để lại

c) Đai bàng nguyên là một con vêu tinh ở trên núi, có nhiều phép lạ.

Cụm danh từ: một con yêu tinh ở trên núi, có nhiều phép lạ

2. – Ở từng cụm danh từ tìm được, em xác định đâu là phần trung tâm, đâu là phần trước, phần sau. Sau đó, dựa vào mô hình cụm danh từ trong SGK, trang 118, em điền từng cụm danh từ tìm được vào vị trí thích hợp trong mô hình.

– Cụ thể, các cụm danh từ này được điền vào mô hình như sau:

Phần trước

Phần trung tâm

Phần sau

t2

t1

T1

T2

s1

s2

một

người

chồng

thật xứng đáng

một

lưỡi

búa

của cha để lại

một

con

yêu tinh

ở trên núi, có nhiều phép lạ

3. – Phần trích trong đề bài có ba chỗ trống, Ở mỗi chỗ trống, em cần tìm phụ ngữ đứng sau danh từ chính. (Danh từ chính ở cả ba trường hợp này đều là từ thanh sắt. Như vậy, em cần tìm phụ ngữ đứng sau danh từ thanh sắt, sao cho phù hợp với nội dung câu vãn, đoạn văn; nhất là phù hợp với logic phát triển nội dung câu chuyện).

– Điền các phụ ngữ thích hợp vào chỗ trống, ta được :

+ Chàng vứt luôn thanh sắt ấy xuống nước.

+ Thận không ngờ thanh sắt vừa rồi lại chui vào lưới mình.

+ Lần thứ ha, vẫn thanh sắt cũ mắc vào lưới.

Cập nhật thông tin chi tiết về 6 Bài Soạn “Phương Pháp Tả Cảnh” Lớp 6 Hay Nhất trên website Krxx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!