Xu Hướng 2/2024 # 17 Sự Thật Thú Vị Về Tình Yêu Mà Nhiều Anh Em Vẫn Chưa Biết # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 17 Sự Thật Thú Vị Về Tình Yêu Mà Nhiều Anh Em Vẫn Chưa Biết được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Krxx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tình yêu không chỉ là sự rung động của hai con tim. Nó còn chứa đựng những sự thật thú vị mà chỉ khi yêu thật sự anh em mới cảm nhận được.

Hôm nay tôi sẽ kể các ông một số lý thuyết thú vị và sự thật về tình yêu để giải thích về hiện tượng hấp dẫn này mà không xua tan sự lãng mạn vốn có của nó.

1. Mối quan hệ một vợ một chồng tồn tại khắp vương quốc động vật

Không chỉ con người, sói, thiên nga, vượn, bồ câu, hải âu,… cũng là những động vật chung thủy, và sống chung với nửa kia suốt đời.

2. Có tối đa 4 phút để quyết định anh em có thích ai đó hay không

3. Khi hai người yêu nhau nhìn nhau, nhịp tim của họ đồng bộ hóa

Các cặp đôi đang yêu sẽ đồng bộ hóa nhịp tim sau khi nhìn chằm chằm vào mắt nhau trong ba phút.

Mấy ông khoa học nào chứng minh được cái này thì cũng ghê thật. Anh em có đối tượng nào thử chưa?

4. Tình yêu có tính chất gây nghiện như Cocaine

Tình yêu tạo ra một số hóa chất gây hưng phấn kích thích 12 vùng não cùng một lúc.

5. Ôm ấp người yêu tạo ra thuốc giảm đau tự nhiên

Hóc môn tình yêu Oxytocin được tạo ra khi hai người yêu nhau âu yếm, ôm ấp nhau tạo ra thuốc giảm đau tự nhiên kéo dài tận 4 giờ.

6. Thậm chí nhìn vào bức ảnh của một người thân yêu cũng có thể làm giảm cơn đau

Chỉ với bức ảnh của người yêu, anh em cũng có thể giảm cơn đau đi nhiều lần.

Nói vậy thôi chứ có bị thương thì đi băng bó vết thương chứ không có lấy ảnh người yêu ra dòm nha mấy ông.

7. Những người có cùng đẳng cấp hấp dẫn nhau hơn và có khả năng đi đến kết thúc có hậu cùng nhau hơn

Mọi người có xu hướng bị hấp dẫn bởi những người có cùng độ hấp dẫn và cùng địa vị xã hội.

8. Những cặp đôi quá giống nhau không có khả năng kéo dài

Các cặp vợ chồng quá giống nhau hoặc quá khác nhau có xu hướng không gắn kết lâu.

Sự tương đồng là nền tảng của mối quan hệ nhưng cũng có những điều cả hai cần học hỏi lẫn nhau.

9. Trái tim tan vỡ không chỉ là hình ảnh ẩn dụ

Khi gặp phải các sự kiện tiêu cực như chia tay, ly dị, mất người thân hoặc phản bội có thể gây ra những cơn đau thực sự ở tim, đau ngực và khó thở.

Tình trạng này thường bị chẩn đoán nhầm là đau tim và có xu hướng ảnh hưởng đến phụ nữ thường xuyên hơn.

10. Những người đang yêu có những điểm tương đồng về hóa học với những người mắc chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế

Đó là lý do ông bà hay nói yêu quá hóa điên đấy.

11. Thường xuyên nghĩ về tình yêu và sex giúp bạn sáng tạo hơn

Tình yêu ảnh hưởng đến tư duy trừu tượng và sáng tạo bởi chúng gắn liền với những dự định và trừu tượng.

12. Thu hút + Quan tâm + Thân mật = Tình yêu hoàn hảo

Có ba công thức kết hợp của tình yêu: tình yêu lãng mạn = đam mê + thân mật, tình yêu đồng hành = thân mật + cam kết, và tình yêu mệt mỏi = đam mê + cam kết.

13. Một khuôn mặt hấp dẫn được ưa thích hơn một cơ thể hấp dẫn cho các mối quan hệ lâu dài

Sự thật thú vị về tình yêu nữa là điều ngược lại lại là chân lý với những người tìm kiếm một mối quan hệ thể xác ngắn hạn.

14. Nắm tay một người yêu thương làm giảm đau và căng thẳng

Các cặp vợ chồng lâu năm có thể xoa dịu nỗi đau của nhau chỉ bằng cách nắm tay.

15. Thể hiện lòng biết ơn đối với những người anh em yêu thương sẽ tăng hạnh phúc ngay lập tức

16. Lo lắng đứng ngồi không yên, được gây ra bởi Adrenaline khi anh em đang yêu hoặc lo lắng cho người yêu

Cảm giác này tương tự như khi đang bay hoặc chiến đấu.

17. Nhìn sâu vào đôi mắt có thể khiến người lạ phải lòng nhau

Đôi mắt của chúng có thể khiến chúng ta phải lòng nhau, ngay cả khi cả hai không biết gì về nhau.

Nhưng nhìn chằm chằm vào điểm nhạy cảm một cô gái có thể đem lại kết quả ngược lại đấy.

Tình yêu thật sự thu hút và sự thật thú vị về tình yêu cũng hấp dẫn không kém đúng không anh em.

Đăng bởi: Hiền Trần

13 Sự Thật Thú Vị Về Tháp Eiffel

Mục đích xây dựng tháp Eiffel

Chân tháp Eiffel

Mục đích xây dựng tháp Eiffel

Thời gian xây dựng tháp Eiffel

Chỉ mất năm tháng để xây dựng nền móng và 21 người để hoàn thành việc lắp ráp các mảnh kim loại của tháp Eiffel. Nếu xét về phương tiện thô sơ hiện có vào thời kỳ đó, đây có thể coi là tốc độ kỷ lục. Việc lắp ráp tháp là một sự chính xác kỳ diệu , như tất cả các nhà biên niên sử của thời kỳ đó đều đồng ý. Công việc xây dựng bắt đầu vào tháng 1 năm 1887 và hoàn thành vào ngày 31 tháng 3 năm 1889.

Toàn cảnh tháp Eiffel

Thời gian xây dựng tháp Eiffel

Tháp Eiffel có lượng khách du lịch khổng lồ

Chiều cao và hình dáng độc đáo của nó lơ lửng trên khung cảnh Paris đã nhanh chóng khiến tháp Eiffel trở thành một trong những điểm thu hút khách du lịch nhất ở Paris. Vận mệnh của Tháp gắn liền với vận mệnh của thành phố Paris, thủ đô của Pháp và chủ nhân của Tháp Eiffel.Tháp Eiffel đã thu hút sự chú ý và là nhà hát cho nhiều sự kiện trong cuộc sống của Paris nói riêng và Pháp nói chung: pháo hoa hoành tráng vào ngày 14 tháng 7 (“Ngày Bastille”), các sự kiện cấp quốc gia và các sự kiện thể thao quy mô lớn.

Có thể nhìn thấy tháp Eiffel từ nhiều điểm khác nhau xung quanh Paris và các vùng ngoại ô của nó. Nó được chụp ảnh, vẽ, quay phim và tái tạo trong mọi hoàn cảnh. Đây là đài tưởng niệm được chụp ảnh bởi tất cả du khách đến Paris. Nó tự nhiên chuyển sang vai trò tượng trưng cho nước Pháp trong trí tưởng tượng của tập thể, trong phim ảnh và nghệ thuật đồ họa mà còn trong văn học và thơ ca.

Khách du lịch đến tham quan tháp Eiffel

Tháp Eiffel có lượng khách du lịch khổng lồ

Tháp Eiffel từng bị “phá hủy”

Trước khi Paris đầu hàng Đức trong Thế chiến thứ II, nhằm ngăn không cho kẻ thù thưởng thức quang cảnh thành phố từ trên cao, Pháp đã buộc phải “phá hủy” tháp Eiffel bằng cách làm vỡ hệ thống thang máy của tòa tháp này.

Giá trị của tháp Eiffel được thể hiện mạnh mẽ trong việc gửi và nhận tin nhắn không dây, đặc biệt là đối với quân đội Pháp. Điều này đã khiến thành phố gia hạn nhượng bộ Eiffel khi nó hết hạn vào năm 1909. Ngày nay, hơn 100 ăng-ten trên tháp vẫn phát sóng radio và truyền hình trên khắp thế giới.

Tháp Eiffel từng bị “phá hủy”

Tháp Eiffel từng bị “phá hủy”

Tháp Eiffel được kết nối bởi đinh tán

Tất cả các mảnh kim loại của tháp được giữ với nhau bằng đinh tán, một phương pháp xây dựng tinh tế vào thời điểm tháp Eiffel được xây dựng. Đầu tiên các mảnh được lắp ráp trong nhà máy bằng cách sử dụng bu lông, sau đó được thay thế từng cái một bằng đinh tán được lắp ráp nhiệt, co lại trong quá trình làm mát do đó đảm bảo rất vừa vặn. Cần một đội gồm bốn người cho mỗi đinh tán được lắp ráp: một người để làm nóng nó, một người khác để giữ nó tại chỗ, một người thứ ba để tạo hình đầu và một người thứ tư để đập nó bằng búa tạ. Chỉ một phần ba trong số 2.500.000 đinh tán được sử dụng trong việc xây dựng Tháp được lắp trực tiếp tại chỗ.

Các cột trụ nằm trên nền bê tông được lắp đặt dưới mặt đất vài mét trên một lớp sỏi đã được nén chặt. Mỗi cạnh góc nằm trên khối đỡ riêng của nó, tác dụng lên nó một áp lực từ 3 đến 4 kg trên một cm vuông, và mỗi khối được nối với các khối khác bằng các bức tường. Ở phía sông Seine, những người xây dựng đã sử dụng các caissons kim loại kín nước và bơm khí nén vào để chúng có thể hoạt động dưới nước.

Tháp Eiffel được lắp ráp bằng cách sử dụng giàn giáo gỗ và cần cẩu hơi nước nhỏ gắn trên tháp. Việc lắp ráp đầu tiên được thực hiện bằng cách sử dụng mười hai giàn giáo bằng gỗ tạm thời, cao 30 mét, và bốn giàn giáo lớn hơn 40 mét mỗi giàn. “Hộp cát” và kích thủy lực được thay thế sau khi sử dụng bằng nêm cố định cho phép định vị các dầm kim loại với độ chính xác đến từng milimet. Ngày 7 tháng 12 năm 1887 , việc ghép các dầm chính lên cấp đầu tiên được hoàn thành. Các mảnh được kéo lên bằng cần cẩu hơi nước, chúng tự leo lên Tháp khi chúng đi cùng với các thanh chạy được sử dụng cho thang máy của Tháp.

Tháp Eiffel vào mùa đông

Tháp Eiffel được kết nối bởi đinh tán

Công trình kiến trúc với nhiều bản sao

Tháp Eiffel là di tích mang tính biểu tượng nhất của Paris và trên thế giới cũng vậy. Kể từ đầu thế kỷ 20 tháp Eiffel đã là nguồn cảm hứng cho việc tạo ra hơn 30 tòa tháp có thiết kế tương tự trên khắp thế giới. Một số trong số đó đáng ngạc nhiên như chúng là bản gốc!Các bản sao từ tháp Eiffel đã được sáng tạo ở rất nhiều nơi trên thế giới như Las Vegas (Mỹ), Trung Quốc, Rumani, Copenhagen (Đan Mạch), Varna (Bungari), Aktau (Kazakhstan)…

Bản sao lâu đời nhất của Tháp Eiffel là Blackpool Tower, ở miền bắc nước Anh. Được xây dựng vào năm 1894, nó cao 158 m. Một sự bắt chước sẽ được theo sau một vài năm sau đó ở London bởi Tháp của Watkin , mà sẽ không bao giờ hoàn thành…Bản sao lớn nhất (165 mét), cũng là bản sao được biết đến nhiều nhất, là của Las Vegas .

Nhưng một trong những bản sao đáng ngạc nhiên bởi độ giống với bản gốc nhất là nó nằm ở làng Parizh, ở Nga . Nó thực sự là một ăng-ten điện thoại di động, được chế tạo vào năm 2005. Người châu Á cũng rất yêu thích tháp Eiffel và cũng có rất nhiều bản sao. Trong đó, phiên bản được biết đến nhiều nhất là ở Tokyo, được xây dựng vào năm 1958, và có chiều dài 333 mét, hơn 9m so với “người anh em” ở Paris của nó.

Bản sao tháp Eiffel ở Trung Quốc

Bản sao của tháp Eiffel tại Nga

Sự rực rỡ của tháp Eiffel

Kể từ năm 1958, bằng cách thay thế 1.290 máy chiếu đang hoạt động chiếu sáng tháp từ bên ngoài, chúng đã làm nổi bật cấu trúc kim loại tốt của di tích và chiếu sáng các khu vực được du khách sử dụng vào ban đêm cho đến khi tháp Eiffel đóng cửa cho công chúng. Ngoài khía cạnh thẩm mỹ, việc đảm bảo an ninh cho hoạt động đêm khuya của tòa tháp cũng cần thiết không kém.

Sự rực rỡ của tháp Eiffel

Sự rực rỡ của tháp Eiffel

Tháp Eiffel có thang máy

Các thang máy từ thời kỳ 1889 của tháp Eiffel vẫn được giữ nguyên cho đến thời điểm này. Đến tháng 11/2011, chỉ còn hai trong số 3 thang máy dành cho du khách vẫn còn hoạt động. Điều đó làm giảm số lượng du khách đến tham quan tháp. Công cuộc hiện đại hóa các thang máy của tháp Eiffel dự kiến sẽ được hoàn tất trong 2 năm nhưng thời gian thực tế lại chênh lệch hơn đến 4 năm so với dự kiến.Chỉ riêng việc tái thiết kế hệ thống thủy lực của tháp đã ngốn hết 36 triệu Euro kinh phí.

Cải tạo thang máy Tháp Eiffel bắt đầu vào tháng 10 năm 2008, công việc trên thang máy phía tây được kết thúc vào năm 2014. Vì sự hiện đại của tháp phải đi đôi với tuổi thọ và độ bền nên SETE (Société d’Exploitation de la tour Eiffel), hay Công ty Điều hành Tháp, đã ưu tiên một giải pháp có thể bảo vệ di sản tốt nhất. Giải pháp này sẽ cho phép thang máy của tháp quay trở lại nguyên tắc thủy lực mà các kỹ sư đã thiết kế ban đầu vào năm 1899. Đồng thời củng cố sự ra đời của hệ thống tự động.

Giải pháp này giúp thực hiện chính sách phát triển lâu bền và để góp phần hạn chế lượng khí thải carbon của di tích, SETE đã tuân thủ một nguyên tắc cải tạo mang lại một số ưu điểm: hệ thống thủy lực sẽ được cung cấp nhiên liệu bởi chất thân thiện với môi trường và sẽ giảm đáng kể lượng nước tiêu thụ trong quá trình làm mát. Với cùng mức tiêu thụ điện (300KW), thang máy Tháp Eiffel sẽ có khả năng vận chuyển tới 110 hành khách (thay vì 92 như hiện tại) với tốc độ 2 mét / giây.

Hệ thống thang máy của tháp Eiffel

Tháp Eiffel có thang máy

Màu sơn của tháp Eiffel

Biểu tượng của Paris ban đầu có màu sơn vàng. Thế nhưng, kể từ năm 1953 đến 1961, người ta dùng màu nâu đỏ cho công trình kiến trúc hoành tráng này. Cứ 7 năm một lần, tháp sẽ “khoác” lớp sơn mới để tránh gỉ. Và như vậy, tháp Eiffel sẽ “ngốn” khoảng 60 tấn sơn cho mỗi lần thay áo.

Được xây dựng bằng sắt vũng nước, tháp Eiffel được bảo vệ khỏi quá trình oxy hóa bằng nhiều lớp sơn để đảm bảo rằng nó tồn tại mãi mãi. Tháp đã được sơn lại 19 lần kể từ khi xây dựng lần đầu, trung bình cứ bảy năm một lần. Nó đã thay đổi màu sắc nhiều lần, chuyển từ màu nâu đỏ sang màu vàng đất, sau đó đến màu nâu hạt dẻ và cuối cùng là màu đồng ngày nay, được tô bóng một chút về phía trên để đảm bảo rằng màu sắc được nhìn nhận là giống nhau hoàn toàn. khi nó đứng trên bầu trời Paris.

Các màu sơn của tháp Eiffel qua từng năm: 1887/88: màu sơn “đỏ Venice”, được áp dụng trong xưởng trước khi các bộ phận được lắp ráp. Năm 1889: phủ một lớp áo rất dày, màu nâu đỏ. Năm 1892: tháp được chuyển sang “màu nâu đất”. Năm 1899: một chiếc áo khoác gồm 5 màu được sơn với tông màu bóng mờ từ vàng cam ở gốc đến vàng nhạt ở trên cùng. Sau chiến dịch sơn lại này, chu kỳ 7 năm đã được thông qua để làm mới lớp sơn. 1907-1917-1924-1932-1939-1947: màu được gọi là “vàng nâu”. Việc sơn lại năm 1917 bị trì hoãn vì chiến tranh. 1954-61: màu mới cho Tháp Eiffel: “nâu đỏ”. Từ năm 1968: màu “Nâu của Tháp Eiffel” được chọn để hài hòa với cảnh quan thành phố Paris. Nó được áp dụng với ba tông màu bóng mờ, với màu tối nhất ở dưới cùng và màu sáng nhất ở trên cùng.

Cứ 7 năm, tháp Eiffel sẽ được sơn mới lại 1 lần

Màu sơn của tháp Eiffel

Vai trò của tháp Eiffel

Tháp Eiffel nhìn từ xa

Vai trò của tháp Eiffel

Người Pháp đã từng rất ghét tháp Eiffel

Người Pháp ban đầu đặc biệt khó chịu với sự hiện diện của tháp Eiffel và thậm chí, một vài nhóm kiến trúc sư và học giả đã ký văn bản phản đối xây dựng tòa tháp. Họ gọi đây là công trình “vô dụng” và “quái dị”. Tuy nhiên, sau đó tháp Eiffel lại trở thành biểu tượng của nước Pháp mà mỗi khi nhắc đến nước Pháp, người ta ngay lập tức có thể liên tưởng đến!

Ngay cả trước khi kết thúc việc xây dựng, tòa tháp đã trở thành tâm điểm của nhiều cuộc tranh luận. Được bao bọc bởi những lời chỉ trích từ những tên tuổi lớn nhất trong thế giới Văn học và Nghệ thuật, tháp Eifel đã cố gắng giữ vững lập trường và đạt được thành công xứng đáng. Nhiều tờ rơi và bài báo khác nhau đã được xuất bản trong suốt năm 1886, le 14 février 1887, la phản đối các nghệ sĩ.

“Cuộc biểu tình chống lại Tháp của Monsieur Eiffel”, được đăng trên báo Le Temps, được gửi tới Giám đốc công trình của Hội chợ Thế giới, Monsieur Alphand. Nó được ký bởi một số tên tuổi lớn từ thế giới văn học và nghệ thuật: Charles Gounod, Guy de Maupassant, Alexandre Dumas junior, François Coppée, Leconte de Lisle, Sully Prudhomme, William Bouguereau, Ernest Meissonier, Victorien Sardou, Charles Garnier và những người khác người mà hậu thế đã ít tử tế hơn.

Người Pháp đã từng rất ghét tháp Eiffel

Người Pháp đã từng rất ghét tháp Eiffel

Chiều cao của tháp Eiffel

Kể cả ăng-ten trên đỉnh thì tháp Eiffel chỉ cao 324m nhưng nó vẫn làcông trình cao nhất nước Pháp hiện nay. Được chọn trong số 107 dự án, dự án của doanh nhân Gustave Eiffel, hai kỹ sư Maurice Koechlin, Emile Nouguier và kiến trúc sư Stephen Sauvestre đã được chấp nhận.

Emile Nouguier và Maurice Koechlin, hai kỹ sư trưởng của công ty Eiffel, đã lên ý tưởng cho một tòa tháp rất cao vào tháng 6 năm 1884. Nó được thiết kế giống như một cột tháp lớn với bốn cột dầm làm việc bằng lưới, được tách ra ở chân và kết hợp với nhau. Ở trên cùng, các chi tiết được liên kết với nhau bằng nhiều dầm kim loại hơn trong những khoảng thời gian đều đặn.

Dự án tháp là một phần mở rộng táo bạo lên đến chiều cao 300 mét – tương đương với con số biểu tượng là 1000 feet. Vào tháng 9 năm 1884 Eiffel đã đăng ký bằng sáng chế “cho một cấu hình mới cho phép xây dựng các giá đỡ và giá treo bằng kim loại có khả năng vượt quá độ cao 300 mét”. Để làm cho dự án trở nên dễ chấp nhận hơn với dư luận, Nouguier và Koechlin đã ủy quyền cho kiến trúc sư Stephen Sauvestre làm công việc tạo hình cho dự án.

Tổng chiều cao của tháp Eiffel là 324m

Chiều cao của tháp Eiffel

Đăng bởi: Như Dương Thanh Quỳnh

Từ khoá: 13 sự thật thú vị về tháp Eiffel

Những Điều Thú Vị Về Châu Âu Mà Bạn Chưa Từng Biết

Châu Âu luôn được xem là châu lục có nền văn hóa đặc sắc cũng như văn minh đô thị hiện đại bậc nhất thế giới hiện nay. Mang trong mình một bề dày lịch sử với nhiều thăng trầm và biến cố, Châu Âu là nơi hiện diện của những tòa lâu đài cổ kính, những cung điện uy nga đi cùng những câu chuyện thần thoại lien quan đến nó. Du lịch Châu Âu khám phá từ kiến trúc đến mỹ thuật và cả những điệu nhảy truyền thống nơi đây luôn là những điều hấp dẫn, khơi gợi niềm đam mê khám phá của rất nhiều du khách đến từ phần còn lại của thế giới.

Istanbul, thành phố nằm trên cả 2 châu lục

Từ rất lâu rồi, Istanbul bí ẩn vẫn lặng yên nằm cạnh eo biển Bosphorus với sứ mệnh kết nối Châu Á và Châu Âu. Vì vậy, không có gì nghi ngờ khi nói thành phố này là một trong những nơi đón hoàng hôn đẹp nhất trên trái đất. Năm 2010, Istanbul vinh dự được chọn làm thủ đô văn hóa của Châu Âu thong qua quyết định của đại diện nghị viện Châu Âu, ủy ban Châu Âu và Hội đồng Châu Âu.

Xuyên suốt chiều dài lịch sử, thành phố này đã trải qua nhiều đời đế chế hung mạnh trên toàn thế giới. Như Napoleon Bonaparte từng nói “Nếu Trái Đất là một quốc gia đơn lẻ, thì Istanbul ắt hẳn sẽ là thủ đô của nó.”

Và nếu bạn là một du khách ưa xê dịch thì một điều thú vị đầy bất ngờ nhất định nên trải nghiệm tại chuyến du lịch Châu Âu đó là thưởng thức bữa ăn sáng ở Châu Á và ăn trưa ngay tại Istanbul – Châu Âu đấy.

Nơi cư trú của nhiều núi lửa nổi tiếng và vẫn còn hoạt động

Etna là ngọn núi lửa lớn nhất ở Châu Âu vẫn hoạt động cho tới thời điểm hiện nay. Với chiều cao tối đa khoảng 3350m, núi Etna là một núi lửa dạng tầng nằm ở mạn đông đảo Sicilia, Italia.

Núi lửa cao nhất Châu Âu này thực sự là một trong những ngọn núi lửa hoạt động mạnh nhất trên thế giới. Etna bất ngờ hoạt động trở lại vào năm ngoái và một trong những vụ phun trào gần đây xảy ra vào cuối tháng 7 vừa qua.

Stromboli cũng là một trong những ngọn núi lửa hoạt động mạnh mẽ nhất của Trái đất. Đây là một trong tám quần đảo Aeonlian và là một quần đảo núi lửa nằm ngoài biển khơi. Theo các chuyên gia, trước khi Etna thức tỉnh thì Stromboli được cho là ngọn núi lửa duy nhất còn hoạt động trên lục địa Châu Âu.

Ngoài ra còn một ngọn núi lửa nữa dù đang ngủ yên nhưng cũng đã để lại dấu ấn đặc biệt khi cách đây 67 năm, vào năm 1944 núi Vesuvius đã nổi tiếng với vụ phun trào phá hủy hoàn toàn Pompeii và Herculaneum (Italia)

Quốc gia lớn nhất và nhỏ nhất của thế giới

Châu Âu vinh hạnh khi có đất nước nhỏ bé Vatican  và một phần của lãnh thổ Nga rộng lớn. Theo như thống kê của CIA World Factbook, tổng lãnh thổ của Nga lên đến 17,098,242 km2  trong khi đó diện tích của Vatican chỉ có 0,44 km2. Tuy là quốc gia nhỏ nhất thế giới nhưng Vatican được công nhận là trung tâm di sản thế giới của UNESCO.

Nghĩa Trang Vui Vẻ ở Romania

Nói về nghĩa trang sẽ chẳng có từ ngữ nào vui vẻ hay giải trí để mô tả thế nhưng ở phía bắc quốc gia Romania, tại thị trấn Sapanta lại có một nghĩa trang lạ đời như vậy. Là một di sản thế giới được UNESCO công nhận, Nghĩa Trang Vui Vẻ còn là một điểm đến thu hút khách du lịch. Vậy điều gì bất thường ở đây ? Đó chính là những thiết kế không bình thường của các bia mộ. Chúng được vẽ bằng tay với đủ màu sắc sinh động như đỏ, xanh dương, vàng, tím,.. trang trí xung quanh những ký tự hài hước, ngắn gọn mô tả cuộc sống hoặc hoàn cảnh sinh thời của người đã khuất.

Truyền thống này bắt đầu từ nghệ nhân Stan loan Patras, người Romania. Ông là người chuyên điêu khắc những cây thánh giá vào năm 1935. Theo như văn hóa cổ xưa của người Dacians, tổ tiên của người La Mã, họ coi cái chết là sự giải phóng và linh hồn là bất tử, vì vậy người dân Sapanta luôn giữ thái độ tích cực đối với cái chết và chào đón nó với một nụ cười.

Tượng Nữ Thần Tự Do là một món quà từ Pháp

Nhiều người không biết rằng, bức tượng nổi tiếng Nữ Thần Tự Do ở New York, Hoa Kỳ được thiết kế bởi kiến trúc sư người Pháp – Frédéric Bartholdi. Tác phẩm điêu khắc to lớn với phong cách tân cổ điển được xây dựng ở Pháp và trao tặng cho Hoa Kỳ như một món quà thể hiện tình bạn giữa 2 nước. Alexandre Gustave Eiffel, kỹ sư tài hoa đứng sau sự hào nhoáng của tháp Eiffel đã làm khung thép cho bức tượng khổng lồ này.

Chiều cao tổng thể của bức tượng là 93m và 7 tia trên vương miện Nữ Thần Tự Do đại diện cho 7 châu lục trên thế giới.

Ý nghĩa của “Châu Âu”

Nếu bạn yêu thích và có cơ hội trải nhiệm tour châu Âu thì nhất định không thể bỏ qua ý nghĩa tạo nên tên gọi của vùng đất xinh đẹp này.

Theo như thần thoại Hy Lạp cổ đại, Europa là một nàng công chúa xinh đẹp, con gái vua Agenor và hoàng hậu Telephassa của Libya. Vì rung động trước nhan sắc của nàng, thần Zeus tối cao đã hóa than mình thành một chú bò lông trắng, đến chơi với nàng để có được sự tin tưởng của cô công chúa. Khi công chúa vừa leo lên lưng chú bò thì ngay lập tức nàng được mang đến đảo Crete. Tới đây, nàng kết hôn với vua Asterion cũng là hóa than của thần Zeus và có với nhau 3 người con. Để bày tỏ long yêu mến của ngài dành cho Europa, thần Zeus đã quyết định lấy tên của nàng đặt cho một lục địa rộng lớn này và nó đã tồn tại mãi đến hôm nay. Nói theo nguyên văn thì từ Châu Âu có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại và có ý nghĩa là rộng lớn.

Địa Trung Hải từng là một sa mạc

Trong 40 năm qua, có bằng chứng cho rằng biển Địa Trung Hải đã từng cạn kiệt nước hoàn toàn trong quá khứ. Sự kiện này còn được gọi là Khủng hoảng muối Messinian. Khám phá tuyệt vời này được kể lại trong “Địa Trung Hải là một sa mạc, Chuyến đi của Glomar Challenge”, viết bởi Kennth J.Hsu

Theo Rob Butler “Khủng hoảng muối ở Địa Trung Hải là một trong những ví dụ điển hình nhất về thay đổi môi trường bên ngoài các khu vực băng hà khoảng sáu triệu năm trước

Những đế chế hùng mạnh nhất

Lịch sử Châu Âu đã ghi nhận được rất nhiều sự tồn tại của các đế chế mạnh nhất thời xa xưa, ví dụ điển hình là Vương Quốc Anh đã từng là một đế chế hung mạnh nhất thế giới. Với lực lượng bao gồm 36 triệu km2 diện tích và dân số khoảng 480 và 570 triệu người.  Vào thời kỳ đỉnh cao nhất của đế quốc Anh, người ta thường nói rằng “Mặt trời không bao giờ lặn trên lãnh thổ Anh” cho thấy được sự xâm chiếm thuộc địa của Anh rộng rãi trên toàn thế giới, độ khoảng ¼ bề măt Trái đất.

Ngoài ra còn các đế chế danh giá khác như là Đế quốc Tây Ban Nha, Đế quốc Nga, Đế quốc Pháp,..Đế chế La Mã cũng là một đế chế thuộc địa thời tiền sử, thường được miêu tả là cái nôi của nền văn minh hiện đại, là một trong những đế quốc thành công nhất lịch sử thế giới.

Những cái tên dài nhất

Tour Châu Âu ngoài sự hiện diện của những danh lam thắng cảnh nổi tiếng, những miền đất hứa xinh đẹp thì du khách cũng được “chiêm ngưỡng” những vùng đất với cái tên dài đằng đẵng gây thương nhớ trong lòng mỗi người. Có thể kể đến một ngôi làng ở xứ Wales, Vương Quốc Anh có tên với 58 chữ cái và đây là địa danh dài nhất Châu Âu. Llanfairpwllgwyllgogerychwyrndrobwllantysiliogogogoch, có nghĩa là “Nhà thờ Saint Mary tại thung lũng cây phỉ trắng gần xoáy nước và nhà thờ thánh Tysilio”

Cùng xem qua các tên lạ thường khác như: Ateritsiputeritsipuolilautatsijanka ở Phần Lan, Siemieniakowszczyzna ở Bồ Đào Nha và Newtonwnmountkennedy nằm tại Ireland.

Thời đại di cư

Đây vẫn là một trong những sự kiện mơ hồ nhất trong lịch sử Châu Âu. Có một giai đoạn hay được gọi là Thời kỳ di cư khi mà các bộ lạc khác nhau tràn sang Châu Âu sinh sống.

Giai đoạn đầu của phong trào di dân đã kết thúc khoảng 500 năm sau Công nguyên, khi các bộ lạc Germanic (Franks, Goths, Saxons, Vandals, Lombards,..) thành lập các vương quốc riêng ở Trung, Tây, Nam và Đông Nam Âu. Thời kỳ tiếp theo sẽ là giai đoạn thứ 2 (khoảng từ 500-700 năm sau Công nguyên), sự di dân của người Slavic.

Những cuộc xâm lăng của người Avar và người Bulgarian, sự chinh phục hồi giáo của Sicily và cuộc xăm lăng của người Viking đều là những khoảnh khắc quan trọng trong lịch sử Châu Âu.

Đó là tất cả cách lịch sử phong phú đã hình thành nên nền văn minh Châu Âu và những giá trị văn hóa phi vật thể của họ qua bao thế kỷ.

Những Sự Thật Thú Vị Về Kimono Nhật Bản

1. Những điều nên và không nên khi mặc kimono

Khi mặc Kimono, hãy đảm bảo vạt áo bên trái nằm trên vạt áo bên phải. Trong truyền thống và văn hóa Nhật Bản, chỉ những người đã mất mới để vạt áo bên phải lên trê. Đeo dải băng phía trước theo truyền thống là điều không thể bỏ qua đối với phụ nữ.

Ở Nhật Bản, phụ nữ độc thân và đã kết hôn nên mặc những bộ kimono khác nhau. Bằng cách đó, mọi người có thể dễ dàng hiểu ai đó còn độc thân hay đã kết hôn chỉ bằng cách nhìn vào bộ kimono.

2. Ý nghĩa của màu sắc và hoa văn kimono

Hình lục giác và hạc cho tuổi thọ

Con công và hoa tử đằng vì tình yêu

Quạt cho đám cưới

Trống Taiko cho niềm vui

Hoa Paulownia cho nữ tính

Vòng tròn chồng chéo: 7 viên ngọc Phật giáo

Kim cương kết nối: lá gai mọc nhanh, được sử dụng chủ yếu cho kimono của trẻ em.

Con hạc chủ yếu được sử dụng trong kimono đám cưới vì nó là biểu tượng của lòng trung thành, vận may và tuổi thọ. Tham chiếu về lòng trung thành xuất phát từ thực tế rằng sếu tự nhiên là sinh vật một vợ một chồng.

Hoa cúc được cho là loài hoa phổ biến nhất và cũng là biểu tượng của hoàng tộc.

Màu sắc của kimono cũng có ý nghĩa.

Màu xanh: bầu trời và đại dương

Màu đỏ: xua đuổi tà ma

Màu hồng: tuổi trẻ và mùa xuân

Màu tím: quý phái và mùa thu hoạch

Màu pastel chủ yếu dành cho mùa hè, màu tối cho mùa đông và màu sáng cho mùa xuân.

Kimono dành cho phụ nữ lớn tuổi có màu sắc khá đơn giản, ít hoặc không có họa tiết.

3. Sự thật thú vị khác về kimono

Khi bạn mặc kimono, về cơ bản bạn đang thực hành truyền thống 1.000 năm tuổi của Nhật Bản. Quần áo truyền thống, ở các nước khác, chỉ được mặc trong các cuộc diễu hành và lễ hội. Tuy nhiên, ở Nhật Bản, việc mặc bộ quần áo này trong các buổi họp mặt xã hội là điều khá bình thường, chẳng hạn như gặp gỡ bạn bè tại quán trà, tiệc tốt nghiệp, hôn lễ, v.v. Trong lịch sử, tất cả kimono dành cho người lớn chỉ có một kích cỡ. Vì mọi người khác nhau nên khi nói đến chiều cao, thật không dễ dàng để mặc bộ quần áo Nhật Bản này.

Hầu hết phụ nữ Nhật ngày nay không thể tự mình mặc một bộ kimono tinh túy vì nó đòi hỏi phải luyện tập và rèn luyện rất nhiều. Mặc yukata (kimono mùa hè), có sẵn ở các suối nước nóng và ryokans, khá dễ dàng. Mọi người Nhật đều có thể dễ dàng làm được.

Trang phục phương Tây, phần lớn, làm nổi bật hình dáng và sức hấp dẫn của phụ nữ bằng cách nhấn mạnh vào những đường cong. Mặt khác, kimono thì ngược lại. Không giống như những chiếc váy và trang phục được thiết kế theo phong cách phương Tây điển hình, kimono thể hiện cơ thể một cách thẳng thắn, lý tưởng và phù hợp với hình thể của phụ nữ Nhật Bản. Phần nhồi bên trong của kimono được thiết kế để làm cho cơ thể trông giống hình trụ hơn.

Hầu hết các cô gái trẻ Nhật Bản mà bạn nhìn thấy trên đường phố Kyoto mặc kimono thường là khách du lịch địa phương từ Tokyo hoặc Osaka đến thăm thành phố. Ở các thành phố khác ở Nhật Bản, hiếm khi phụ nữ của bạn mặc trang phục này, ngoại trừ ngày mừng tuổi và lễ tốt nghiệp của họ.

Một chiếc váy của Maiko (một geisha đang được đào tạo) có thể nặng hơn 10 kg. Nó có vô số lớp áo bên trong để chứng tỏ rằng ngực của họ là phẳng. Và, điều đó tạo ra hình ảnh Maiko thuần khiết.

Yukata là một loại kimono được làm bằng vải Cotton. Được sử dụng như trang phục mùa hè, thiết kế của yukata bình thường hơn một chút và không yêu cầu bất kỳ đồ mặc bên trong nào.

Obi (thắt lưng) có thể được buộc ở phía sau theo nhiều cách khác nhau. Và, mỗi cách buộc nó đều có một ý nghĩa khác nhau. Geishas trưởng thành và có kinh nghiệm có dây thắt lưng ngắn hơn, trong khi geishas học việc chủ yếu sử dụng dây thắt lưng dài hơn.

Kimono dành cho nam thường không có họa tiết và có màu tối, đơn giản. Ngoài ra, nó có một dải thắt lưng nhỏ, có hoa văn đen trắng, được định vị một cách hoàn hảo để tôn lên vòng bụng to của người đàn ông. Ở Nhật, một người đàn ông bụng to càng có địa vị xã hội cao.

Kimono dành cho phụ nữ có nhiều màu sắc hơn với dây thắt lưng lớn hơn và có họa tiết hoa bắt mắt.

Kimono được thiết kế với tay áo dài để gió thoảng qua. Điều này về cơ bản làm người mặc cảm thấy thoải mái hơn cũng như trông hấp dẫn hơn.

Kimono được làm bằng vải rộng 36 cm.

Hầu hết các cô gái trẻ với khuôn mặt trắng bệch trên đường phố của thành phố mà bạn nhìn thấy vào ban ngày có thể là những du khách châu Á ăn mặc thành Maikos (geishas học việc). Maiko thật thường không đi ra ngoài cùng một nhóm và để tóc thật thay vì đội tóc giả. Chưa kể, họ chỉ được tô môi dưới, có họa tiết theo mùa trên trang phục và luôn mang theo hoa theo mùa. Và, họ không mặc kimono có thiết kế toàn màu đỏ.

chúng mình tổng hợp

Đăng bởi: Hồ Nhật Đại

Từ khoá: Những sự thật thú vị về Kimono Nhật Bản

15 Sự Thật Thú Vị Nhất Về Loài Dơi

Thông tin khái quát

Dơi là một loài động vật có vẻ ngoài khi bay rất giống nhau nhưng để nhận ra sự khác biệt giữa chúng là về kích thước. Kích thước của loài dơi phụ thuộc vào biến thể về ngoại hình của từng con. Loài dơi nhỏ nhất là dơi mũi heo Kitti, mức độ chiều dài trung bình từ 29 -34mm và chúng được xếp vào những loài động vật có vú nhỏ nhất hành tinh. Bên cạnh đó, loài dơi lớn nhất là họ cáo bay với độ bao phủ của bộ cánh lên đến 1,7 mét và trọng lượng 1kg tương đương 2,2 pound.

Các loài dơi rất khác nhau về màu sắc và kết cấu lông, màu da của chúng không đồng nhất về một loại màu sắc. Với hơn 1.200 loài dơi khác nhau có thể thấy sự đa dạng về sắc là rất lớn. Nhìn chung màu da của nó chủ đạo vẫn là những gam màu tối như xám đen, hoặc nâu có những con có màu vàng cam và kết hợp với các đốm vàng và đỏ.

Hình dáng khuôn mặt, chủ yếu làm tai và mõm có kết cấu khác nhau giữa các họ gia đình và chủ yếu là giữa các chi. Trong một số gia đình, một đặc điểm có kết cấu chính có nhiều thịt được gọi là lá mũi bao quanh lỗ mũi. Hình dáng cánh của loài dơi thực chất là cánh tay của chúng, trong tiếng Hy Lạp cổ đại loài dơi có nghĩa là cánh tay bởi vì dơi có bốn ngón tay dài và một ngón tay cái, mỗi ngón được nối với nhau bằng một lớp màng như chúng ta thường thấy ở chân của vịt và ngỗng.

Đặc thù của loài dơi là kiếm ăn vào ban đêm và ngủ vào ban ngày, khi ngủ chúng thường treo ngược thân mình lơ lững rồi bám vào vách thường hay vách núi và gấp gọn cánh bao quanh người như một bộ kén bao bọc thân thể chúng. Loài dơi rất ưa bóng tối vì vậy chỗ ngủ hay trú ẩn của chúng thường là những vách núi hay các hang động thậm chí là mái nhà của chúng ta.

Dơi là loài có tính xã hội

Thông tin khái quát

Các kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy, dơi là loài động vật thông minh và có tính xã hội. Sau khi hình thành bầy đàn, loài dơi Bechstein’s sẽ chia ra những nhóm nhỏ, gồm khoảng 20 con. Các con dơi cũng có thể rời một nhóm để gia nhập nhóm khác nếu mối quan hệ trong bầy bị rạn nứt. Nhờ vào sự khác biệt trong tiếng rít, dơi có thể nhận ra các thành viên trong nhóm với nhóm khác. Thậm chí nếu không gặp trong một thời gian dài, dơi vẫn có thể tìm cách trở về với các thành viên trong “gia đình”.

Ngoài ra, đây là loài có thời gian ngủ đông tương đối dài. Thời gian ngủ đông của loài dơi thường kéo dài hàng tháng, thậm chí có thể dài hơn so với thời gian ngủ đông của loài gấu. Hơi thở của dơi chậm dần cho đến khi nhịp tim của giảm xuống còn 25 nhịp mỗi phút (trong khi nhịp tim trung bình của loài dơi là 400 nhịp mỗi phút). Nhiệt độ cơ thể chúng hạ thấp để phù hợp với không khí xung quanh, đôi khi có thể hạ thấp dưới mức đóng băng.

Nhiều loài dơi ở Mỹ có thể bay hàng trăm km trong khi di cư theo mùa để tìm kiếm một hang động ngủ đông. Vào tháng 11 hàng năm, hơn 8 triệu con dơi ở châu Phi sẽ di cư đến khu vực công viên quốc gia Kasanka, Zambia. Thiết bị theo dõi được gắn vào các con dơi cho thấy chúng đã di chuyển khoảng 950 km trong một tháng.

Dơi là loài có tính xã hội

Dơi vương miện có kích thước lớn bằng cơ thể con người

Dơi là loài có tính xã hội

Nhiều người không tin vào mắt mình trước kích cỡ to lớn của con dơi. Một số ý kiến còn cho rằng sinh vật này không phải là dơi mà là “quái vật” vì quá khổng lồ. Tuy nhiên, sự thật là sinh vật này hoàn toàn có thật. Theo đó, chúng là loài dơi có nguồn gốc từ Philippines, được gọi là dơi “cáo bay vương miện vàng khổng lồ”. Chúng cũng được gọi là dơi vương miện vàng, là một loài ăn quả thuộc họ dơi megabat lớn nhất thế giới.

Dơi vương miện vàng có chiều dài cẳng tay dài nhất trong số các loài, kích thước lên tới 21,5cm. Sải cánh của chúng cũng có độ dài ấn tượng từ 1,5 đến 1,7 mét, đủ để bao phủ một con người có kích thước trung bình. Bản thân dơi vương miện vàng cũng có thể nặng tới 1,4kg.

Trong khi nhiều người cho rằng những con dơi này khá đáng sợ thì chúng lại hoàn toàn vô hại. Dơi vương miện vàng chủ yếu ăn trái cây, lá cây và nguồn thực phẩm chính của chúng là quả sung. Những con dơi này dành phần lớn thời gian trong ngày để ngủ vì chúng cũng sống về đêm như những loài dơi khác.

Giống như tất cả các loài dơi megabat, dơi vương miện vàng khổng lồ không thể định vị hoặc sử dụng âm thanh tần số cao để điều hướng. Bù lại, chúng có thị lực tốt và sử dụng thị lực để bay cũng như tìm kiếm thức ăn. Đôi cánh lớn của chúng có chức năng kép: ngoài việc cho phép nó bay ở tốc độ cao, đôi cánh còn bảo vệ nó khỏi cái lạnh bằng cách bao phủ toàn bộ cơ thể vào mùa đông. Và khi trời rất nóng, loài dơi này vỗ cánh để hạ nhiệt độ cơ thể.

Loài dơi “cáo bay vương miện vàng khổng lồ” hiện đang được bảo vệ bởi công ước quốc tế và nằm trong danh sách các loài động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng. Tuy nhiên, ngay cả khi loài dơi này được luật pháp Philippines và luật pháp quốc tế bảo vệ, nạn săn bắn, buôn bán chúng vẫn diễn ra, khiến chúng biến mất hoàn toàn khỏi nhiều hòn đảo ở Philippines như Panay và nhiều khu vực của Cebu.

Thức ăn của dơi

Dơi vương miện có kích thước lớn bằng cơ thể con người

Nguồn thức ăn của dơi tuỳ thuộc vào chủng loại của loài dơi nhưng thức ăn chính vẫn là côn trùng. Nhờ khả năng bay nhanh vì vậy những loài côn trùng không phải là đối thủ nặng kí của dơi, chúng thu thập từ một bề mặt của các hồ chứa, thân và lá cây. Những loài dơi sống ven vành đai nhiệt đới chủ yếu nguồn thức ăn là những hoa quả chín, và chúng ta có thể thấy hằng ngày trên thực tế của cuộc sống như dơi ăn: nhãn, hay ổi hoặc là hồng… Đồng thời phấn hoa, mật hoa, chim cỏ, thằn lằn hay động vật giáp xác cũng là nguồn thức ăn phong phú của loài dơi.

Trong vùng đất Moscow, những người làm nông trại hay làm vườn đã có một đầu óc sáng tạo khi dụ những loài dơi này vào các ô đất và nhiệm vụ của chúng là tiêu diệt côn trùng gây hại và thụ phấn cho cây.

Ở một số nơi trên thế giới người ta tìm thấy nhiều chủng loại dơi ăn thịt như: chim, ếch, thằn lằn và những con gà nhỏ – tất cả điều này được bao gồm trong chế độ thức ăn của dơi ăn thịt. Những chủng loại hay các thể này có sự khác nhau về ngoại hình so vơi các cá thể ăn sâu bọ: chúng có thân hình bành trướng hơn hẳn kết hợp cùng hàm răng sắc nhọn và khả năng kết liểu con mồi tốt nhờ bộ cánh rộng của nó.

Hàng năm người ta không tìm thấy các loài dơi xuất hiện vào mùa đông bởi vì chúng đã chìm vào giấc ngủ đông, thời điểm đi săn mạnh nhất của dơi rơi vào khoảng điểm mùa thu, vì đây là giai đoạn mà chúng cần tích trữ đồ ăn hay tích trữ chất béo, vì trước khi lạnh, khi đó rất khó để tìm kiếm thức ăn. Một đặc điểm khá thú vị khi dơi rơi vào trạng thái ngủ đông thì quá trình trao đổi chất hay nhiệt độ của cơ thể giảm xuống sâu đáng kể đến mức chúng đóng băng theo nghĩa đen.

Khả năng quan sát của dơi

Thức ăn của dơi

Mắt của loài dơi đêm có hai loại tế bào hình nón để quan sát ánh sáng ban ngày và phân biệt màu sắc. Các nhà khoa học tại Viện nghiên cứu não Max Planck, Frankfurt và đại học Oldenburg đã phát hiện các tế bào nón và sắc tố thị giác ở hai loài dơi ăn phấn hoa. Với kỹ thuật ghi điện đồ võng mạc, họ thấy khả năng cảm nhận tia cực tím tăng lên trong các điều kiện ánh sáng kích thích tế bào nón.

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng mắt dơi có cấu tạo thích ứng cho cả việc nhìn trong ánh sáng ban ngày cũng như trong điều kiện tia cực tím. Nón mắt nhạy cảm với tia UV mang lại nhiều lợi ích cho dơi, bao gồm tăng cường khả năng định hướng bằng thị giác khi chạng vạng, tránh kẻ thù ăn thịt, và phát hiện những bông hoa phản chiếu tia UV (đối với cacs loài dơi kiếm ăn trên mật hoa).

Đối với dơi, thị giác rất quan trọng trong cả lúc kiếm ăn và nghỉ ngơi, cũng như trong việc trốn tránh kẻ thù. Khả năng quan sát ở điều kiện ánh sáng yếu (khi các mức sáng kích thích đồng thời cả tế bào hình que và tế bào hình nón) thường được phát huy lúc sáng tinh mơ, khi chạng vạng tối hoặc trong đêm sáng trăng. Đối với cả hai loài dơi trong nghiên cứu này, khả năng cảm nhận tia cực tím làm tăng mức thành công trong khi kiếm mồi, do rất nhiều loài hoa là thức ăn của dơi phản chiếu tia cực tím.

Khả năng quan sát của dơi

Dơi rất đa dạng về giống loài

Khả năng quan sát của dơi

Bộ dơi là một trong những bộ có số lượng loài đa dạng nhất trên thế giới. Đến nay, các nhà khoa học phát hiện khoảng 1240 loài dơi khác nhau. Số lượng loài dơi chiếm khoảng 20% động vật có vú trên hành tinh, tương đương với tỷ lệ cứ 5 loài động vật thì có 1 con dơi. Riêng ở Mỹ, các chuyên gia đã phát hiện hơn 50 loài dơi khác nhau.

Tất cả các cá thể dơi trên trái đất, gồm khoảng 1200 loài, được chia thành 2 phân bộ chính là: Megachiroptera (dơi lớn) và Microchiroptera(dơi nhỏ). Bên cạnh sự đa dạng về loài, dơi cũng rất đa dạng về kích thước, từ loài dơi Acerodon jubatus khổng lồ với sải cánh lên đến 1,5 mét, cho đến thành viên tí hon- dơi Itty Bitty- sở hữu sải cánh chỉ vỏn vẹn 15 cm. Được biết, hầu hết các loài dơi đều ăn trái cây và sinh vật nhỏ. Tuy nhiên, vẫn tồn tại 3 thành viên của bộ Dơi có khả năng hút máu, có lẽ đây cũng chính là lý do mà loài động vật này bị gắn với hình tượng ma cà rồng.

Loài dơi cổ này có cách bay và ngoại hình khác với loài những loài dơi ngày nay. Onychonycteris có móng trên cả năm đầu ngón mỗi chi trước, trong khi các loài dơi hiện đại có nhiều nhất hai móng. Chúng cũng có chi sau dài hơn và cẳng tay ngắn hơn dơi ngày nay, thuận tiện cho việc bám lên cành cây. Đôi cánh ngắn, rộng không làm chúng bay nhanh và xa như dơi hiện đại. Mặc dù đập cánh nhưng Onychonycteris cũng chỉ lượn từ cây này sang cây khác, phần lớn thời gian chúng chỉ leo và bám trên cây.

Dơi là loài động vật có vú duy nhất biết bay

Dơi rất đa dạng về giống loài

Dù có khả năng bay lượn nhưng dơi là một loài động vật có vú chính hiệu 100%. Theo đó, qua quá trình tiến hóa, loài thú này đã hình thành lớp da mỏng kết nối chi trước với cơ thể, hình thành một đôi cánh đặc biệt, giúp chúng có thể tiếp cận bầu trời. Ngoài khả năng bay lượn, dơi vẫn giữ lại hầu hết những nét đặc trưng của động vật có vú, đặc biệt là việc nuôi con non bằng sữa mẹ.

Dơi là loài động vật có vú duy nhất biết bay

Tập tính sinh sản của dơi

Dơi là loài động vật có vú duy nhất biết bay

Như thông số ở trên thì dơi là loài động vật có vú vì vậy chúng có hình thức sinh sản là đẻ con thay vì đẻ trứng và nuôi con bằng sữa mẹ. Dơi con khi không được chăm sóc thường sẽ rơi xuống đất. Thời kì sinh sản của chúng rơi vào đầu mùa hè khi nguồn thức ăn phong phú và đầy đủ. Khi sinh thì dơi con sẽ bám víu mẹ và loài dơi phát triển rất nhanh cho nên gây cản trở rất lớn tới dơi mẹ khi bay hoặc tìm kiếm thức ăn. Vì vậy mỗi năm dơi mẹ chỉ sinh một con và để dễ dàng thuận tiện nuôi chúng.

Trong ba tuần lễ dơi có thể phát triển đầy đủ nhưng chưa hoàn chỉnh, khi sinh ra chúng thường sống trong các hang động, cây cối hay cọc gỗ.

Dơi con thường bị rơi xuống đất khi không được chăm sóc. Tuy nhiên dơi con có thể bám vào mẹ và cùng di chuyển, dơi con phát triển nhanh nên sẽ rất khó khăn nếu dơi mẹ phải mang một lúc nhiều con. Đó là lý do tại sao 1 năm dơi mẹ chỉ sinh 1 lần.Khả năng bay là bẩm sinh, tuy nhiên khi mới sinh đôi cánh của dơi quá nhỏ để bay, các loài dơi nhỏ (thuộc phân bộ Microchiroptera) bay được khi chúng được 6 đến 8 tuần tuổi trong khi các loài dơi lớn (thuộc phân bộ Megachiroptera) phải mất 4 tháng mới biết bay. Dơi trưởng thành khi được 2 năm tuổi. Tuổi thọ trung bình của dơi là khoảng 20 năm, tuy vậy số lượng dơi không được nhiều do tỉ lệ sinh thấp.

Tìm hiểu về ngôn ngữ loài dơi

Tập tính sinh sản của dơi

Theo các nhà khoa học Mỹ, việc tìm hiểu cơ chế mà loài dơi sử dụng để giao tiếp với nhau bằng thanh âm có thể giúp tìm ra những liệu pháp mới để điều trị rối loạn ngôn ngữ ở con người. Hàng đêm ở miền Trung bang Texas (Mỹ), hàng ngàn con dơi vừa bay lượn vừa trỗi lên những giai điệu bao gồm những âm tiết phức tạp – nhưng ở tần số quá cao nên con người không thể nghe được.

Dơi chủ yếu phát ra tiếng kêu ở tần số vượt quá giới hạn cao nhất mà tai người có thể nghe được. Thi thoảng thì con người mới nghe được chút ít “tiếng hát” của dơi – tất nhiên đó là những âm tiết ở tần số vừa đủ nghe. Loài dơi có khả năng phát ra sóng siêu âm và dựa vào sự dội lại của sóng âm để định hướng và nhận biết được vị trí và khoảng cách của các vật thể quanh chúng. Khi tần số sóng siêu âm của dơi càng cao, chúng càng phát hiện được nhiều chi tiết hơn về môi trường xung quanh.

Dơi giúp hoa thụ phấn

Tìm hiểu về ngôn ngữ loài dơi

Giống như ong và một số loài chim, dơi cũng là loài động vật góp phần quan trọng trong việc giúp cây thụ phấn hoa và phát tán hạt. Để giúp hoa thụ phấn, chúng di chuyển xung quanh bông hoa, uống mật hoa, di chuyển phấn giữa các cây và phát tán hạt. Theo nghiên cứu, loài dơi giúp khoảng 72 loài cây thuốc và nhiều loại cây khác, duy trì sự sống bằng cách phát tán hạt và thụ phấn cho hoa.

Ngoài ra, trong nông nghiệp, loài dơi được đánh giá là một trong những công cụ giúp người nông dân diệt trừ côn trùng gây hại cho các loại cây trồng. Trong khi phần lớn những loài này côn trùng như sâu bướm hay bọ cánh cứng đều có tác động tiêu cực đến hoạt động trồng trọt, thì thức ăn chủ yếu và ưa thích của dơi lại chính là các loài côn trùng này. Theo ước tính của các nhà nghiên cứu, loài dơi có thể “cứu” hàng chục tỷ USD mỗi năm cho nông dân ở Mỹ.

Tuy nhiên, dơi rất sợ nước và bất đắc dĩ mới bay khi mưa. Bằng các đo lường chính xác các nhà khoa học đã giải thích hiện tượng này. Theo LiveScience, các nhà khoa học đã biết được vì sao loài dơi rất sợ nước và không bao giờ dám bay khi trời mưa. Họ đã tính toán thấy rằng nếu bộ lông dơi bị ẩm ướt thì khi bay, chúng phải tiêu thụ số năng lượng nhiều gấp đôi khi bộ lông khô. Nếu như khi bay bình thường, dơi phải tiêu thụ một năng lượng gấp 10 lần khi nghỉ ngơi thì khi bay dưới trời mưa, con số này sẽ tăng lên 20 lần. Đó là lý do những ngày mưa hay ẩm ướt sẽ thường thấy dơi tập trung nơi vách hang, thậm chí là bay vào nhà.

Loài dơi gieo rắc bệnh tật trên toàn cầu

Dơi giúp hoa thụ phấn

Nhắc tới dơi, chúng ta nghĩ ngay tới loài động vật có khả năng bay lượn cừ khôi trong đêm tối nhờ định vị bằng sóng siêu âm. Nhưng đứng dưới góc độ y học, dơi làm ta nhớ tới một loài vật có hệ miễn dịch siêu việt. Chúng là vật chủ của rất nhiều các virus nguy hiểm: từ Hendra, Nipah, Marburg cho tới Ebola nhưng không hề mắc phải căn bệnh gây ra bởi những virus này. Thậm chí bằng rất nhiều con đường khác nhau, dơi gieo rắc những virus ấy khắp nơi, biến con người thành nạn nhân.

Phần lớn các loại virus đều có mặt trong nước bọt của dơi. Vì vậy, khi cả đàn dơi cùng chia sẻ thức ăn, nguy cơ lây nhiễm virus từ cá thể dơi này sang con khác là rất cao. Hậu quả là rất nhiều cá thể dơi cùng một lúc chứa virus gây bệnh. Nếu những virus này lây tới con người, chúng có thể gây nên một đại dịch lớn, bởi số lượng dơi trên thế giới không ngừng tăng lên.

Các nhà nghiên cứu cũng chứng minh rằng, một lượng lớn cá thể dơi dần dần không còn tìm ăn những đồ ăn trong môi trường hoang dã nữa. Thay vào đó, chúng chuyển sang tìm kiếm đồ ăn sẵn trong các bãi rác thải. Điều này đồng nghĩa với việc chất lượng thức ăn của chúng giảm đi, dơi dễ tiếp xúc với nhiều loại virus cũng như con người hơn.

Sau khi ăn, dơi thải ra ngoài môi trường phân và nước tiểu. Đối với các loài dơi ăn quả, chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy chất thải của chúng dưới các gốc cây khác nhau. Và chắc chắn, virus gây bệnh có mặt trong đó, chờ đợi cơ hội lây nhiễm sang người. Cỏ thường rất phát triển tại những nơi có nhiều phân dơi. Đó cũng chính là nơi con người thường chăn thả gia súc. Chuyên gia Raina Plowright và các đồng nghiệp chỉ ra rằng, chỉ cần bò, ngựa hay bất cứ loại gia súc nào uống nước hay ăn cỏ nhiễm phân dơi đều sẽ trở thành vật trung gian truyền virus.

Điển hình như virus Ebola đã nhanh chóng bùng phát thành dịch bệnh lớn, gây nên nỗi kinh hoàng cho cả nhân loại. Một phần nguyên nhân là do virus trong cơ thể người bệnh thường không phát bệnh ngay lập tức. Khi các triệu chứng phát ra bên ngoài, đó là khi virus đã được truyền đến rất nhiều người khác.

Phân dơi có công dụng làm thuốc nổ

Loài dơi gieo rắc bệnh tật trên toàn cầu

Theo kết quả phân tích của các nhà khoa học, trong phân của loài dơi có chứa rất nhiều muối kali nitrate hay còn được gọi là diêm tiêu. Hóa chất này là thành phần chính trong nhiều loại phân bón. Đồng thời, nó cũng được sử dụng để làm thuốc nổ và ngòi nổ. Trong quá khứ, đặc biệt là cuộc nội chiến Mỹ, phân dơi được coi là một nguồn tài nguyên quan trọng đối với cả hai phe. Bởi vì từ thứ chất thải này, người ta có thể chiết xuất ra diêm tiêu (hợp chất vốn khá khan hiếm) để cung cấp cho quân đội. Đây là nguyên liệu để chế tạo ra diêm tiêu – một loại chất màu đen gây nổ. Chỉ cần hòa phân dơi với nước, sau đó cô đặc lại và sấy khô. Cách chế tạo thuốc nổ từ phân dơi cũng rất thô sơ, người ta dùng phân dơi trong hang động hòa với nước, cô đặc và sấy khô sau đó hòa với bột của than củi để tạo thành hỗn hợp chất nổ. Than củi đóng vai trò là chất khử còn diêm tiêu đóng vai trò là chất oxy hóa.

Bên cạnh đó, phân dơi cũng được ứng dụng y học – làm thuốc chữa bệnh. Một số bệnh được cho là có thể chữa được bằng phân dơi như: bệnh kinh phong, bệnh về mắt, quáng gà, bệnh hôi nách, đốt lên cho uống để cho ra những thai chết trong bụng… Phân dơi cũng có tên gọi khác là dạ minh sa hoặc thiên thử phẩn.

Ngoài ra, phân dơi là phân hữu cơ có hàm lượng chất dinh dưỡng cao. Đặc biệt trong phân dơi có lượng N-P-K khá cao, đặc biệt là hàm lượng Photpho cao nhất. Đây được xem là điều khác biệt nhất của phân dơi so với các loại phân hữu cơ khác. Ngoài ra trong phân dơi có chưa các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng. Trong phân dơi có chứa vô số các lợi khuẩn có lợi cho đất và tiêu diệt các loại côn trùng có hại cho cây. Chính vì những khác biệt trên mà phân dơi được nhiều người tìm kiếm để mua.

Trong phân dơi có chứa các vi khuẩn có lợi cho sự phát triển của cây trồng, có thể ngăn chặn được cac loại côn trùng gây hại cho đất nên khi sử dụng phân dơi, mọi người sẽ không phải sử dụng các loại thuốc hóa học khác. Do đó việc trồng các loại cây rau ăn quả vô cùng tiết kiệm cho các khoản chi phí hóa học khác mà lại đảm bảm lượng rau hoa quả cực kỳ tươi sạch. Một hệ vi khuẩn có lợi đa dạng sẽ giúp cho vùng đất rất thích hợp cho cây trồng phát triển. Cải tạo môi trường đất, thân thiện với môi trường, chất lượng sản phẩm tươi ngon, an toàn cho người dùng là tất cả những gì phân dơi mang lại cho người dùng khi bón cho cây trồng.

Loài dơi trong văn hóa và đời sống con người.

Phân dơi có công dụng làm thuốc nổ

Hình ảnh con dơi được nhân hóa và sử dụng nhiều qua phim ảnh và các câu chuyện. Theo một số tín ngưỡng và mô tả thì dơi là một loài vật hút máu và độc ác nhưng trong phim ảnh dơi lại được nhân hóa trở thành một siêu anh hùng giải cứu loài người.

Trong văn hóa của những người Á đông thì hình ảnh con dơi lại thường được sử dụng để trang trí nhờ quan niệm rằng loài dơi sẽ mang lại nhiều may mắn.

Dơi bay khác loài chim như thế nào?

Loài dơi trong văn hóa và đời sống con người.

Trong khi loài chim có kỹ thuật bay phổ biến nhất ở loài động vật có xương sống, loài dơi vẫn có thể bay dễ dàng mà không cần lông vũ. Nhà nghiên cứu Thụy Điển Anders Hedenstrom và các cộng sự thuộc Trường Đại học Lund đã quyết định thử nghiệm cách bay của loài dơi nhờ một lớp màng đàn hồi trên đôi cánh. Khi quạt cánh lên phía trên, loài chim có thể tách lông vũ ở rìa cánh để không khí đi qua và giảm lực cản. Với chiếc màng đàn hồi căng ra, loài dơi không có tiện ích này.

Các nhà nghiên cứu đã đặt những con dơi Glossophaga Soricina trước một ống thổi. Với tốc độ yếu, loài dơi uốn nhẹ cánh và lợi dụng sự di chuyển của không khí để tăng sức đẩy. Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng, khi bay với tốc độ nhanh hơn, chúng hơi xếp cánh để giảm lực cản.

Khi cho vào ống thổi những hạt bụi, tiến sĩ Hedenstrom và các cộng sự đã tái tạo các chuyển động gió do loài dơi tạo ra khi đang bay. Mỗi chiếc cánh tạo ra một chuyển động gió xoáy và duy trì chuyển động này trong khi bay, trong khi ở loài chim, hai chuyển động gió xoáy đã nhập lại thành một nhờ đuôi chim.

Kỹ thuật bay ở tốc độc chậm và rẽ nhanh nhẹn của loài dơi đã gây sự chú ý của các kỹ thuật viên chuyên chế tạo máy bay do thám nhỏ điều khiển từ xa tại các khu đô thị. Đây không phải là lần đầu tiên các kỹ sư khoa hàng không quan tâm đến loài dơi. Trong những năm 1880, chiếc phi cơ Éole đầu tiên của kỹ sư người Pháp Clément Ader từng được trang bị những chiếc cánh kiểu dơi với màng đàn hồi.

Vì sao dơi treo ngược cơ thể khi ngủ?

Dơi bay khác loài chim như thế nào?

Khi nghỉ ngơi hoặc ngủ, dơi luôn treo ngược mình lên, đầu chúc xuống phía dưới, dùng vuốt của hai chi sau móc vào khe hở của vách đá, tường, xà nhà… Khi đi vào một hang núi lớn hiếm có vết chân người, ta thường phát hiện trên đỉnh vách hang treo hàng trăm con dơi. Hang núi lớn chính là nơi dơi thích cư trú nhất. Rất nhiều con dơi còn thích sống ở trong nhà bỏ hoang hoặc dưới mái hiên nhà, khi chúng nghỉ ngơi hoặc ngủ, luôn treo ngược mình lên, đầu chúc xuống phía dưới, dùng vuốt của hai chi sau móc vào khe.

Nếu khi chúng ta bắt một con dơi đặt xuống đất, thì có thể thấy nó sẽ dùng vuốt của ngón thứ nhất chi trước và năm ngón của chi sau bò lê lết, cho đến khi trèo lên được một cây gỗ thẳng đứng hoặc trên vách tường rồi từ đó mới bắt đầu giăng cánh bay tiếp. Tại sao dơi không nằm phủ phục xuống hoặc nằm nghỉ ngơi mà lại treo ngược mình lên như vậy?

Khi ngủ, dơi quay đầu xuống dưới và chân bám chắc vào một vật nào đó nhằm cấp đủ máu cho não, giúp chuyển hóa máu chậm lại. Tư thế ngủ này cũng giúp dơi thoát nhanh khi cần thiết. Khác với chim hay côn trùng, đôi cánh da của dơi không đủ lực để có thể dễ dàng nâng chúng từ mặt đất lên không trung. Do đó, lúc nghỉ ngơi, dơi luôn chọn một ví trí ở trên cao để khi cần bay lượn, chúng chỉ việc thả mình xuống, lợi dụng lực cản không khí hỗ trợ cho việc cất cánh.

Để thích nghi với trạng thái nghỉ và cơ chế bay độc đáo, loài dơi tiến hóa để có kích thước nhỏ gọn, tim có thể dễ dàng lưu thông máu ngay cả khi lộn ngược. Ngoài ra, để hỗ trợ lượng lớn oxy cần thiết khi bay, dơi có một trái tim đặc biệt phát triển, lớn gấp 3 lần các loài động vật có vú cùng kích thước khác và có khả năng vận chuyển máu cao hơn. Tâm nhĩ phải của nó rất lớn, khi tâm nhĩ phải giãn ra, nó có thể bơm rất nhiều máu tĩnh mạch.

Trong khi con người hay các loài vật phải nắm chặt và sử dụng năng lượng cơ bắp để nắm lấy thứ gì đó, nhưng dơi thì không. Móng vuốt của chúng độc đáo ở chỗ chúng không dùng năng lượng để bám vào vật thể. Ngoài ra, khi mùa đông đến, dơi cũng có tư thế treo ngược mình lên để ngủ đông, như vậy có thể giảm bớt được sự tiếp xúc với đỉnh hang lạnh giá. Hoặc có một số con dơi có thể vùi đầu và thân vào trong màng cánh, cùng với bộ lông mềm mọc dày trên mình nó có thể có tác dụng ngăn cách hẳn với không khí lạnh ở bên ngoài.

Dơi có thể treo ngược trong thời gian dài, bao gồm cả trong thời gian ngủ đông và thậm chí sau khi chết. Một số loài dơi có thể ngủ đông từ năm đến sáu tháng và sống sót thông qua một lượng mỡ nhỏ mà cơ thể dự trữ. Thông thường, dơi bắt đầu hoạt động vào khoảng hoàng hôn và rời khỏi tổ để săn tìm thức ăn.

Đăng bởi: Nguyễn Trọng Đức

Từ khoá: 15 Sự thật thú vị nhất về loài dơi

14 Sự Thật Thú Vị Nhất Về Loài Bọ Ngựa

Trong thế giới côn trùng, bộ Bọ ngựa (Mantodea) gồm những loài côn trùng săn mồi có hình dáng đặc thù với cái đầu hình tam giác và cặp càng sắc bén khum khum trước ngực. Nhiều loài bọ ngựa khiến con người ngạc nhiên với vẻ ngoài lạ lùng của mình. Cùng chúng mình tìm hiểu thêm những sự thật thú vị về loài bọ ngựa.

Vòng đời của bọ ngựa

Bọ ngựa trải qua quá trình biến đổi không hoàn toàn gồm 3 giai đoạn: trứng, ấu trùng và trưởng thành. Thời gian hoàn thành vòng đời của bọ ngựa tùy thuộc vào nhiệt độ môi trường.

Trứng: Vòng đời của bọ ngựa bắt đầu với một quả trứng, trứng được sinh ra trước mùa đông. Sau khi giao phối, bọ ngựa cái thụ tinh và sản xuất 100-400 trứng. Trứng được đặt ở một nơi an toàn như trên một lá cứng hoặc dưới một gốc cây, trứng cũng có thể được đặt trong một chiếc túi, được gọi là ootheca. Chiếc túi được gắn chặt trên cành cây, là một lớp vỏ bảo vệ rất cứng và có khả năng chịu được những thay đổi thời tiết khắc nghiệt. Trứng vẫn chưa nở trong mùa đông nhưng vào giữa mùa xuân khi nhiệt độ ấm lên, ấu trùng sẽ làm nứt vỏ trứng và xuất hiện (sau khoảng 3 – 10 tuần).

Ấu trùng: Khi mới sinh ra, ấu trùng có màu nhợt nhạt, chúng sẽ ở lại quanh vỏ trứng trong một thời gian. Đây là trong giai đoạn ấu trùng sẽ ăn thịt lẫn nhau để lấy chất dinh dưỡng. Sau khi phát tán, chúng sẽ bắt đầu đi săn những con côn trùng nhỏ như ruồi giấm. Ấu trùng trải qua một loạt các giai đoạn tăng trưởng lặp đi lặp lại. Ở mỗi giai đoạn, chúng rụng bộ xương ngoài của mình thông qua một quá trình gọi là lột da, cho phép cơ thể phát triển đến một kích thước lớn hơn. Ấu trùng lột da khoảng 6 lần trước khi chúng bắt đầu giai đoạn tiếp theo của vòng đời. Ấu trùng dễ bị tổn thương bởi các loài ăn thịt lớn khác như dơi, chim và nhện, và không phải tất cả ấu trùng bọ ngựa đều sống sót qua giai đoạn này.

Vị thành niên: Đây là giai đoạn trưởng thành chưa chính thức của bọ ngựa, tuy hình dáng hoàn toàn giống một con bọ ngựa trưởng thành nhưng một số chức năng trong cơ thể vẫn chưa hoàn thiện. Ở giai đoạn này, đôi khi chúng thường lột da, đó là điểm khác biệt so với bọ ngựa trưởng thành. Bọ ngựa ở giai đoạn này có xu hướng chậm chạp trước khi họ lột da và hiếm khi ăn trong thời gian này. Sau mỗi lần lột da, chúng dễ bị tổn thương bởi các tác động bên ngoài và chúng phải trốn ở một nơi nào đó an toàn trong vài giờ để không bị trở thành thức ăn. Quá trình lột da kết thúc vào đầu mùa hè, khi nó đã trở nên cứng cáp và trở thành một người trưởng thành thực sự.

Trưởng thành: Bọ ngựa trưởng thành thường có chiều dài từ 1 – 6 inch (2,5 – 15cm), kích thước khác nhau tùy thuộc vào loài. Con cái dễ dàng phân biệt bởi cái bụng to hơn và cơ thể lớn hơn so với con đực. Ngoài côn trùng nhỏ, bọ ngựa còn lùng sục chim nhỏ, chuột, thằn lằn và ếch cây. Bọ ngựa cầu nguyện có một hành vi khá thú vị khi chúng giao phối với nhau, con cái sẽ cắt đứt đầu của con đực sau cuộc ân ái vì cho rằng cái đầu làm giảm cảm xúc tình dục của cô. Sau khi giao phối, con cái ăn vào phần còn lại của cơ thể con đực. Đến thời kỳ sinh sản, chúng nhanh chóng tìm một nơi an toàn để đẻ trứng, hàng trăm quả trứng được sinh ra và vòng đời của bọ ngựa tiếp tục tiếp diễn. Bọ ngựa cái sẽ chết sau khi đẻ trứng.

Môi trường sống

Vòng đời của bọ ngựa

Màu sắc cơ thể thường mang tích chất bảo vệ ngụy trang phù hợp với màu sắc của cây và nơi sống, loài này có 3 màu cơ bản như đã mô tả ở trên. Thường gặp chúng trên các cây to, cây bụi hơn là trên cây thân cỏ.

Phân bố:

Việt Nam: khắp trên lãnh thổ Việt Nam, theo các tài liệu đã tìm thấy chúng ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, Ninh Bình, Quảng Bình, Đây là loài duy nhất thuộc bộ bọ ngựa Mantodea được đưa vào sách đỏ Việt Nam

Thế giới: là loài phân bố rộng ở cả vùng ôn đới và nhiệt đới thuộc các châu lục: châu Âu, châu Á, châu Phi, thậm chí cả ở Bắc Mỹ và Australia.

Đây là loài côn trùng có lợi nhiều hơn có hại vì chúng tiêu diệt nhiều côn trùng có hại, đặc biệt chúng còn ăn rất nhiều các loài rệp hại cây (Aphididae). Chúng còn làm đẹp cho thiên nhiên. Tuy nhiên đôi khi chúng còn ăn cả ong mật và các loại côn trùng có lợi khác.

Bọ ngựa hầu hết có lợi và các loài côn trùng có ích cho các hoạt động sản xuất của con người vì chúng chỉ ăn các loại sâu bọ và không gây hại cho mùa màng. Tại Trung Quốc, người ta đã quan sát bọ ngựa săn mồi và từ đó nghĩ ra môn Đường lang quyền

Môi trường sống

Một số thông tin thêm về loài Bọ Ngựa có thể bạn chưa biết:

Môi trường sống

Một số thông tin thêm về loài Bọ Ngựa có thể bạn chưa biết:

Bọ ngựa cái thường ăn thịt bạn tình của mình ngay khi chúng đang giao phối

Bọ ngựa bắt con mồi của chúng chỉ trong nháy mắt

Thỉnh thoảng, bọ ngựa còn tấn công cả loài chim ruồi nữa

Nền văn hóa cổ đại khi xưa có tín ngưỡng thờ cúng bọ ngựa

Bọ ngựa có một đôi mắt lồi cùng cái đầu có thể xoay 180 độ

Sau khi ăn con mồi, việc đầu tiên bọ ngựa làm đó là đi rửa đôi chân trước của chúng

Bọ ngựa chỉ ăn thịt sống và thức ăn chủ yếu của loài này là côn trùng

Bọ ngựa có thói quen ăn thịt đồng loại.

Bọ ngựa có 2 mắt nhưng chỉ có 1 tai

Một số thông tin thêm về loài Bọ Ngựa có thể bạn chưa biết:

Một con bọ ngựa cầu nguyện có hai đôi mắt to, làm việc cùng nhau để giúp nó giải mã tín hiệu thị giác. Tuy nhiên, vị thần linh này chỉ có một tai nằm ở dưới bụng, gần chân trước. Điều này có nghĩa là bọ ngựa không thể phân biệt hướng âm thanh. Những gì nó có thể làm là phát hiện siêu âm, hoặc âm thanh được sản xuất bởi echolocating của loài dơi.

Các nghiên cứu cho thấy những bọ ngựa cầu nguyện khá giỏi trong việc trốn tránh loài dơi. Một con bọ ngựa đang bay khi phát hiện ra echolocating sẽ dừng lại, rơi tự do, rơi xuống đất và ẩn nấp trong các bụi rậm để trốn khỏi động vật ăn thịt.

Tuy nhiên, không phải tất cả bọ ngựa đều sử dụng tai, và những loài không thường bay thì chúng không phải chạy trốn kẻ thù bay như loài dơi.

Các hóa thạch hóa thạch đầu tiên của bọ ngựa có niên đại từ kỷ Phấn trắng, khoảng 146-66 triệu năm trước. Những mẫu vật bọ ngựa nguyên thủy thiếu những đặc điểm nhất định so với bọ ngựa ngày nay. Chúng không có pronotum kéo dài, hoặc cổ dài như bọ ngựa ngày nay và chúng thiếu gai trên chân trước.

Thức ăn của bọ ngựa

Bọ ngựa có 2 mắt nhưng chỉ có 1 tai

Bọ ngựa là loài động vật ăn thịt, chúng là những kẻ săn mồi đáng sợ trong tự nhiên và ăn bất cứ thứ gì có thể ăn. Nguồn thức ăn chính của chúng là những loại côn trùng nhỏ như ruồi, muỗi, ong, bọ cánh cứng, gián. Trong môi trường thiếu thốn nguồn thức ăn, chúng có thể ăn thịt lẫn nhau.

Bọ ngựa săn mồi bằng chiến thuật phục kích để bắt mồi. Với tốc độ đáng kinh ngạc của mình, chúng tấn công và bắt giữ con mồi trong nháy mắt với đôi chân trước khỏe mạnh, sau đó nuốt con mồi. Một số loài bọ ngựa lớn ăn những con mồi lớn hơn như cá, nhện, chim, rắn và thậm chí cả chuột.

Nếu bạn nuôi bọ ngựa, hãy cho chúng ăn những thực phẩm sau đây:

Ruồi giấm

Bột gạo

Sâu tơ nhỏ

Ấu trùng ruồi

Bướm đêm

Dế

Châu chấu

Thức ăn của bọ ngựa

Bọ ngựa cái thỉnh thoảng ăn thịt bạn tình

Thức ăn của bọ ngựa

Đúng là những con bọ ngựa cái sẽ ăn người tình của mình. Trong một số trường hợp, bọ ngựa cái sẽ tiêu diệt bạn tình trước khi chúng hoàn thành cuộc giao phối. Hóa ra, một con bọ ngựa đực sẽ là một người yêu hoàn hảo khi bộ não của nó kiểm soát sự ức chế, được tách rời khỏi hạch bụng, điều khiển hành động giao phối thật sự.

Nhưng hầu hết các trường hợp bọ ngựa nuốt sống nhau xuất hiện trong phòng thí nghiệm. Trong tự nhiên, các nhà khoa học tin rằng con bọ ngựa đực có xác suất 30% bị nuốt sống khi giao phối với con cái.

Bọ ngựa là loài săn mồi và con mồi phổ biến của chúng là các loài chân đốt, trong điều kiện tự nhiên, chúng chỉ ăn những con mồi còn sống, nhưng trên thực tế, chúng lại là loài săn mồi lười biếng thụ động, thường nằm mai phục ở đâu đó, đợi con mồi đi ngang qua rồi tấn công bất ngờ.

Tuy nhiên chúng cũng là loài có thói quen ăn uống đa dạng, con mồi của chúng cũng có thể là thằn lằn, ếch, chim nhỏ, cá, và cả chính đồng loại của chúng.

Do đó, bọ ngựa đực trở thành con mồi của bọ ngựa cái cũng là một điều bình thường. Việc ăn thịt bạn tình này sẽ giúp cho con cái có được nhiều protein hơn, lượng protein này hấp thụ vào có thể của chúng rất thấp, thay vào đó, nó được chuyển sang trứng mà con đực vừa mới thụ tinh. Nói cách khác, hành vi ăn thịt bạn tình này sẽ giúp cho những con bọ ngựa con nhận được chất dinh dưỡng chính từ người cha xấu số của mình.

Khả năng tự vệ của bọ ngựa

Bọ ngựa cái thỉnh thoảng ăn thịt bạn tình

Mặc dù đôi chân trước của chúng trông có vẻ dũng mãnh và đáng sợ, nhưng nó không được dùng để tự vệ. Nhà tiên tri này chủ yếu tự vệ bằng cách ngụy trang, ẩn mình vào môi trường thực vật để đánh lừa kẻ thù.

Một số bọ ngựa phản ứng với kẻ thù bằng cách đập đôi cánh của mình làm cơ thể chúng trông lớn hơn để hi vọng kẻ thù sẽ cân nhắc lại.

Loài côn trùng này có thể cắn, nhưng chúng không có nọc độc. Chúng có thể là con mồi của các loài động vật ăn thịt lớn như ễnh ương, rắn và các loài bò sát khác. Thậm chí, chó và mèo cũng có thể nuốt sống chúng, vì thế bạn nên chú ý điều này nếu có nuôi bọ ngựa.

Loài côn trùng này có thể cắn, nhưng chúng không có nọc độc. Kẻ thù của loài bọ ngựa là rắn, ếch và các loại bò sát. Chúng có thể là con mồi của các loài động vật ăn thịt lớn như ễnh ương, rắn và các loài bò sát khác. Thậm chí, chó và mèo cũng có thể nuốt sống chúng, vì thế bạn nên chú ý điều này nếu có nuôi bọ ngựa.

Khả năng tự vệ của bọ ngựa

Bọ ngựa là loài côn trùng duy nhất có khả năng quay đầu 180 độ

Khả năng tự vệ của bọ ngựa

Bạn cố gắng tiến lại gần con bọ ngựa từ đằng sau lưng nó, và có thể bạn sẽ giật mình khi thấy nó quay ngược đầu lại để nhìn bạn. Không có loài côn trùng nào có thể làm được điều này. Bọ ngựa cầu nguyện có một khớp mềm giữa đầu và ngực cho phép họ xoay đầu. Khả năng này, cùng với khuôn mặt dài, và đôi chân trước luôn đưa ra phía trước, hầu hết đều khiến chúng ta khiếp sợ.

Là một loài côn trùng ăn thịt, bọ ngựa sống chủ yếu ở nhiều nước châu Á. Có nhiều ý kiến cho rằng loài bọ ngựa có mối quan hệ gần gũi với gián, châu chấu và dế. Bọ ngựa có thể quan sát một khu vực lớn với khả năng xoay đầu 180 độ.

Ngoài cặp mắt lớn, chúng còn có thêm 3 con mắt nhỏ ở giữa để tăng khả năng phát hiện con mồi. Khả năng này cho phép bọ ngựa nhận diện được những kẻ săn mồi và con mồi một cách nhanh nhất để có hành động phù hợp. Ngoài ra, loài bọ ngựa này còn có khả năng ngụy trang tuyệt vời khi dễ dàng biến mất trong những tán lá xanh. Loài bọ ngựa được nhiều người biết đến vì việc ăn thịt đồng loại, đặc biệt là bọ ngựa cái sẽ ăn thịt bọ ngựa đực sau khi giao phối.

Hầu hết bọ ngựa đều sống trong vùng nhiệt đới

Bọ ngựa là loài côn trùng duy nhất có khả năng quay đầu 180 độ

Cho đến nay, ít nhất 2000 loài được tìm thấy tại các khu vực nhiệt đới. Chỉ 18 loài được tìm thấy tại lục địa Bắc Mỹ. Bọ ngựa thuộc họ Mantidae chiếm đến 80% số lượng trong bộ Mantodea.

Sẽ không dễ dàng để bạn tìm được một con bọ ngựa bản địa ngay tại Mỹ. Bọ ngựa Trung Quốc (Tenodera aridifolia) được tìm thấy gần thành phố Philadelphia (thuộc tiểu bang Pennsylvania) gần 80 năm trước. Con bọ ngựa này được đo dài tới 10cm.

Bọ ngựa Châu Âu (Mantis religiosa) có màu xanh lá cây nhạt và có kích thước bằng một nửa của bọ ngựa Trung Quốc. Bọ ngựa Châu Âu được tìm thấy tại thành phố Rochester (bang New York) gần một thế kỷ trước.

Cả bọ ngựa Trung Quốc và bọ ngựa Châu Âu đều sống tại Hoa Kỳ ngày nay.

Bọ ngựa phong lan – khả năng tự vệ tài tình

Hầu hết bọ ngựa đều sống trong vùng nhiệt đới

Là một thành viên trong gia đình bọ ngựa và sinh sống chủ yếu ở những khu rừng mưa nhiệt đới tại các nước Đông Nam Á, đây được xem là một trong những loài động vật có khả năng ngụy trang giỏi nhất thế giới. Nhìn bề ngoài, nhiều người sẽ khó có thể phân biệt loài bọ ngựa này và cánh hoa phong lan. Ngoài việc có màu sắc sặc sỡ giống cánh hoa phong lan, loài bọ ngựa này còn có những chuyển động giống như cánh hoa đu đưa trong gió.

Bốn chân của chúng trông giống hệt như những cánh hoa lan, trong khi các cặp chi trước có răng cưa giống như các loài bọ ngựa khác được sử dụng trong việc nắm bắt con mồi. Bọ ngựa phong lan có thể thay đổi được khoảng 90 màu sắc, giữa sắc hồng và nâu, tùy theo màu sắc của hoa lan. Dù có dáng vẻ nhẹ nhàng, yểu điệu nhưng loài bọ ngựa phong lan rất hung dữ và có thể gây ra những thương tích nhỏ cho con người.

Bọ ngựa phong lan cho thấy một số dị hình lưỡng tính rõ rệt so với bất kỳ loài bọ ngựa nào khác, con đực có kích thước chỉ bằng một nửa so với con cái. Bọ ngựa phong lan được ưa chuộng bởi các nhà lai tạo côn trùng, nhưng chúng rất hiếm và đắt tiền. Chúng chỉ cần một khoảng không gian nhỏ, kiếm thức ăn là các côn trùng bay qua bằng cách ngồi và chờ đợi. Chúng có thể thay đổi được 90 màu sắc, giữa sắc hồng và nâu, tùy theo màu sắc của hoa lan. Con đực được cho là trưởng nhanh hơn so với con cái, trừ khi nhiệt độ hạ xuống 15-18 độ C. Con cái phát triển nhanh nhất ở nhiệt độ và độ ẩm cao từ 30 đến 55 C.

Đặc điểm sinh sản

Bọ ngựa phong lan – khả năng tự vệ tài tình

Mùa thu là mùa sinh sản mạnh nhất của bọ ngựa. Sau khi giao phối, con cái sẽ ăn thịt con đực để cung cấp chất dinh dưỡng tăng thêm số lượng trứng. Con cái gắn túi trứng của nó dưới lá hoặc cành cây. Trứng sẽ trải qua mùa đông và nở vào đầu mùa xuân và đầu mùa hè khi nhiệt độ ấm lên.

Vòng đời của bọ ngựa bắt đầu với một quả trứng, trứng được sinh ra trước mùa đông. Sau khi giao phối, bọ ngựa cái thụ tinh và sản xuất 100-400 trứng. Trứng được đặt ở một nơi an toàn như trên một lá cứng hoặc dưới một gốc cây, trứng cũng có thể được đặt trong một chiếc túi, được gọi là ootheca. Chiếc túi được gắn chặt trên cành cây, là một lớp vỏ bảo vệ rất cứng và có khả năng chịu được những thay đổi thời tiết khắc nghiệt. Trứng vẫn chưa nở trong mùa đông nhưng vào giữa mùa xuân khi nhiệt độ ấm lên, ấu trùng sẽ làm nứt vỏ trứng và xuất hiệ

Ấu trùng mới sinh ra từ trứng dài khoảng 4mm. Chúng cần thời gian phát triển để đạt đến hình thái trưởng thành. Trong quá trình này, ấu trùng ăn và ăn, sau đó lột da nhiều lần trong vài tháng cho đến khi trưởng thành.

Bọ ngựa cái ăn thịt cả bạn đời của mình ngay sau hoặc thậm chí ngay khi chúng đang giao phối. Tuy nhiên, hành vi này dường như không ngăn cản con đực sinh sản. Bọ ngựa cái thường đẻ hàng trăm trứng trong một tổ. Những quả trứng nhỏ ấy dần dần nở ra những chú bọ ngựa con với vẻ ngoài giống như phiên bản tí hon của bố mẹ chúng.

Bản năng săn mồi của bọ ngựa

Đặc điểm sinh sản

Loài côn trùng này là những kẻ săn mồi đáng gờm. Chúng có những cái đầu hình tam giác nằm trên cái “cổ” dài. Bọ ngựa có thể quay đầu 180 độ để quan sát xung quanh bằng hai mắt kép lớn và ba mắt đơn khác nằm giữa chúng.

Màu sắc phổ biến của loài bọ ngựa là màu xanh lá cây hoặc màu nâu và được ngụy trang tốt trên các loại cây mà chúng sinh sống, bọ ngựa nằm phục kích hoặc kiên nhẫn rình rập. Chúng sử dụng hai chân trước để ngoạm chặt con mồi với phản xạ nhanh đến mức khó có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Chân của chúng được trang bị thêm những chiếc gai để bắt mồi và ghim chặt nó tại chỗ.

Đặc biệt, với hình dáng giống loài hoa phong lan, bọ ngựa phong lan (Hymenopus coronatus) thường tận dụng lợi thế này để thu hút và bắt gọn con mồi một cách dễ dàng. Trên thực tế, bọ ngựa phong lan không chỉ giống hoa, mà thậm chí còn có vẻ đẹp quyến rũ hơn một số loài hoa thật. Theo các nhà nghiên cứu, cách ngụy trang độc đáo của loài côn trùng này xuất phát từ bộ phận chân có hình dáng giống như cánh hoa phong lan của chúng. Phần chân giống cánh hoa được sử dụng để đánh lạc hướng con mồi, trong khi đó các răng cưa nằm ở cặp chân trước được dùng để bắt con mồi. Bọ ngựa phong lan được coi là một trong số những loài ngụy trang giỏi nhất trong thế giới động vật. Loài này thường sống trong các khu rừng mưa ở các nước Đông Nam Á, chủ yếu là Malaysia và Indonesia.

Đặc điểm cấu tạo

Bản năng săn mồi của bọ ngựa

Bọ ngựa cầu nguyện (Pray Mantid), được đặt tên bởi tập tính của chúng. Pray có nghĩa cầu nguyện, bởi tư thế đứng của chúng như đang chắp tay cầu nguyện một điều gì đó.

Cặp chân trước của chúng có gai, đây là món vũ khí để bắt và giữ con mồi. Phần đầu có khả năng xoay 300 độ, cho phép chúng có tầm nhìn rộng mà không cần di chuyển cơ thể. Bọ ngựa săn mồi chủ yếu nhờ tầm nhìn, vì vậy chúng chỉ hoạt động vào ban ngày.

Họ hàng gần nhất của bọ ngựa là mối và gián, đôi khi 3 loài này còn được xếp hạng vào chung một bộ thay vì cho chúng những phân bộ. Đây là điều cho đến nay vẫn còn là đề tài tranh luận của các nhà sinh vật học.

Con non và trưởng thành đều ăn thịt các loài côn trùng nhỏ khác như ruồi, bướm, ấu trùng, bọ cánh cứng, ong, gián, v.v… Nhưng thức ăn chủ yếu vào mùa hè và đông là lá cây non bởi khi đó côn trùng khan hiếm. Con trưởng thành thậm chí còn ăn cả chim nhỏ, thằn lằn, rắn, chuột. Bọ ngựa thường treo mình lơ lửng trên thân cây hay cành lá chờ con mồi đi ngang qua, rồi dùng hai chân trước có gai nhọn bắt và kẹp con mồi lại (hành động này diễn ra rất nhanh), con mồi sẽ không chết ngay và bọ ngựa ăn dần con mồi khi mồi vẫn còn sống. Đây cũng là điều đặc biệt của bọ ngựa, bọ ngựa không bao giờ ăn những con mồi đã chết. Rất nhiều bọ ngựa cái ăn thịt bạn tình của chúng sau và thậm chí ngay trong khi đang giao phối.

Thông tin mô tả

Đặc điểm cấu tạo

Bọ ngựa hay bọ ngựa cầu nguyện là một nhóm sinh vật lớn trong thế giới côn trùng. Chúng có khoảng 2.200 loài thuộc 9 họ. Trong 9 họ, Mantidae là họ lớn mạnh và có nhiều loài nhất. Bọ ngựa có thể sống trong cả khí hậu nhiệt đới và ôn đới. Cùng Pest-Solutions tìm hiểu về đặc điểm, tập tính, sinh sản và phân bố của loài sát thủ này.

Bộ này gồm các loài bọ ngựa, xuất hiện khoảng từ 20 triệu năm trước. Là loài côn trùng cỡ lớn, dài 40 – 80 mm, có hai cánh trước và hai cánh sau phát triển rộng. Hai cánh sau trông như tấm kính và chỉ ở viền trước trên đầu mút, cánh có màu xanh lá cây nhạt hoặc nâu nhạt.

Đốt ngực trước dạng ống kéo dài và ở phía trong các xư­ơng chậu của đôi chân trước có 1 chấm đen, thường với một điểm nâu sáng ở chính giữa. Đôi chân trước có dạng l­ưỡi kiếm, bờ trong có răng, dùng để bắt mồi và chiến đấu với kẻ thù. Con cái thường lớn hơn con đực (Cái 48 – 76 mm; đực 40 – 61 mm). Màu sắc thay đổi theo màu của nơi ở (nhất là khi rình mồi): màu thường xuất hiện xanh lá cây, màu cỏ úa hoặc vàng, nâu. Chúng có mắt được ghép bởi nhiều tế bào thị giác khác nhau giúp chúng có thể nhìn từ khoảng cách rất xa.

Thông tin mô tả:

Tên Latin: Mantis religiosa

Họ: Bọ ngựa Mantidae

Bộ: Bọ ngựa Mantoptera

Nhóm: Côn trùng

Tuổi thọ trung bình: 1 năm

Thông tin mô tả

Qua bài viết, chúng mình đã cung cấp cụ thể về những điều thú vị của loài bọ ngựa. Hy vọng, những thông tin trên sẽ giúp bạn biết thêm nhiều thông tin bổ ích và lý thú về thế giới động vật.

Đăng bởi: Trần Hà

Từ khoá: 14 Sự thật thú vị nhất về loài bọ ngựa

Cập nhật thông tin chi tiết về 17 Sự Thật Thú Vị Về Tình Yêu Mà Nhiều Anh Em Vẫn Chưa Biết trên website Krxx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!